BỘ CÔNG THƢƠNG
TỔNG CÔNG TY MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ TẠO MÁY NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 2011 Đề tài:
“NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ HỆ THỐNG CƠ GIỚI HOÁ
LIÊN HOÀN VIỆC NHẬP VÀ XUẤT NGUYÊN LIỆU DẠNG HẠT
Ở KHO DỰ TRỮ PHẲNG’’
Mã số: 123.11RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thƣơng
Đơn vị chủ trì: Viện nghiên cứu thiết kế
chế tạo máy Nông nghiệp
Chủ nhiệm đề tài: TS. NGUYỄN ĐÌNH TÙNG
Đề tài:
“NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ HỆ THỐNG CƠ GIỚI HOÁ
LIÊN HOÀN VIỆC NHẬP VÀ XUẤT NGUYÊN LIỆU DẠNG HẠT
Ở KHO DỰ TRỮ PHẲNG’’
Mã số: 123.11RD/HĐ-KHCN
Đơn vị chủ trì
Viện NCTKCT máy NN
Chủ nhiệm đề tài
Viện máy Nông nghiệp
2
Nguyễn Tƣờng Vân
Tiến sĩ kỹ thuật
Nguyên Viện trƣởng
Viện máy Nông nghiệp
3
Nguyễn Đình Quý
KS chế tạo máy
Nghiên cứu viên
Viện máy Nông nghiệp
4
Đỗ Thị Thanh Xuân
Kỹ sƣ điện
Phó trƣởng phòng KT
Viện máy Nông nghiệp Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
4
LỜI CÁM ƠN
bị mất và không sử dụng đƣợc. Ở Việt Nam tỷ lệ đó còn trên cả 13%. Nhƣ vậy
quy ra hàng năm chúng ta mất khoảng 3 5 triệu tấn thóc. Vì vậy việc quan
tâm, nghiên cứu để giảm thiểu tổn thất và bảo quản lúa sau thu hoạch là khâu
rất quan trọng trong quá trình dự trữ lƣơng thực của các Quốc gia.
Hiện nay phƣơng tiện bảo quản lúa gạo ở nƣớc ta chủ yếu là các nhà kho với
kết cấu đơn giản, bên cạnh đó cũng đã có một số các cụm Silo, song công
nghệ lạc hậu, không đảm bảo điều kiện kỹ thuật. Đặc biệt toàn bộ các công
đoạn nhập và xuất nguyên liệu đều đƣợc thực hiện bằng thủ công, sử dụng
sức lao động và các dụng cụ thô sơ nhƣ: “thúng, mủng, cào ” để xuất, nhập
và lƣu chuyển nguyên liệu. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu, thiết kế hệ
thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất nguyên liệu dạng hạt ở kho
dự trữ phẳng” đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay của việc cơ giới hóa trong
khâu bảo quản và dự trữ nông sản (thóc) sau thu hoạch.
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nội dung trong chương này chúng tôi đề cập một số vấn đề chính sau:
Tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới,
Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam hiện nay,
khoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau
cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời
của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không quang cảm, mà tiêu biểu là
giống lúa IR5, IR8. Đến những năm 1990 dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới
là các nƣớc Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) (FAO,
2008) [5-7]. Từ năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năng suất lúa thế
giới liên tục đƣợc cải thiện đạt 4,3 tấn/ha năm 2008, do ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ sinh học
đã và đang phát triển nhanh, mạnh nhƣ hiện nay. Qua đây cho thấy nhìn
chung năng suất ở hầu hết các nƣớc sản xuất lúa gạo đều tăng trong 8 năm (từ
2000 – 2008) [5,6].
Nhìn chung các nƣớc có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế giới, đứng đầu vẫn
là 8 nƣớc Châu Á, đó là: Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái
Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines. Tuy nhiên nói về năng suất chỉ có 2
nƣớc có năng suất cao hơn 5 tấn/ha, đó là Trung Quốc và Việt Nam. Mặc dù
năng suất lúa ở các nƣớc Châu Á còn thấp nhƣng do diện tích sản xuất lớn
nên Châu Á vẫn là nguồn đóng góp rất quan trọng cho sản lƣợng lúa trên thế
giới (chiếm tỉ lệ trên 90%). Nhƣ vậy, có thể nói “không ngoa” Châu Á là vựa
lúa quan trọng nhất Thế giới trong thời điểm hiện nay [6,7].
Bên cạnh việc quan tâm đến năng suất/sản lƣợng lúa chúng ta cần phải quan
tâm cả đối với tình hình sản xuất (xuất khẩu) gạo, vì đây là giai đoạn góp
phần làm nâng cao (tăng) giá trị kinh tế đối với ngƣời sản xuất (trồng lúa). Về
tình hình xuất khẩu gạo xét trong năm 2008, Thái Lan vẫn là nƣớc xuất khẩu
gạo dẫn đầu thế giới 9 triệu tấn hơn Việt Nam đứng thứ 2 (3.8 triệu tấn). Đối
với Việt Nam, nếu xét về cả số lƣợng và giá trị, chiếm 31% sản lƣợng xuất
khẩu gạo thế giới, và 38,8% sản lƣợng xuất khẩu gạo của châu Á (mặc dù
năng suất lúa chỉ khoảng 3 tấn/ha), ƣu thế này do có thị trƣờng truyền thống
rộng hơn, và chất lƣợng gạo cao hơn. Ngoài ra các nƣớc nhƣ Pakistan, Mỹ,
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM
quốc tế (IDB) sẽ là 6,8 tỷ năm 2011, châu Á chiếm khoảng 60,3% dân số thế
giới khoảng 4,1 tỷ, châu Phi 1 tỷ chiếm 14,7%, châu Âu 731 triệu chiếm 11%,
Bắc Mỹ 514 triệu chiếm 8%, Nam Mỹ 371 triệu chiếm 5,5%, Châu Úc 21
triệu chiếm 0,3 %. Theo thống kê của FAO năm 2009 đã có 1,02 tỷ ngƣời
thiếu đói (chiếm 14%) tập trung ở hai khu vực chính là Châu Á và Châu Phi.
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
9
Ngoài ra theo nguồn số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (năm 2007) cho thấy,
tổng nhu cầu tiêu thụ gạo trung bình hằng năm của cả thế giới ƣớc tính từ 410
triệu tấn (năm 2004-2005), đã tăng lên đến khoảng 424,5 triệu tấn (năm
2007), trong khi tổng lƣợng gạo sản xuất của cả thế giới luôn thấp hơn nhu
cầu này. Cũng theo cơ quan này, hằng năm thế giới thiếu khoảng 2-4 triệu tấn
gạo, đặc biệt năm 2003-2004 sự thiếu hụt này lên tới 21 triệu tấn [5,7].
Từ tìm hiểu và phân tích nhƣ trên cho thấy nhu cầu thiếu lúa gạo trên Thế giới
có xu hƣớng ngày càng tăng, vì tốc độ tăng dân số nhanh dẫn đến nhu cầu lúa
gạo lớn, trong khi sản lƣợng lúa gạo sản xuất ra chƣa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu
dùng (tiêu thụ) của Thế giới. Qua đó cho thấy việc quan tâm đến kho lƣu trữ
và bảo quản lúa gạo đạt chất lƣợng cao là việc làm cấp bách và là việc cần
phải quan tâm của toàn bộ các ban ngành có liên quan chứ không chỉ của
ngành Nông nghiệp.
1.2 . Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam
Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống có từ thời xa xƣa và đã trở
thành thân thiết lâu đời đối với ngƣời Nông dân, đặc biệt là ở hai khu khu vực
Đồng Bằng Sông Hồng (miền Bắc) và Đồng Bằng Sông Cửu Long (miền Nam).
Bƣớc sang thập niên 1980, năng suất lúa tăng dần do các công trình thuỷ lợi
thế giới, Việt Nam vƣợt trội trong khu vực Đông Nam Á nhờ thuỷ lợi đƣợc
cải thiện đáng kể và áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón,
và bảo vệ thực vật [5].
Cũng theo kết quả thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có tổng sản lƣợng
lúa hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhƣng lại là nƣớc xuất khẩu gạo đứng
thứ 2 (5,2 triệu tấn) chỉ sau Thái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lƣợng
xuất khẩu gạo thế giới, 22,4% sản lƣợng xuất khẩu gạo của châu Á, mang lại
lợi nhuận 1275,9 tỷ USD (năm 2006) [6,7].
Khi đem so sánh diện tích canh tác và sản lƣợng giữa lúa và các cây lƣơng
thực khác ở Việt Nam (năm 2008) thì lúa gạo vẫn là sản phẩm cần đƣợc ƣu
tiên hàng đầu vì chiếm diện tích nhiều nhất cả nƣớc, nhiều hơn bắp (ngô), sắn,
và khoai lang (theo FAO, 2010).
Qua tìm hiểu kết quả phân tích cho thấy, thị trƣờng xuất khẩu gạo chính của
VN trong 15 năm qua, thứ nhất là các quốc gia Đông Nam Á (chiếm khoảng
40-50% lượng gạo xuất khẩu), thứ hai là các quốc gia Châu Phi (chiếm
khoảng 20-30%), một thị trƣờng khá ổn định. Các thị trƣờng khác là Trung
Đông và Bắc Mỹ, nhƣng lƣợng gạo xuất khẩu sang các nƣớc này không ổn
định, đặc biệt là trong giai đoạn 2001-2004. Trong những năm qua, gạo xuất
khẩu của VN tăng trƣởng về số lƣợng và chất lƣợng cũng nhƣ mở rộng thị
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
11
trƣờng. Đến năm 2003, ngoài các thị trƣờng truyền thống của VN nhƣ là
Philipines, Việt Nam đã mở rộng và phát triển thêm một số thị trƣờng tiềm
năng nhƣ Châu Phi, Mỹ Latinh và EU. Yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến các
doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam là ít kinh nghiệm nên thiếu khả
280
275
Thái 25% tấm
245
245
Việt Nam 5% tấm
275
275
Việt Nam 25% tấm
245
245
Ấn Độ 5% tấm
275
-
Ấn Độ 25% tấm
225
235
Pakistan 15-20% tấm
235
-
Pakistan 25% tấm
225
230
Nguồn: [5-7, 18]
Vựa lúa lớn nhất cả nƣớc đồng bằng Sông Cửu Long, từ năm 1975 đến năm
2008 có những bƣớc tiến rõ rệt. Từ vùng lúa nổi mênh mông An Giang, Đồng
Tháp, vùng trũng phèn Đồng Tháp Mƣời, Tứ giác Long Xuyên, với chỉ một
vụ Lúa Mùa, năng suất thấp và bấp bênh nay đã chuyển dần thành vùng lúa 2-
3 vụ ngắn ngày năng suất cao, ổn định, cộng với những hệ thống canh tác đa
và sản lƣợng giữa các năm và giữa vụ Đông Xuân, Hè Thu và Vụ Mùa có
khác nhau, nhƣng nhìn chung là tổng sản lƣợng lúa ngày một tăng đáng kể,
chi tiết hơn về vấn đề này đƣợc trình bày ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam trong giai đoạn mười năm
(từ năm 2000 đến 2009)
Năm
Diện tích (nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Tổng
số
Chia ra
Tổng số
Chia ra
Lúa
Đông
Xuân
Lúa
Hè
Thu
Lúa
Mùa
Lúa
Đông
Xuân
Lúa Hè
Thu
Lúa
Mùa
2000
7666,3
34568,8
16822,7
9400,8
8345,3
2004
7445,3
2978,5
2366,2
2100,6
36148,9
17078,0
10430,9
8640,0
2005
7329,2
2942,1
2349,3
2037,8
35832,9
17331,6
10436,2
8065,1
2006
7324,8
2995,5
2317,4
2011,9
35849,5
17588,2
9693,9
(), download tháng 3.2011
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
14
1.3 . Tình hình giảm tổn thất sau thu hoạch và chính sách của nhà nƣớc
về vấn đề này
Thông qua bảng 1.2 nhƣ trên đây cho thấy sản lƣợng lúa gạo của Việt Nam
ngày một tăng dần và ngày càng đem lại giá trị kinh tế trong sản xuất nông
nghiệp cho ngƣời nông dân trồng lúa. Tuy nhiên giá trị kinh tế của sản phẩm
(lúa gạo) và tổng sản lƣợng đó còn có thể tăng lên hơn nữa nếu nhƣ chúng ta
có các biện pháp và quan tâm đúng mức hơn đến vấn đề giảm tổn thất sau thu
hoạch, cụ thể cần phải có chiến lƣợc cụ thể về giảm tỉ lệ tổn thất sau thu
hoạch, theo số liệu nghiên cứu của FAO cho thấy, hàng năm tổn thất về nông
sản sau thu hoạch trên toàn thế giới khoảng 13% tƣơng đƣơng với 13 triệu tấn
lƣơng thực bị mất và không sử dụng đƣợc. Đặc biệt ở Việt Nam tỷ lệ đó còn
lớn hơn 13%., nếu quy đổi ra hàng năm chúng ta mất khoảng 3 5 triệu tấn
thóc [5-7]. Vì vậy việc quan tâm, nghiên cứu để giảm thiểu tổn thất và bảo
quản lúa sau thu hoạch là khâu rất quan trọng trong quá trình dự trữ lƣơng
thực của Quốc gia.
Ngoài ra còn phải quan tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
vấn đề bảo quản và lƣu trữ sản phẩm, nhằm chủ động hơn trong việc “điều
tiết” giá cả của sản phẩm đợi đến thời điểm/cơ hội thuận lợi cho việc xuất
khẩu lúa gạo ra thị trƣờng Thế giới, muốn vậy nhà nƣớc cần có chính sách và
mục tiêu cụ thể để thúc đẩy chiến lƣợc xây dựng hệ thống kho lƣu trữ và bảo
quản nông sản (lúa gạo). Nếu đƣợc nhƣ vậy sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
16
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT
Nội dung trong chương này đề cập đến phương pháp, nội dung nghiên cứu,
đặc biệt là phân tích cơ sở lý thuyết để lựa chọn hướng tiếp cận, nghiên cứu
để thực hiện đề tài.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, thiết kế hệ thống (thiết bị) cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và
xuất nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng diện tích từ 20-30m
2
.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát cơ giới hóa kho phẳng trong nƣớc và thế giới.
- Thiết kế quy trình nhập và xuất nguyên liệu.
- Thiết kế thiết bị chính trong dây chuyền cơ giới hóa liên hoàn việc xuất
và nhập cho kho phẳng diện tích từ 20-30m
2
.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp tham khảo có kế thừa, và tham vấn ý kiến chuyên gia,
thống kho. Tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh thực tế khác nhau ta có thể xây
dựng, thiết kế kho sao cho phù hợp. Ngoài ra, việc làm sạch có thể ảnh hƣởng
đến thời gian bảo quản, thời gian sử dụng tích cực của nguyên liệu, đồng thời
quyết định đến chất lƣợng tốt hơn quá trình chế biến tiếp theo.
Hiệu quả/hiệu suất khử bụi của các máy móc và thiết bị sử dụng túi lọc có thể
làm sạch tối đa, và an toàn cho hệ thống. Có biện pháp để ngăn ngừa/ngăn
chặn các hiện tƣợng nổ do bụi gây ra. Các kênh thông thoáng và thoát ẩm
cũng góp phần hỗ trợ tốt để tối ƣu việc chống lại các hiện tƣợng nổ do bụi có
nguy cơ xảy ra.
Nhƣ vậy: các vật liệu dạng hạt nói chung và lúa nói riêng có thể lƣu trữ và
bảo quản bằng Silo hoặc bằng Kho phẳng. Tuy nhiên mỗi loại đều có ƣu
nhƣợc điểm riêng của chúng.
Nguyên lý, kết cấu của một số loại kho phẳng và silo để lƣu trữ và bảo quản
hạt ngũ cốc nói chung và hạt lúa nói riêng của một số nƣớc trên thế gới hiện
đã và đang dùng rất phổ biến, chúng đƣợc mô tả/trình bày chi tiết hơn thông
qua các hình ảnh sau đây.
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
18
2.4.1.1 Silo
Các hình ảnh dƣới đây diễn tả về một số loại Silo dạng đơn hoặc chùm dùng để
lƣu trữ và bảo quản một số loại hạt ngũ cốc hiện đang đƣợc sử dụng ở một số
nƣớc châu Âu.
Nguồn: D. L. Proctor; và
Nguồn: Nguồn:
Hình 2.3. Nguyên lý cấu tạo tổ hợp kết hợp giữa Kho phẳng và Silo
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
20
Với sự kết hợp của tổ hợp Kho phẳng và Silo thì sẽ khắc phục đƣợc một số
hạn chế và phát huy đƣợc ƣu điểm của cả hai loại trên. Tuy nhiên, nếu dùng
tổ hợp này thì chỉ phù hợp với điều kiện/nền khoa học của một số nƣớc tiên
tiến trên thế giới, chứ chƣa phù hợp với điền kiện khoa học và công nghệ chế
tạo máy của Việt Nam trong điều kiện, hoàn cảnh nhƣ hiện nay.
Từ hình 2.1 đến hình 2.3 trình bày kết cấu của kho chứa ngũ cốc kiểu silo đơn
và chùm. Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng-ẩm nhƣ ở Việt Nam, liệu chúng
có phù hợp hay không, điều đó minh chứng qua phân tích các ƣu nhƣợc điểm
không thích hợp.
- Khả năng chế tạo trong nƣớc để đạt đƣợc nhƣ của nƣớc ngoài thì ở Việt
Nam khó có khả năng này.
- Giá chế tạo silo tƣơng đối cao, khoảng 50USD/1m
3
.
- Vật liệu chứa trong Silo yêu cầu phải “đồng nhất” hết với nhau, có nghĩa là
hạt có độ ẩm phải đồng đều.
- Mỗi silo chỉ có thể chứa đƣợc cho một loại nguyên liệu (một loại hạt) nào
đó, chứ không chứa đƣợc cho nhiều loại nguyên liệu đồng thời trong cùng
một silo.
Ƣu điểm:
Ƣu điểm duy nhất đối với kho chứa dạng silo là việc thực hiện cơ giới hóa
khâu tháo, cấp liệu dễ dàng.
Nhận xét: Từ những phân tích trên đây cho thấy ở Việt Nam silo để bảo quản
thóc gạo thì chƣa thấy sử dụng, mà mới chỉ dùng trong phạm vi bảo quản, lƣu
trữ trong ngành chế biến thức ăn gia súc mà vẫn còn hạn chế.
2.4.1.2 Kho phẳng
Kỹ thuật kho phẳng ngày càng đƣợc quan tâm nghiên cứu và phát triển nhiều
ở một số nƣớc Âu Châu nhƣ: CHLB Đức, Đan Mạch, Áo, , tuy nhiên xuất
xứ và công nghệ nguồn về kỹ thuật kho phẳng đều từ CHLB Đức mà ra.
Sau này, khi tham khảo từ công nghệ nguồn của CHLB Đức kỹ thuật kho
phẳng cũng đã bắt đầu lan sang một vài nƣớc châu Á, hình 2.4 dƣới đây giới
thiệu về một kho phẳng đã đƣợc tổ chức FAO triển khai ứng dụng tại một số
nƣớc châu Á.
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
23
Nguồn:
Hình 2.6. Nguyên lý Cấu tạo kho phẳng năng suất (sức chứa) trung bình
của CHLB Đức
Tiếp theo nhƣ hình 2.7giới thiệu một trong nhiều kiểu kho phẳng có sức chứa
(công suất) lớn với cấu tạo chia ra nhiều khoang (nhiều ngăn) sử dụng công
nghệ nguồn của CHLB Đức, nhƣng đã đƣợc công ty của Đức chế tạo và
chuyển giao để sử dụng tại Đan Mạch. Kiểu kho này đã sử dụng hệ thống cấp
tháo liệu linh hoạt và gọn nhẹ. Ngoài ra, vì diện tích kho lớn cho nên ngƣời ta
đã chia kho lớn thành nhiều ngăn/nhiều khoang có diện tích nhỏ, để linh hoạt
hơn khi sử dụng, đồng thời có thể đáp ứng đƣợc mục đích sử dụng để bảo
quản/lƣu kho cho nhiều loại nguyên liệu khác nhau trong cùng một kho. Điều
này chỉ có kho lƣu trữ phẳng mới đáp ứng đƣợc, còn silo sẽ không thỏa mãn.
Nguồn:
Hình 2.7. Cấu tạo kho phẳng năng suất (sức chứa) lớn công nghệ nguồn
của Đức đã được chế tạo và ứng dụng tại Đan Mạch
Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy Nông nghiệp – RIAM Đề tài A-2011 - Nghiên cứu, thiết kế hệ thống cơ giới hóa liên hoàn việc nhập và xuất
nguyên liệu dạng hạt ở kho dự trữ phẳng
24
Đối với trƣờng hợp kho phẳng có nhu cầu diện tích kho lớn (có sức chứa lớn),
và có thể sử dụng để chứa cho nhiều loại nguyên liệu khác nhau, ngƣời ta có
thể chia nhỏ kho đó thành nhiều khoang (nhiều ngăn) có diện tích nhỏ hơn để
thuận tiện và linh hoạt hơn trong quá trình sử dụng và cơ giới hóa việc cấp
Nguồn: www. etz-hellmuth.de GmbH
Hình 2.9. Kho phẳng có sức chứa (công suất) “cực lớn” của CHLB Đức
Nguồn: schmidtseeger. GmbH
Hình 2.10. Kết cấu và nguyên lý hoạt động thiết bị “san/tãi” liệu trong kho
phẳng chứa hạt ngũ cốc có sức chứa cực lớn của CHLB Đức