Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Mục lục Trang
Mục lục 1
Các kí hiệu viết tắt trong đồ án 3
Phần 1: Giới thiệu và tóm tắc về đề tài 4
I. Giới thiệu đề tài 4
II. Tóm tắt sơ lược về đề tài 4
Phần 2: Cơ sở lý thuyết 6
Chương 1: Tìm hiểu một số khái niệm liên quan 6
1.1 DNS Server 6
1.2 Workstation (máy trạm) và Server 8
1.3
Giới thiệu về LDAP 9
1.4 Roaming and Mandatory Profiles 10
Chương 2: Mô hình Domain, Domain Controller 11
2.1
Mô hình Domain 11
2.2
Giới thiệu về Domain Controller 11
2.3 Chức năng của Domain Controller 11
2.4 Nâng cấp Server thành Domain Controller 12
2.5
Domain Controller đồng hành 13
Chương 3: Active Directory 14
3.1
Giới thiệu về Active Directory 14
3.2 Chức năng của Active Directory 14
3.3
Cấu trúc của Active Directory 14
3.4 Cách đặt tên trong Active Directory 21
IV. Thiết lập Roaming and Mandatory Profile 72
V.
Backup và Restore AD 73
VI. Gia nhập các máy client vào DC 73
VII. NTFS trên thư mục chia sẻ 75
Chương 2: Các ứng dụng trong trường học
I.
Chia sẽ tài nguyên 79
II. Tổ chức thi nộp bài qua mạng (tự luận) 79
III. Thi qua mạng dùng phần mềm EmpTest (trắc nghiệm) 79
IV.
Dùng các phần mềm EASYCAFE quản lý HS dùng Internet 80
V.
Dùng NetOp School dạy học 80
Tài liệu tham khảo 81
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 2
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Các kí hiệu viết tắt
AD : Active Directory
BDC : Backup Domain Controller
DC : Domain Controller
DNS : Domain Name System
IP : Internet Protocol
OU : Oranization Unit
PDC : Primary Domain Controller
RL : Right Click (nhấn chuột phải)
TCP : Transmission Control Protocol
W2K3 : Windows 2003
WXP : Windows XP
tài nguyên của hệ thống, đồng thời giúp việc đăng nhập vào hệ thống máy tính
ở trường của mỗi học sinh một cách dễ dàng và thân thiện. Đảm bảo quản lí tập
trung tài khoản của mỗi học sinh theo khối lớp một cách dễ dàng.
II. Tóm tắt sơ lược về đề tài.
Thiết kế hệ thống mạng máy tính của trường phổ thông gồm 4 phòng máy
tính và một Server. Server này đóng vai trò là một Domain Controller (máy
điều khiển tên miền) quản lý tập trung và thẩm định quyền đăng nhập vào hệ
thống của các User.
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 4
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Mô hình hệ thống Domain Controller
Mỗi học sinh khi tham gia vào hệ thống mạng này sẽ được cấp một tài
khoản (Username và Password) để có thể đăng nhập và sử dụng tài nguyên trên
bất kỳ máy tính nào của hệ thống này. Đồng thời mỗi học sinh cũng được cấp
một thư mục Home trên Server với dung lượng 1Gb để lưu trữ dữ liệu và thông
tin profile, khi học sinh đăng nhập vào hệ thống bằng bất kỳ máy nào trong hệ
thống, thư mục Home sẽ ánh xạ thành thư mục Home trên máy trạm, giúp học
sinh có thể sử dụng cùng một môi trường làm việc trên các máy tính khác nhau.
Hệ thống được thiết kế để học sinh và giáo viên có thể chia sẻ thông tin với
nhau. Qua hệ thống này giáo viên có thể tổ chức thi và nộp bài quan mạng đảm
bảo an toàn và bảo mật.
Roaming Profile sẽ lưu lại tất cả những gì thay đổi trên Desktop và My
Documents lên Server Domain khi User kết thúc phiên làm việc trong hệ thống
mạng. Mỗi khi User logon trở lại hệ thống, Roaming Profile sẽ tự động ánh xạ
khôi phục hoàn toàn các thiết lập trên Desktop ở phiên làm việc trước, tạo ra
một môi trường quen thuộc mà không phải mất công thiết lập lại.
DNS được khuyến nghị nên sử dụng ít nhất là hai DNS server để lưu địa chỉ
cho mỗi một vùng (zone). PDS quản lý các vùng và SDS được sử dụng để lưu
trữ dự phòng cho vùng, và cho cả PDS. SDS không nhất thiết phải có nhưng
khuyến khích hãy sử dụng . SDS được phép quản lý tên miền nhưng dữ liệu về
tên miền không phải được tạo ra từ SDS mà được lấy về từ PDS.
SDS có thể cung cấp các hoạt động ở chế độ không tải trên mạng. Khi
lượng truy vấn vùng tăng cao, PDS sẽ chuyển bớt tải sang SDS (quá trình này
còn được gọi là cân bằng tải), hoặc khi PDS bị sự cố thì SDS hoạt động thay
thế cho đến khi PDS hoạt động trở lại .
SDS thường được sử dụng tại nơi gần với các máy trạm (client) để có thể
phục vụ cho các truy vấn một cách dễ dàng. (Tuy nhiên, cài đặt SDS trên cùng
một subnet hoặc cùng một kết nối với PDS là không nên). Điều đó sẽ là một
giải pháp tốt để dự phòng cho PDS, vì khi kết nối đến PDS bị hỏng thì cũng
không ảnh hưởng gì tới đến SDS.
Ngoài ra, PDS luôn duy trì một lượng lớn dữ liệu và thường xuyên thay đổi
hoặc thêm các địa chỉ mới vào các vùng. Do đó, DNS server sử dụng một cơ
chế cho phép chuyển các thông tin từ PDS sang SDS và lưu giữ trên đĩa. Khi
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 6
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
cần phục hồi dữ liệu về các vùng, chúng ta có thể sử dụng giải pháp lấy toàn bộ
(full) hoặc chỉ lấy phần thay đổi (incrememtal).
1.1.2 Cách thức hoạt động của DNS Server
DNS đưa ra một phương pháp đặc biệt để duy trì và liên kết các ánh xạ này
trong một thể thống nhất.
Trong phạm vi lớn hơn, các máy tính kết nối với Internet sử dụng DNS để
tạo địa chỉ liên kết dạng URL (Universal Resource Locators). Theo phương
pháp này, mỗi máy tính sẽ không cần sử dụng địa chỉ IP cho kết nối mà chỉ cần
sử dụng tên miền (domain name) để truy vấn đến kết nối đó. Với mô hình phân
cấp như hình dưới đây :
khác.
1. 2 Workstation(máy trạm) và Server
Các thuật ngữ Workstation và Server (máy chủ) được dùng để nói tới vai
trò của máy tính trong mạng. Chẳng hạn, một máy tính đang hoạt động như
một Server thì nó không cần thiết phải chạy cả phần cứng của Server. Khi một
máy tính được cài hệ điều hành Server, nó sẽ hoạt động thực sự như một Server
mạng. Trong thực tế, hầu hết tất cả các máy chủ đếu sử dụng thiết bị phần cứng
đặc biệt, giúp chúng có thể kiểm soát được khối lượng công việc nặng nề vốn
có của mình.
Khái niệm máy chủ mạng (network server) thường hay bị nhầm về mặt kỹ
thuật theo kiểu định nghĩa: “máy chủ là bất kỳ máy tính nào sở hữu hay lưu trữ
tài nguyên chia sẻ trên mạng”. Nói như thế thì ngay cả một máy tính đang chạy
windows XP cũng có thể xem là máy chủ nếu nó được cấu hình chia sẻ một số
tài nguyên như file và máy in…
Trước đây các máy tính thường được nối thành mạng là peer to peer (kiểu
máy ngang hàng). Máy tính ngang hàng hoạt động trên cả máy trạm và máy
chủ. Các máy này thường sử dụng hệ điều hành ở máy trạm (như windows
XP), nhưng có thể truy cập và sở hữu các tài nguyên mạng do ta chỉ định một
máy nào đó trong mạng làm máy “server” chứa tài nguyên chia sẻ. Mạng kiểu
này thường là các mạng rất nhỏ.
Ý tưởng ở đây là nếu một công ty nhỏ thiếu tài nguyên để có được các máy
chủ thực sự thì các máy trạm có thể được cấu hình để thực hiện nhiệm vụ
"kép". Ví dụ, mỗi người dùng có thể tạo cho các file của mình khả năng truy
cập chung với nhiều người khác trên mạng. Nếu một máy nào đó có gắn máy
in, họ có thể chia sẻ nó cho công việc in ấn của toàn bộ máy trong mạng, tiết
kiệm được tài nguyên.
Các mạng ngang hàng thường không sử dụng được trong các công ty lớn vì
thiếu khả năng bảo mật cao, không thể quản lý trung và thống nhất được nguồn
tài liệu vốn rất quan trọng của công ty. Đó là lý do vì sao các mạng ngang hàng
thường chỉ được tìm thấy trong các công ty cực kỳ nhỏ hoặc người dùng gia
Người chịu trách nhiệm quản lý mạng được gọi là quản trị viên
(administrator). Khi người dùng muốn truy cập tài nguyên trên mạng Windows,
quản trị viên sẽ dùng một tiện ích do Domain Controller cung cấp để tạo tài
khoản cho người dùng mới. Khi người dùng mới (hoặc người nào đó muốn có
tài khoản thứ hai) cố gắng đăng nhập vào mạng thì "giấy thông hành" của họ
(Username và Password) được gửi tới Domain Controller. Domain Cotroller sẽ
kiểm tra tính hợp lệ bằng cách so sánh thông tin được cung cấp với bản sao
chép lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của nó. Nếu mật khẩu người dùng cung cấp và
mật khẩu lưu trữ trong Domain Controller khớp với nhau, họ sẽ được cấp
quyền truy cập mạng. Quá trình này được gọi là thẩm định (authentication).
1.3. Nghi thức LDAP.
LDAP (Lightweight Directory Access Protocol) là một chuẩn mở rộng cho
nghi thức truy cập thư mục, là phương tiện để LDAP client và severs sử dụng
để giao tiếp với nhau. LDAP định nghĩa ra khuôn dạng để trao đổi dữ liệu
LDIF (LDAP Data Interchange Format), ở dạng thức văn bản dùng để mô tả
thông tin về thư mục . LDIF có thể mô tả một tập hợp các thư mục hay các cập
nhật có thể được áp dụng trên thư mục.
LDAP là một nghi thức “lightweight ” có nghĩa là đây là một giao thức có
tính hiệu quả, đơn giản và dể dàng để cài đặt. Trong khi chúng sử dụng các
hàm ở mức cao. Điều này trái ngược với nghi thức “heavyweight” như là nghi
thức truy cập thư mục X.500 (DAP). Nghi thức này sử dụng các phương thức
mã hoá quá phức tạp.
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 9
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
LDAP sử dụng các tập các phương thức đơn giản và là một nghi thức thuộc
tầng ứng dụng. LDAP đã phát triển với phiên bản LDAP v2 được định nghĩa
trong chuẩn RFC 1777 và 1778, LDAP v3 là một phần trong chuẩn Internet,
được định nghĩa trong RFC 2251 cho đến RFC 2256, do chúng quá mới nên
không phải tất cả mọi thứ các nhà cung cấp hổ trợ hoàn toàn cho LDAP v3.
Ngoài vai trò như là một thủ tục mạng, LDAP còn định nghĩa ra bốn mô
profile vào trong thông tin tài khoản người dùng, sau đó chép một profile đã
cấu hình sẵn vào đường dẫn đó. Lúc đó các người dùng dùng chung profile này
và không được quyền thay đổi profile đó.
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 10
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Chương 2: Mô hình Domain và Domain Controller
2.1. Mô hình Domain.
Hoạt động theo cơ chế client/server, trong hệ thống mạng ít nhất phải có
một máy tính làm chức năng điều khiển vùng (Domain Controller), máy tính
này sẽ điều khiển mọi hoạt động của hệ thống mang. Việc chứng thực người
dùng và quản lý tài nguyên mạng được tập trung lại tại các Server trong miền.
Mô hình này đáp ứng được mọi yêu cầu về quản lý tập trung và sử dụng tài
nguyên của hệ thống, được áp dụng cho các công ty vừa và lớn, rất phù hợp với
mô hình quản lý tập trung các phòng máy của trường phổ thông.
Trong mô hình Domain của các Windows Server 2003 thì các thông tin
người dùng được tập trung lại do dịch vụ Active Directory quản lý và được lưu
trữ trên máy tính điểu khiền vùng với tập tin là NTDS.DIT. Tập tin cơ sở dữ
liệu này được xây dựng theo một công nghệ tương tự phần mềm Access của
Microsoft nên nó có thể lưu trữ được hàng triệu người dùng, cải tiến nhiều so
với công nghệ cũ chỉ lưu trữ được khoảng 5 ngàn tài khoản người dùng. Do các
thông tin người dùng được lưu trữ tập trung nên việc chứng thực người dùng
đăng nhập vào mạng cũng tập trung do máy điều khiển vùng chứng thực.
2.2. Giới thiệu về Domain Controller.
Domain controller là một máy chủ được cấu hình để quản lý một domain
trong mô hình server/client. Thực chất nó là bộ điểu khiển miền cung cấp tính
năng bảo mật và khả năng quản lý cho mạng. Máy chủ là domain controller
cung cấp một tiện ích là Active Directory(AD) để quản trị domain có thể theo
dõi và kiểm tra và thẩm định các tài khoản người dùng (Username và
trên máy khác. Đây chỉ là một trong số rất nhiều lý do khiến việc sử dụng tài
khoản người dùng cục bộ cho việc truy cập an toàn tài nguyên mạng là không
thực tế. Thậm chí nếu bạn muốn triển khai kiểu bảo mật này, Windows cũng
không cho phép. Tài khoản người dùng cục bộ chỉ có thể dùng tài nguyên cục
bộ trên một máy trạm nhất định.
DC có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề vừa nêu và một số vấn đề khác nữa.
Chúng sẽ tập trung hoá tài khoản người dùng (hay cấu hình khác, các đối tượng
liên quan đến bảo mật; chúng ta sẽ đề cập đến trong các phần tiếp theo). Điều
này giúp việc quản trị dễ dàng hơn và cho phép người dùng đăng nhập từ bất
kỳ máy tính nào có trên mạng (trừ khi bạn giới hạn quyền truy cập người
dùng).
2.3.2 Thẩm định.
Khi một người muốn đăng nhập vào hệ thống DC họ phải có Username và
Password như một loại giấy thông hành để gửi đến DC, DC sẽ kiểm tra tính
hợp lệ bằng cách so sánh thông tin được cung cấp với bản sao chép lưu trữ
trong cơ sở dữ liệu của nó. Nếu mật khẩu người dùng cung cấp và mật khẩu lưu
trữ trong Domain Controller khớp với nhau, họ sẽ được cấp quyền truy cập
mạng. Quá trình này được gọi là thẩm định (authentication).
2.4. Nâng cấp Server thành Domain Controller.
Theo mặc định, tất cả các máy Windows Server 2003 đều là Server độc lập
(stand-alone server), chương trình DCPROMO chính là Active Directory
Installation Wizard và được dùng để nâng cấp một máy không phải là DC
thành một máy DC và ngược lại giáng cấp một máy DC thành một Server bình
thường.
Trước khi nâng cấp một server thành DC, cần phải khai báo đầy đủ thông số
TCP/IP. Đặc biệt là phải khai báo DNS server có địa chỉ chính là địa chỉ IP của
Server cần nâng cấp.
Máy tính Server sau khi đã nâng cấp thành Domain Controller gọi là máy
Domain Controller hay máy có chức năng điều khiển miền.
sử dụng nghi thức (Lightweight Directory Access Protocol) chạy trên tầng
application của mô hình OSI và được xây dựng trên cơ sở hệ thống xác định
domain theo tên (DNS). Một trong những điểm ưu việt của Active Directory là
nó quản lý hệ thống mạng bằng cách tạo ra tên domain cho workgroup, trên cơ
sở đó cho phép các hệ thống mạng khác (Unix, Mac) có thể truy cập vào được.
Active Directory là một cơ sở dữ liệu, tuy nhiên Microsoft lại không đưa ra
một công cụ quản trị nào sử dụng để quản lý Active Directory cho bạn có thể
xem được toàn bộ cơ sở dữ liệu của Active Directory. Khác hẳn việc bạn sử
dụng Microsoft Access hoặc SQL Server thì bạn hoàn toàn có thể mở cơ sở dữ
liệu và quan sát các thực thể bên trong nó. Microsoft chỉ cung cấp một số công
cụ giúp các quản trị viên có thể quản lý các đối tượng trong AD đó là Active
Directory Users and Computers console.
3.2 . Chức năng của Active Directory.
Lưu giữ một danh sách tập trung các tên tài khoản người dùng, mật khẩu
tương ứng và các tài khoản máy tính.
Cung cấp một Server đóng vai trò chứng thực (authentication server) hoặc
Server quản lý đăng nhập (logon server), Server này chính là Domain
Controller.
Duy trì một bảng hướng dẫn hoặc một bảng chỉ mục (index) giúp các máy
tính trong mạng có thể dò tìm nhanh một tài nguyên nào đó trên các máy tính
khác trong hệ thống.
Cho phép tạo ra các tài khoản người dùng với những mức độ quyền (right)
khác nhau như: toàn quyền trên hệ thống mạng, chỉ có quyền backup dữ liệu
hay shutdown server từ xa…
Cho phép chia nhỏ miền thành các miền con (subdomain) hay các đơn vị tổ
chức OU (Organizational Unit) sau đó có thể uỷ quyền cho các quản trị viên ở
từng bộ phận nhỏ.
3.3 . Cấu trúc của Active Directory.
3.3.3 Domain
Domain là đơn vị có chức năng nòng cốt của cấu trúc logic Active
Directory. Nó là phương tiện để quy định một tập hợp những người dùng, máy
tính, tài nguyên chia sẻ có những quy tắc bảo mật giống nhau từ đó giúp cho
việc quản lý các truy cập vào các server dễ dàng hơn. Domain đáp ứng ba chức
năng chình đó là:
- Đóng vai trò như một khu vực quản trị (Administrative boundary)các
đối tượng, là một tập hợp các định nghĩa quản trị cho các đối tượng chia sẽ
như: có chung một cơ sở dữ liệu thư mục, các chính sách bảo mật, các quan
hệ uỷ quyền với các domain khác.
- Giúp chúng ta quản lý bảo mật các tài nguyên chia sẻ.
- Cung cấp các server dự phòng làm chức năng điều khiển vùng, đồng
thời đảm bảo các thông tin trên các server này được đồng bộ với nhau. 3.3.4 Domain tree
Là cấu trúc bao gồm nhiều domain được sắp xếp có thứ bậc theo cấu trúc
hình cây. Domain được tạo ra đầu tiên được gọi là domain root và nằm ở gốc
của cây thư mục. Tất cả các domain tạo ra sau sẽ nằm bên dưới domain root và
được gọi là domain con (child domain). Tên của các domain con phải khác biệt
nhau. Khi một domain root và ít nhất một domain con được tạo ra thì hình
thành một cây domain. Khái niệm này bạn thường sẽ được nghe thấy khi làm
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 17
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
việc với một dịch vụ thư mục. Bạn có thể thấy cấu trúc sẽ có hình dáng của một
cây khi có nhiều nhánh xuất hiện.
3.3.5 Forest
chứa các tài khoản người dùng, tất cả được phân loại thành các đối tượng người
dùng như trong hình B. Nếu kích chuột phải vào một trong các đối tượng người
dùng này và chọn Properties từ menu chuột phải thì bạn sẽ thấy được trang
thuộc tính của đối tượng như trong hình C.
Hình B: Thư mục Users chứa các tài khoản người dùng,
tất cả được phân loại thành các đối tượng người dùng.
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 19
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Hình C: Khi kích chuột phải vào một đối tượng người dùng và chọn
Properties thì bạn sẽ thấy trang thuộc tính của người dùng.
Nếu nhìn vào hình C thì bạn sẽ thấy rằng có một số trường thông tin khác
nhau như tên, họ, số điện thoại… Mỗi trường đó tương ứng với một thuộc tính
của một đối tượng. Mặc dù phần lớn các trường ở trong hình đều không phổ
biến nhưng trong một số tình huống thực thì các trường này có thể được sử
dụng để tạo thư mục cộng tác. Trong thực tế, nhiều ứng dụng được thiết kế để
trích thông tin trực tiếp từ Active Directory. Chẳng hạn, Microsoft Exchange
Server (sản phẩn e-mail server của Microsoft) sẽ tạo một danh sách địa chỉ toàn
cục dựa trên nội dung của Active Directory. Danh sách này được sử dụng khi
gửi các thông báo email đến người dùng khác trong hệ thống. Điều này có ý
nghĩa quan trọng trong việc tương tác của AD. Thực tế, có rất nhiều sản phẩm
của các hãng khác (nhóm thứ ba)được thiết kế để tương tác với Active
Directory. Một trong số chúng có khả năng lưu dữ liệu trong các phần Active
Directory đặc biệt.
Lý do nó hợp lý với các hãng phần mềm nhóm thứ ba khi tương tác với
Active Directory là vì Active Directory được dựa trên một chuẩn đã biết.
Active Directory được dựa trên một chuẩn có tên gọi là X.500. Chuẩn này cơ
bản là một cách chung chung trong việc thực hiện dịch vụ thư mục. Microsoft
không chỉ là một công ty tạo dịch vụ thư mục dựa trên dịch vụ này mà Novell
Backup và Restore là một trong những kiến thức vô cùng quan trọng trong
việc đảm bảo hệ thống hoạt động một cách hiệu quả, và tránh được những sự
cố đáng tiếc xảy ra. Trong Windows Server 2003 có sử dụng một công cụ
Backup dữ liệu đó là: ntbackup.
NTBACKUP trong Windows Server 2003 sử dụng công nghệ Backup là
Shadow Copy để backup cả những dữ liệu đang hoạt động như SQL, hay dịch
vụ Active Directory, các file đang chạy hay các folder bị cấm truy cập…
Nhưng trong Windows có một quy định là không cho can thiệp vào các file
hay dữ liệu khi đang có một chương trình khác đang hoạt động hay đang sử
dụng. Và hai điều này có nghĩa là bạn hoàn toàn có thể Backup được Active
Directory theo một cách nào đó, nhưng bạn không thể Restore lại được bởi
Service này hoạt động từ lúc hệ thống bắt đầu khởi động. Vậy không có cách
nào Restore sao.Tuy nhiên, Microsoft đã tính toán đến tình huống này và ngay
bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về Backup và Restore dữ liệu của Active
Directory.
Để tiến hành chúng ta sẽ làm theo các bước dưới đây:
Bước 1: Backup Active Directory.
Vào Run gõ ntbackup hệ thống sẽ hiện cửa sổ sau đây
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 21
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Bạn chọn Advanced Mode (dòng chữ màu xanh) sẽ xuất hiện cửa sổ
Backup Utility, chọn Tab Backup sẽ được cửa sổ như hình dưới đây.
Bạn muốn backup Active Directory bạn cần phải Backup System State. Để
ý thấy khi backup System State sẽ bao gồm rất nhiều thông tin: Active
Directory, Boot Files, Registry, SYSVOL…
Sau khi chọn System State, cần phải thiết lập nơi chứa file Backup, ở đây
tôi chọn là lưu tại ổ C: và tên file là Backup.bkf
Nhấn Start Backup để bắt đầu Backup dữ liệu.
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 24
Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Đồ án Tốt nghiệp
Dưới đây là cửa sổ hệ thống đang Restore lại System State
Sau khi hệ thống Restore hoàn tất sẽ yêu cầu khởi động lại máy tính.Lần này
bạn để máy tính khởi động vào bình thường và công việc cuối cùng của chúng
ta là xem lại xem OU hocsinh và các User trong OU xem có còn hay không.
Thật may mắn là mọi thứ lại như cũ.
Thiết kế mạng LAN ở trường THPT Trang 25