[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
LÊ QUANG BÌNH
MSSV: 1232050011 LỚP: LTDH8TM1
BÁO CÁO THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KINH DOANH XUẤT KHẨU HỒ
TIÊU VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU ĐẾN NĂM 2020
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS. VĂN ĐỨC LONG
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2014
1
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
LÊ QUANG BÌNH
MSSV: 1232050011 LỚP: LTDH8TM1
BÁO CÁO THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KINH DOANH XUẤT KHẨU HỒ
TIÊU VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU ĐẾN NĂM 2020
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2014
2
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
Em xin chân thành cảm ơn tới giáo viên hướng dẫn ThS. Văn Đức Long.
Thầy đã nhiệt tình giúp đỡ, góp ý để nhóm em hoàn thành tốt bài báo cáo thực hành
nghề nghiệp.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa thương mại đã truyền
đạt kiến thức, giảng dạy nhiệt tình với sinh viên, giúp sinh viên có được những kiến
thức căn bản về ngành mình theo học và phục vụ cho bài báo cáo này.
Do kinh nghiệm thực tế của em còn hạn chế nên không tránh khỏi có những
thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô trong khoa
và tất cả mọi người để có thể rút kinh nghiệm và bổ sung những kiến thức mới trong
lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn !
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 1 năm 2014
Lê Quang Bình
4
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
GAP : Những nguyên tắc thực hành nông nghiệp tốt
VPA : Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam
KNNK : Kim ngạch xuất khẩu
KNNK: Kim ngạch nhập khẩu
5
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
MỤC LỤC
6
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa - hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu
khách quan đối với mỗi quốc gia, mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát
triển nền kinh tế. Trong những năm qua, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu
còn hạn chế. Đề tài nêu lên được các nhân tố tác động đến chiến lược xuất khẩu
Hồ tiêu Việt Nam sang thị trường Mỹ ( “một thị trường khó tính” ). Trong các
nhân tố đó, nhân tố nào tác động sâu nhất mà các doanh nghiệp xuất khẩu Hồ tiêu
hiện vẫn còn đang đối mặt sẽ được đem ra phân tích, thảo luận, cuối cùng là đề
7
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
xuất giải pháp nhằm góp phần giúp các doanh nghiệp nhận ra chính vấn đề của
mình nâng cao khả năng cạnh tranh, thu được lợi ích nhất định từ hoạt động xuất
khẩu Hồ tiêu.
Thông qua bài nghiên cứu này chúng tôi muốn tạo ra một thương hiệu quốc
gia áp dụng chung cho toàn ngành Hồ tiêu ở Việt Nam và hệ thống phân phối Hồ
tiêu sang thị trường Mỹ, để có thể góp phần thúc đẩy việc xuất khẩu Hồ tiêu của
Việt Nam không chỉ qua thị trường Mỹ mà còn qua các thị trường tiềm năng
khác.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhận thức được thực trạng xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam vẫn còn tồn tại
nhiều vấn đề khó khăn cần được giải quyết. Nên dựa trên những thông tin tìm
hiểu được cũng như cơ sở học tập thì đề tài nghiên cứu được đưa ra cơ bản nhằm
giải quyết các mục tiêu:
• Phân tích thực trạng sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam
những năm qua.
• Tìm hiểu thị trường Mỹ về sản phẩm Hồ tiêu.
• Định hướng chiến lược xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam sang thị trường Mỹ
đến năm 2020.
• Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam vào thị trường Mỹ đến
năm 2020.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hồ tiêu đen, Hồ tiêu trắng, các hộ dân trồng Hồ
tiêu, các trung gian thu mua, cơ sở chế biến Hồ tiêu, các doanh nghiệp xuất
khẩu,
thể di chuyển qua biên giới hoặc không. Xuất khẩu hàng hóa, theo Luật
Thương Mại 2005, là việc hàng hóa được đưa ra khỏi Việt Nam hoặc đưa vào
khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
riêng theo quy định của pháp luật.
Trong xu thế thế toàn cầu hoá, nền kinh tế thế giới bước vào thế kỷ 21,
thì việc chủ động tham gia hội nhập kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế là vấn đề đang được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm. Với chủ
chương mà Đảng và Nhà nước đề ra là: “ Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế và chất lượng sức cạnh tranh” thì Việt Nam cần phải thực hiện những
biện pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt thực
hiện những giải pháp mở rộng thị trường nước ngoài nhằm tăng cường xuất
khẩu, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế của cả nước. Thương
mại quốc tế đó là một mũi nhọn tiên phong không thể thiếu với bất kỳ một
quốc gia nào đang và đã đi trên con đường phát triển, đặc biệt là trong điều
kiện hiện nay khi mà xu thế hội nhập toàn cầu diễn ra mạnh mẽ và đang là xu
thế chung của nhân loại. Đóng góp vào những thành công để có được một
Việt Nam phát triển như ngày hôm nay, không thể không nói tới hoạt động
xuất khẩu ở nước ta. Vì xuất khẩu có vai trò to lớn trong công cuộc phát triển
kinh tế ở nước ta, hiện nay chúng ta đã có nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực
trong đó có xuất khẩu Hồ tiêu, một loại cây công nghiệp lâu năm. Trong Đại
hội Đảng IX thì Đảng và nhà nước ta vẫn ưu tiên hướng vào mục đích xuất
khẩu, trong đó Hồ tiêu cũng được chú ý phát triển để phục vụ vào mục đích
xuất khẩu, phục vụ quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu của một công ty
Xuất khẩu trực tiếp: phương thức xuất khẩu trực tiếp trong thương mại
quốc tế có thể được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong đó người mua, người
bán trực tiếp gặp mặt (hoặc thông qua thư từ, điện tín, …) để bàn bạc và thỏa
thuận với nhau về hàng hóa, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh
toán … mà không qua người trung gian. Những nội dung này được thỏa thuận
trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hoá. Các thủ tục trong hình thức
này cũng đơn giản hơn, trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải có hợp
đồng phụ trợ như: hợp đồng vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan.
Gia công quốc tế: Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh
thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên
liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế
biến thành ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là
phí gia công). Như vậy, trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn
liền với hoạt động sản xuất.
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương
của nhiều nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng
được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công. Đối với
bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho
11
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về
nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc. Nhiều nước đang
phát triển đã nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền
công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore
Tạm nhập, tái xuất: Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất.
Nhiều nước Tây Âu và Mỹ Latinh quan niệm tái xuất là xuất khẩu những
hàng ngoại quốc từ kho hải quan, chưa qua chế biến ở nước mình. Anh, Mỹ
và một số nước khác lại coi đó là việc xuất khẩu những hàng hóa ngoại quốc
chưa qua chế biến ở trong nước dù hàng đó đã qua lưu thông nội địa. Như
vậy, các nước đều thống nhất quan niệm tái xuất là lại xuất khẩu trở ra nước
ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái
xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu
về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút
được ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Vì vậy
là loại Hồ tiêu chín cây hoặc được thu hái khi rất già, ủ chín sau đó được chế
biến theo cách thức đặc biệt để giữ màu đỏ của vỏ. Hồ tiêu đỏ có màu đỏ
thẫm hơi ngả đen, được sản xuất tại Ấn Độ và tại huyện Chư Sê và Bà Rịa –
Vũng Tàu ( Việt Nam ). Giá trị xuất khẩu của tiêu đỏ sau khi chế biến cao hơn
gấp 3 đến 4 lần so với hat tiêu đen.
Thành phần và công dụng của Hồ tiêu
Thành phần
Hồ tiêu cũng rất giàu vitamin C, thậm chí còn nhiều hơn cả cà chua.
Một nửa cốc Hồ tiêu xanh, vàng hay đỏ sẽ cung cấp tới hơn 230% nhu cầu
canxi 1 ngày/1 người.
Trong tiêu có 1,2-2% tinh dầu, 5-9% piperin và 2,2-6% chanvixin.
Piperin và chanvixin là 2 loại ankaloit có vị cay hắc làm cho tiêu có vị cay.
Trong tiêu còn có 8% chất béo, 36% tinh bột và 4% tro.
Công dụng
Thường dùng hạt tiêu đã rang chín, thơm cay làm gia vị. Tiêu thơm,
cay nồng và kích thích tiêu hoá, có tác dụng chữa một số bệnh như: giảm béo,
trị mụn đầu đen
Hạt tiêu cũng rất giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như beta
carotene, giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa sự hủy hoại các tế bào,
gây ra các căn bệnh ung thư và tim mạch.
1.2.2. Đặc điểm sản xuất – kinh doanh Hồ tiêu Việt Nam.
Đặc điểm về sản xuất Hồ tiêu
Sơ lược quá trình phát triển ngành hàng Hồ tiêu
Ở Việt Nam, cây tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI,
nhưng đến thế kỷ XVII mới được đưa vào trồng (Chevalier, 1925). Đến cuối
thế kỷ XIX, hồ tiêu được trồng với diện tích tương đối khá ở Phú Quốc, Hòn
Chồng và Hà Tiên (Kiên Giang), chủ yếu do người Hoa gốc ở đảo Hải Nam
di cư vào lập nghiệp tại Hà Tiên. Cũng trong khoảng thời gian này và đầu thế
kỷ XX, cây tiêu theo chân các chủ đồn điền người Pháp phát triển lên Bình
Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Trị và Quảng Nam; cây tiêu chỉ mới được
dàng phơi phong trên sân gạch, xi măng, vải bạt.
Vùng Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5
Bắc Trung Bộ + +++ ++
Duyên Hải Trung Bộ + ++ +++ +
Tây Nguyên + ++ +++ ++
Miền Đông Nam Bộ + ++ +++ +
Phú Quốc ++ ++ +
Tổng + ++ +++ ++ +
Ghi chú : + thu hoạch ít ; ++ Thu hoạch tập trung ; +++ Thu hoạch rất tập trung
Bảng 1. Thời gian và tiến độ thu hoạch hồ tiêu của các vùng tiêu Việt Nam
Các sản phẩm chính của ngành hàng hồ tiêu Việt Nam:
14
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
Sản phẩm hồ tiêu Việt Nam hiện nay chủ yếu là hạt hồ tiêu, dưới dạng
hạt khô, có thể là tiêu đen (còn nguyên vỏ lụa) hoặc tiêu trắng hoặc tiêu sọ (đã
bóc vỏ).
Diện tích trồng và năng suất của cây hồ tiêu
Hình 1.1 Diện tích trồng và năng suất của cây hồ tiêu ( Nguồn VPA)
Diện tích hồ tiêu tập trung
chủ yếu ở các tỉnh miền Đông
Nam Bộ (chiếm đến 54% tổng
diện tích hồ tiêu cả nước), tiếp
đến là các tỉnh Tây Nguyên với
23,7% tổng diện tích, còn lại là
các vùng Bắc Trung Bộ, Nam
Trung Bộ và Tây Nam Bộ với
22.3%.
Diện tích trồng tiêu của VN tăng “nóng” nhiều năm qua, kể cả những
vùng không phù hợp để trồng. Theo đó, diện tích tiêu trồng mới trong giai
đoạn 2011-2013 đạt khoảng 2.500ha/năm, nhiều nhất là tại các tỉnh Tây
nông dân trồng tiêu ở Việt Nam thường không bán thẳng sản phẩm hồ tiêu
cho đại lý thu mua, nhà máy chế biến hoặc doanh nghiệp xuất khẩu mà phần
lớn bán cho thương lái (hộ thu gom). Có bốn thành phần chính tham gia trong
kênh thương mại sản phẩm hồ tiêu từ sau khi thu hoạch cho đến khi xuống tàu
tại cảng xuất, gồm : Người trồng tiêu, Người thu gom, Đại lý thu mua và
Doanh nghiệp chế biến tiêu xuất khẩu (gọi tắt là doanh nghiệp) với 2 kênh
tiêu thụ:
(1) Người trồng tiêu-Người thu gom-Đại lý thu mua-Doanh nghiệp chế
biến hồ tiêu xuất khẩu (theo tiêu chuẩn FAQ/ASTA)-Xuất khẩu/Tiêu thụ
trong nước.
(2) Người trồng tiêu-Đại lý thu mua-Doanh nghiệp chế biến hồ tiêu
(theo tiêu chuẩn FAQ/ASTA) -Xuất khẩu/Tiêu thụ trong nước
Phần lớn hộ trồng tiêu thường bán sản phẩm trong vòng hai tháng sau
khi thu hoạch (86%), khoảng 12% số hộ tồn trữ tiêu trong vòng 2-6 tháng và
2% giữ tiêu tại nhà trên sáu tháng. Lý do chính khiến hộ trồng tiêu không tồn
trữ sản phẩm lâu một phần do cần tiền cho sinh hoạt gia đình, trang trải nợ
nần đã đầu tư cho cây hồ tiêu vụ vừa qua, chuẩn bị vốn để đầu tư vụ kế tiếp,
phần khác do nông hộ không có điều kiện tồn trữ và sợ gặp phải rủi ro khi giá
cả biến động. Số nông hộ tồn trữ tiêu trên hai tháng đa phần là hộ giàu và hộ
khá, hoặc những hộ có nguồn thu nhập khác từ hoạt động nông nghiệp/phi
nông nghiệp
16
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
Hình 1.2 Kênh kinh doanh hồ tiêu
Đại lý thu mua thường có kho tồn trữ được 10-50 tấn tiêu, có phương
tiện vận chuyển hoặc hợp đồng phương tiện vận chuyển thường xuyên để chở
tiêu đến bán thẳng cho nhà máy chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh-xuất
khẩu hồ tiêu. Hồ tiêu thu mua từ thương lái hoặc nông hộ, đại lý xử lý theo
hai hướng: hoặc bán thẳng cho doanh nghiệp/nhà máy chế biến, hoặc tiến
hành sơ chế lại sản phẩm, chủ yếu là phơi, sấy cho khô đều, đạt ẩm độ dưới
inđônêxia và là nước xuất khẩu hạt tiêu lớn thứ 2 thế giới sau Inđônêxia. Và
hiện nay, Việt Nam hiện đứng đầu thế giới về sản lượng Hồ tiêu xuất khẩu,
chiếm tới 50% sản lượng tiêu xuất khẩu của toàn thế giới. Hồ tiêu Việt
Nam hiện được xuất khẩu tới gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biệt là
xuất khẩu các loại hàng chất lượng cao vào Mỹ, Nhật và các nước EU ngày
17
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
càng tăng. Hồ tiêu nằm trong số 10 mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất
khẩu lớn nhất việt nam hiện nay.
Xuất khẩu gia vị trong đó có xuất khẩu hạt tiêu hàng năm đã thu nhập
ngoại tệ trên 145-160 triệu USD cho đất nước, đóng góp lớn vào việc chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp, góp phần xoá đói, giảm nghèo,
cải thiện thu nhập cho người nông dân
1.2.4. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam.
Môi trường Kinh tế: Trong đó có môi trường kinh tế vĩ mô và môi
trường kinh tế vi mô.
Môi trường kinh tế vĩ mô, là tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia,
nếu nền kinh tế của một quốc gia đang ở trong giai đoạn suy thoái
về kinh tế hoặc có lạm phát thì sẽ ảnh hưởng đến quá trình mua
sắm, tiêu dùng của người dân nước đó, chính sách kinh tế đối ngoại
của nhà nước, chính sách tài chính tiền tệ của nước đó cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến xuất nhập khẩu khi chính phủ duy trì tỉ giá hối
đoái ở mức cao tức là hạ giá đồng tiền của nước mình xuống sẽ tạo
ra một lực kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, ngược lại
nếu nhà nước áp dụng tỉ giá hối đoái thấp thì sẽ kích thích hàng
nhập khẩu nước ngoài vào thị trường trong nước.
Môi trường kinh tế vi mô, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp Hồ tiêu của các nước khác nhau cùng kinh doanh trên thị
trường nước ngoài ( Indonesia, Ấn Độ, Malaysia …), mỗi quốc gia
đều có những lợi thế cạnh tranh khác nhau, dựa vào đó các doanh
rào thuế quan và phi thuế quan sẽ được cắt giảm đáng kể khi Việt
Nam ký kết các Hiệp định thương mại.
Tăng cường thu hút vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ cao từ
các nước tiên tiến tạo điều kiện để nâng cao chất lượng hàng hoá,
tăng năng xuất lao động hạ giá thành sản phẩm.
Thúc đẩy quá trình đổi mới đất nước đặc biệt là đổi mới cơ chế và
hành chính. Chính việc thực hiện các cam kết và mở cửa thị trường
Việt Nam theo lộ trình của Hiệp định đã ký sẽ là chất xúc tác thúc
đẩy quá trình điều chỉnh, đổi mới cơ chế chính sách, luật pháp và
thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước làm cho các hoạt động này
trở nên năng động, mềm dẻo hơn thích ứng với thông lệ và tập quán
quốc tế, cũng như các nguyên tắc, quy định của các nước trên thế
giới.
Chính phủ Việt Nam có nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ cho
các doanh nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu Hồ tiêu.
1.3.2. Bên cạnh những cơ hội đó là những thách thức, khó khăn
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, giá cả nông sản nói chung và
giá Hồ tiêu nói riêng, ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu
tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ, sự cân bằng ngân sách quốc
gia, tỉ giá, các chính sách thương mại quốc tế và cả đầu tư nước
ngoài. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ khiến cho tất cả các quốc
gia xem xét, điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô và điều này sẽ
lại làm cho giá cả xuất nhập khẩu trở nên khó lường.
Hiện nay giá Hồ tiêu tăng khá cao sẽ kích thích nông dân mở rộng
diện tích sản xuất. Nhà nước cần thông tin sâu rộng cho nông dân
hiểu rằng nếu tăng năng suất và sản lượng cao thì có khả năng cung
sẽ vượt cầu dẫn đến giá cả sẽ giảm thấp. Vì vậy, ngành Hồ tiêu Việt
Nam cần phải ổn định sản xuất, không nên tăng diện tích quá nhanh
và tránh đầu tư tràn lan.
Do mở rộng sản xuất dẫn đến tình trạng sâu bệnh trên cây tiêu khá
các quy định kỹ thuật chặt chẽ… Để phù hợp với các tiêu chuẩn
này vừa khó khăn vừa tốn kém nên xét về mặt kinh tế, vừa thực
hiện vừa duy trì được sức cạnh tranh trên thị trường nước ngoài là
cả vấn đề không nhỏ.
20
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
CHƯƠNG 2:THỊ TRƯỜNG MỸ VỀ SẢN PHẨM HỒ TIÊU
2.1 Giới thiệu về quốc gia Mỹ
Tên nước: Hợp chúng quốc Mỹ (United States of America); Tên
thường gọi: Mỹ
- Ngày quốc khánh: 4/7/1776 (Ngày Độc lập khỏi Anh)
- Thủ đô: Washington D.C
- Diện tích: 9.826.675km2; đứng thứ 4 trên thế giới sau Nga, Canada
và Trung Quốc.
- Khí hậu: Vì Mỹ có diện tích lớn và có nhiều địa hình rộng lớn nên
gần như có tất cả các loại khí hậu. Khí hậu ôn hòa có ở đa số các vùng, khí
hậu nhiệt đới ở Hawaii và miền nam Florida, khí hậu địa cực ở Alaska, khí
hậu Địa Trung Hải ở duyên hải California.
- Dân số: 313.9 triệu người (năm 2012)
- Dân tộc: Người da trắng (81,7%), người da đen (12,9%), người châu
Á (4,2%), người da đỏ và thổ dân Alaska (1%), thổ dân Hawaii và thổ dân các
quần đảo Thái Bình Dương (0,2%).
- Hành chính: Mỹ gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang. 48
tiểu bang nằm lục địa và thủ đô Washington, D.C
- Đơn vị tiền tệ: Đồng đôla Mỹ (USD)
- Tôn giáo: Mỹ có nhiều tôn giáo. Đạo Tin lành (52%), Đạo Thiên
Chúa (24%), Đạo Do Thái (1%), Hồi giáo (1%)
- Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Anh; một bộ phận nói tiếng Tây Ban
Nha, Pháp và nhiều ngôn ngữ khác (theo xuất xứ nhập cư).
- Khoa học và kỹ thuật: Mỹ đã và đang dẫn đầu trong việc sáng tạo kỹ
2.2 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ
Với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, thương mại hàng hóa song
phương Việt Nam-Mỹ trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012 tiếp tục có
những bước khởi sắc đáng kể. Cho đến nay, Mỹ là đối tác lớn thứ hai của Việt
Nam trên toàn thế giới, đứng sau Trung Quốc và là đối tác thương mại lớn
nhất của Việt Nam trong khu vực châu Mỹ.
Số liệu thống kê hải quan cho thấy, nếu như trong năm 2005 và 2006,
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ
chỉ đạt tương ứng là 6,77 tỷ USD và 8,81 tỷ USD thì đến năm 2007, con số
này đã là 11,79 tỷ USD. Tuy chịu ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế thế
giới nặng nề trong các năm tiếp theo, nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
giữa Việt Nam – Mỹ vẫn duy trì ở mức cao. Đến năm 2012, tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng hóa giữa 2 quốc gia đã đạt đến con số 24,49 tỷ USD,
tăng 12,3% so với năm 2011 và gấp 3,6 lần kết quả thực hiện của năm 2005.
Trong đó, xuất khẩu đạt 19,66 tỷ USD và nhập khẩu đạt 4,83 tỷ USD.
Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại
với Mỹ luôn duy trì mức thặng dư lớn.
Cụ thể trong năm 2010, mức thặng dư hàng hóa của Việt Nam trong
buôn bán trao đổi thương mại với Mỹ đã vượt qua con số 10 tỷ USD, cao
gấp 26,5% so với năm trước. Đến năm 2012, nhờ kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang Mỹ cao gấp 4 lần so với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của
cả nước từ thị trường này, mức xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ đã lên tới
14,8 tỷ USD, và dự đoán đến hết năm 2013 là 20.7 tỷ USD.
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Hoa Kỳ ( ĐVT : tỷ USD )
Năm
2005
Năm
2006
Năm
tỷ USD trong đó Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ đạt 23,5 tỷ USD, dự kiến
cả năm sẽ vượt con số 25 tỷ USD và nhập khẩu từ 5 tỷ USD. Như vậy, năm
2013 xuất siêu có thể đạt mức kỷ lục, gần 20 tỷ USD.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ thì có 3 mặt hàng xuất
khẩu chủ lực đó là dệt may, giày dép, gỗ. Trong đó mặt hàng dệt may tiếp tục
đứng đầu về xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ với trị giá xuất khẩu cả
năm 2013 có thể đạt 8,5 tỷ USD, tăng 10,4% so với mức 7,7 tỷ USD của năm
2012, chiếm đến 36% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
này và chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.
Ngoài ra, các mặt hàng như gỗ và sản phẩm của gỗ, hàng thủy sản, giày dép
các loại cũng là những mặt hàng chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, theo Cơ sở dữ liệu thương mại của Liên Hợp Quốc (UN
Comtrade), trị giá buôn bán hai chiều giữa Việt Nam với thị trường này chỉ
chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ
(chưa đển 1%). Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là đối tác xếp thứ 23 về xuất khẩu
hàng hóa và xếp thứ 40 về nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này.
Bảng 3: Thống kê sơ bộ Tổng cục Hải quan xuất khẩu hàng hóa sang
thị trường Hoa Kỳ 11 tháng 2013 – ĐVT: USD
23
[GVHD: ThS. Văn Đức Long]
24
KNXK
11T/2013
KNXK
11T/2012
Tốc độ tăng
trưởng KN (%)
Tổng kim ngạch 24.584.723.574 17.893.330.220 37,40
hàng dệt, may 7.782.067.743 6.809.443.432 14,28
phẩm từ giấy
85.433.725 79.159.044 7,93
Kim loại thường
khác và sản phẩm
83.015.823 62.585.875 32,64
cao su 59.853.932 58.803.227 1,79
sản phẩm từ cao su 49.001.202 44.291.648 10,63
Sản phẩm mây tre,
cói và thảm
47.466.808 37.051.616 28,11
Hàng rau quả 46.942.736 36.017.101 30,33
Nguyên phụ liệu
dệt,may, da giày
45.925.705 *
thuỷ tinh và các sản
phẩm từ thuỷ tinh
42.232.226 39.097.572 8,02
dây điệnvà dây cáp
điện
39.445.037 71.524.997 -44,85
sản phẩm gốm sứ 37.740.161 2.012.843.633 -98,13
xơ sợi các loại 28.997.471 27.534.777 5,31
bánh kẹo và các sản
phẩm từ ngũ cốc
28.798.113 26.462.721 8,83
Gạo 28.194.289 26.014.638 8,38
hoá chất 27.696.440 10.805.458 156,32
sản phẩm hoá chất 19.848.181 17.973.185 10,43
sắt thép các loại 17.134.073 17.454.227 -1,83
Xăng dầu các loại 11.310.507 20.793.206 -45,60
phụ tùng khác
492.605.623 513.021.657 -3,98
máy vi tính, sp điện tử và
linh kiện
396.186.017 719.730.457 -44,95
bông các loại 347.658.782 187.382.677 85,53
thức ăn gia súc và nguyên
liệu
280.576.180 173.381.192 61,83
phế liệu sắt thép 155.260.493 128.194.237 21,11
chất dẻo nguyên liệu 139.300.681 117.511.415 18,54
gỗ và sản phẩm gỗ 137.542.168 134.063.886 2,59
sữa và sp 133.354.837 91.483.776 45,77
sản phẩm hóa chất 122.296.382 97.613.180 25,29
nguyên phụ liệu dệt may, da
giày
119.947.603 100.003.130 19,94
hóa chất 77.744.783 88.936.068 -12,58
phương tiện vân tải khác và
phụ tùng
57.782.349 47.100.572 22,68
đá quý,kim loại quý và sản
phẩm
49.304.504 20.390.959 141,80
25