Luận văn Đề tài văn hóa ở của người Hàn Quốc - Pdf 13

LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI: VĂN HÓA Ở CỦA HÀN QUỐC
I. KHÁI QUÁT CHUNG:
Đối với bất kỳ dân tộc nào trên thế giới, ba yếu tố ăn – mặc - ở là
những yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống. Hàn Quốc là một đất nước tự
hào có truyền thống lâu đời thể hiện rõ nét trong cả ba yếu tố kể trên. Trong
đó, yếu tố ở có ít thay đổi nhất so với hai yếu tố còn lại. Đặc biệt là NGÔI
NHÀ – nơi trú ẩn để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt. Hàn Quốc là một
đất nước có khí hậu khắc nghiệt với mùa đông rất lạnh và mùa hè rất nóng,
địa hình mang nét đặc trưng bởi hệ thống đồi núi đa dạng chiếm khoảng
70% diện tích lãnh thổ. Những ngọn đồi thấp chủ yếu nằm ở phía Nam và
phía Tây, và dần cao lên ở phía Đông và phía Bắc. Vì vậy nhà ở của người
Hàn có những nét độc đáo riêng phù hợp với khí hậu, địa hình mà không đất
nước nào có.
Thời tiền sử, các cư dân đầu tiên của bán đảo Triều Tiên sống trong
các hang động, lều làm bằng đá. Những ngôi nhà này đã có các chức năng
cơ bản như bếp lửa, không gian để làm việc và ngủ. Các nhà nghiên cứu cho
rằng có ba loại nhà tồn tại ở thời tiền sử Triều Tiên là nhà hầm, nhà gỗ và
nhà sàn; nhưng cho đến nay, mới chỉ có những dấu tích của loại nhà hầm là
được tìm thấy. Nhà hầm thường bao gồm một cái hầm sâu 20-150cm, có vỏ
và đất sét bao bọc xung quanh để trách gió mưa, hầu hết đều nằm ở trên đồi.
Nhà gỗ được cấu tạo bằng cách ghép những tấm gỗ lại với nhau. Giữa các
khe hở, người ta trét đất sét để ngăn gió. Những căn nhà như vậy còn tìm
thấy được ở vùng núi ngày nay. Nhà sàn có nguồn gốc từ miền Nam, ban
đầu được xây dựng để làm kho giữ lúa gạo. Kiểu kiến trúc này vẫn còn tồn
tại ở những ngôi nhà có hai gác và chòi canh đứng ở giữa các ruộng dưa và
vuồn cây ăn trái. Đến thời kỳ Tam quốc đã xuất hiện Ondol (온돌), hệ thống
sưởi dưới sàn nhà rất độc đáo của người Hàn. Thời kỳ này một số người vẫn
sống trong nhà hầm, số khác thì sống ở nhà sàn. Qua các thời kỳ sau đó, các
loại nhà này đã phát triển lên thành Hanok, với sàn nhà hình vuông được
chia thành nhà bếp và một phòng khác gợi nhớ lại hình ảnh nhà hầm thời

điện, đền đài, quan phủ. Tầng lớp thượng lưu thường xây nhà lớn, có cấu
trúc chắc chắn và được trang trí nhiều nhưng không được dùng những màu
dùng để trang trí cho cung điện của nhà vua. Những nhà này có mái lợp ngói
có những nét cong uyển chuyển và nổi bật với những mái chìa hơi cao hơn
một chút., và ngói nhà cũng được trang trí. Những ngôi nhà lợp mái ngói
như thế này được gọi là Kiwajip (기와집).
Những nét đặc sắc thì lại nằm ở những ngôi nhà bình thường của
người dân làm bằng gỗ với mái nhà được làm bằng đất sét hoặc rơm rạ, ít
trang trí. Những ngôi nhà có mái làm bằng rơm rạ thì được gọi là Chogajip
(초가집).
Tuy nhiên dù là nhà của ai thì cũng không có ngôi nhà bình thường
nào rộng hơn 99 kan (một đơn vị tính chu vi giữa bốn cột chính được sử
dụng để tính toán kích thước theo những kiến trúc truyền thống). Cấu trúc và
kích cỡ nhà thay đổi tùy theo quy mô, quan hệ xã hội và sự giàu có của gia
đình đó.
b) Đặc điểm:
 Vị trí, phương hướng:
Theo truyền thống, nơi cư trú của người dân Hàn Quốc thường được
chọn dựa trên phong thuỷ. Họ tin rằng bất kỳ hình thể xác định nào cũng đều
sản sinh ra lực lượng vô hình của cái tốt và cái xấu. Các nguồn năng lượng
tiêu cực và tích cực (Âm - Dương) phải được đưa vào cân đối. Khi lựa chọn
một địa điểm để xây dựng nhà cửa, người ta có khuynh hướng xem xét ý
nghĩa đặc biệt của môi trường tự nhiên xung quanh. Tiêu chí lựa chọn một
địa điểm tốt để xây dựng là nơi đó có quang cảnh phù hợp giữa "núi và
nước". Mối liên hệ này không chỉ dựa trên những quan điểm thẩm mỹ. Thuật
phong thuỷ đã dạy rằng con người sẽ không thể phát triển đúng đắn cả về trí
tuệ và tình cảm cũng như sẽ không có một cuộc sống tốt đẹp nếu không có
sự hỗ trợ của thiên nhiên. Những nguyên tắc này được áp dụng khi chọn chỗ
cư ngụ cho cả người sống và người chết. Một công trình kiến trúc cần có vị
trí cố định quay mặt về hướng nam (để đón ánh sáng mặt trời nhiều nhất có

Hàn Quốc, tạo thành sợi từ nguyên liệu thô như vỏ cây dâu tằm): dùng để
làm cửa, sàn nhà
- Rơm: mái nhà, tường
Những ngôi nhà truyền thống thường được xây dựng mà không cần sử
dụng một chiếc đinh vít nào vì được ghép lại với nhau bằng các chốt gỗ. Các
thức như sau: Đầu tiên, người ta tạo khung và dựng cột bằng gỗ rồi làm gạch
từ hỗn hợp đất và cỏ để trát vào khung. Sàn nhà được làm bằng đất cứng
hoặc đá ở dưới, rồi trải một lớp giấy Hanji đã đánh bóng với dầu đậu. Giấy
Hanji còn được sử dụng để dán lên tường, mắc vào trong khung của cửa
trượt và các xương sườn ngang của cửa sổ. Ưu điểm của loại giấy này là
không thấm nước, ánh sáng có thể lọt qua nên khiến cho ngôi nhà đẹp và
thoáng khí hơn. Còn về các phòng thì hơi thấp, tương đối nhỏ, không có
nhiều cửa sổ hay cửa ra vào > vì được xây để bảo vệ cho chủ nhân của nó
khỏi những yếu tố bên ngoài và tối đa hoá sự ấm áp khi sử dụng hệ thống
sưởi Ondol (온돌) vào mùa đông.
Riêng đất sét và rơm thì người ta chủ yếu dùng làm mái nhà. Ở những
ngôi nhà của tầng lớp địa chủ, người ta thường làm mái ngói. Ngói được làm
từ đất sét nên phần mái nhà không bằng phẳng mà có độ dốc nhất định. Kích
thước và hình dạng của ngói ảnh hưởng đến góc của mái nhà và các góc
được xác định bởi điều kiện thời tiết của từng vùng nhất định. Hình dạng và
kích thước khác nhau được sử dụng cho mỗi chỗ khác nhau của mái nhà.
Nếu góc độ được tính chính xác thì mái ngói sẽ dễ dàng cho việc thoát nước
mưa. Những đường cong của mái ngói cho thấy sự độc đáo trong kiến trúc
Hàn Quốc. Còn ở những ngôi nhà của tầng lớp thường dân thì đa phần người
ta lợp mái tranh - loại mái nhà được làm bằng các bó rơm bện chặt lại với
nhau. Những bó rơm này tuy mộc mạc, giản dị, nhưng lại có công dụng điều
hoà khí hậu. Ví dụ như vào mùa hè nắng nóng thì rơm có tác dụng cản sức
nóng gay gắt của mặt trời nhờ không hấp thụ nhiệt, vì vậy mà giữ được sự
mát mẻ cho ngôi nhà; còn vào mùa đông thì rơm có tác dụng cản khí lạnh
bên ngoài nên mang lại sự ấm áp cho ngôi nhà. Ngoài ra, đây là một loại

là maru - 마루. Người ta thường sử dụng cái tên Daecheongmaru - 대청마
루 để chỉ không gian này. Daecheong là không gian sinh hoạt của nhiều thế
hệ cùng chung sống trong gia đình. Maru là sàn bằng gỗ được làm không
chạm vào mặt đất để tránh độ ẩm và nhiệt độ trong suốt mùa hè, đặc biệt,
người ta còn cất giữ các loại ngũ cốc ở đây. Sàn gỗ maru được làm thông ra
tận hiên giúp thông gió cho ngôi nhà. Ngoài ra còn có Jangdokchae (장독
채) là một nơi phơi và lưu trữ các loại thực phẩm lên men đựng trong đồ
sành sứ và đất sét. Jangdokchae nằm trong một khu vực gần nhà bếp sạch sẽ.
Vị trí này được chọn vì có thể nhận được rất nhiều ánh nắng mặt trời và
thông gió đủ để bảo quản thực phẩm. Sadang (사당) là một ngôi đền nơi thờ
phụng tổ tiên. Nó được đặt trong khu vực trong cùng của nơi cư trú để tiếp
nhận năng lượng của ngọn núi phiá sau nhà.
Bên cạnh đó, một số phòng còn có hệ thống sưởi dưới sàn Ondol (온
돌) - một hệ thống sưởi độc đáo của người Hàn Quốc và không giống bất cứ
nơi nào trên thế giới. Những ghi chép đầu tiên về hệ thống sưởi này từng
được đề cập đến trong cuốn sách lịch sử ‘Cựu Đường Thư’ của Trung Quốc.
Ở phần viết về nước Goguryeo, một trong những đất nước nằm trên bán đảo
Hàn Quốc xưa kia, có đoạn miêu tả: “Người Goguryeo làm nền nhà bằng
đất. Họ tạo nên một hệ thống đường ngầm dưới nền nhà dẫn đến các phòng.
Khi đốt lửa ở miệng đường ngầm thì các căn phòng sẽ được sưởi ấm.” Qua
đây, chúng ta có thể biết được người Hàn đã bắt đầu sử dụng hệ thống sưởi
sàn Ondol từ giữa thế kỉ thứ 7. Nhiệt độ tỏa lên từ hệ thống sưởi giúp xua
tan khí lạnh và giữ nhiệt cho cơ thể con người trong mùa đông giá buốt. Mặt
khác, sau khi làn khói tan biến đi, không khí bị đốt nóng sẽ vẫn còn lưu lại
trong ống khói, không khí này lại một lần nữa tiếp thêm nhiệt lượng cho
ngôi nhà. Chính vì cấu trúc nhà như vậy nên người Hàn dần hình thành văn
hóa sinh hoạt trên sàn nhà.
Đầu tiên, hệ thống ondol được sử dụng ở miền Bắc, vùng phương
Nam ấm áp hơn nên ondol thường được dùng với sàn nhà bằng gỗ. Để tăng
hiệu suất của hệ thống sưởi, người Hàn đã rất trí tuệ khi biết cách làm giảm

thường được sử dụng để trang trí cửa hoặc là đồ gỗ trong nhà vì cá
ngủ mà mắt vẫn mở nên nó sẽ như thần giữ cửa trong nhà giúp gia
chủ đề phòng kẻ trộm. Cuối cùng là vì cá sống trong nước nên
những kiến trúc công cộng thường dùng biểu tượng cá như là một
biểu tượng để phòng chống hỏa hoạn.
• Cá chép: bắt nguồn từ truyền thuyết cá chép hóa rồng mà người ta
thường sử dụng biểu tượng cá chép để thể hiện mong ước vượt qua
các khoa cử và đỗ đạt làm quan
• Mười biểu tượng trường thọ gồm 10 vật như: sếu, rùa, hươu, nấm
bất tử, cây thông, đá, nước, núi, mây, mặt trời
• Cây mận thường nở hoa vào đầu mùa xuân sau khi chịu đựng một
mùa đông dài giá rét nên chúng tượng trưng cho sự hồi xuân và tái
sinh
• Quả lựu có nhiều hạt tượng trưng cho mong ước sinh được nhiều
con
• Hoa sen là biểu tượng của Phật giáo. Ý nghĩa của nó về mặt tinh
thần là con người có thể vượt qua mọi nỗi đau của cuốc sống để
đạt đến cõi niết bàn như bông hoa sen dù ở trong đầm lầy nhưng
vẫn nở những bông hoa tuyệt đẹp và thơm ngát. Hình ảnh hoa sen
thường được tìm thấy ở những công trình Phật giáo
• Hình tam giác: Vì nó giống với hình ảnh con ve sầu có khả năng
lột xác rồi “tái sinh” nên người Triều Tiên nghĩ hình tam giác là
biểu tượng của linh hồn vĩnh cửu.
• Tứ thần: Chu Tước (hướng nam), Bạch Hổ (hướng bắc), Huyền Vũ
(hướng đông), Thanh Long (hướng Tây)
Mặc dù rất ưa chuộng sự đơn giản và đơn sắc nhưng người Hàn Quốc
lại trang trí mái hiên và sườn chính các cung điện và đền thờ theo nhiều
màu sắc khác nhau thể hiện rõ nhất qua nghệ thuật Dancheong (단청).
Dangcheong là hình trang trí màu sắc trên nóc các tòa nhà và là những hình
trang trí thể hiện vẻ đẹp và giá trị nghệ thuật đích thực. Dangcheong gồm có

Hàn Quốc rất khắc nghiệt nên những tác phẩm này có độ bền không lâu.
Một số vật dụng phổ biến trong nhà truyền thống của người Triều
Tiên:
• Ban da-ji – 반반반 – là một cái rương bằng gỗ với nắp ở phía trên,
thường được chạm khắc thêm các chi tiết bằng sắt đen
• Yak-jang – 반반 – là tủ thuốc gồm nhiều ngăn kéo nhỏ để đựng các
loại thuốc và thảo dược khác nhau
• Dwi-ju – 반반 – rương gạo, là một vật dụng quan trọng trong bếp, có
nắp mở ở phía trên và thường có khóa để an toàn
• Seo-an – 반반 – là một loại bàn viết có những ngăn kéo nhỏ để đựng
mốt số vật dụng cần thiết
• Gwe – 반 – là một cái rương nhỏ hình chữ nhật dùng để đựng thư từ,
sách và tiền
• Pyeong-sang – 반반 – là một loại ghế bành thường được dùng để ngồi
đọc sách hoặc nghỉ trưa vào mùa hè
• Juk bu-in – 죽부인- Jukbuin là một loại gối được đan từ những lát
tre mỏng và được sử dụng vào những ngày hè để giúp ta ngủ ngon khi
thời tiết quá nóng bức. Khi ngủ người ta thường ôm vòng quanh gối,
vì bên trong gối rỗng nên không khí thổi qua gối giúp làm mát và
giảm nhiệt khi ta ngủ
• Che –체 – Chuyện kể rằng vào đêm Giao thừa có một con quỷ tên là
Yagwang (야광) sẽ đến vào buổi tối là lấy trộm một đôi giày ở trong
nhà và người nào bị con quỷ lấy trộm giày sẽ bị xui xẻo cả năm. Vì
muốn tránh được điều nay nên người Triều Tiên cất tất cả giày vào
trong nhà và sao một cái Che ở bên ngoài. Cái Che hình tròn và được
đan bằng nan, con quỷ ngay khi nhìn thấy cái Che treo ngoài nhà sẽ
bắt đầu đếm số lỗ trên đó cho đến khi mặt trời mọc, con quỷ sẽ biến
mất.
• Han-ji –한지 – là loại giấy thủ công truyền thống của Triều Tiên
được làm từ vỏ cây dâu tằm. Thời kì đầu Hanji là loại giấy duy nhất

qua cách liên kết các chi tiết trong ngôi nhà hoặc đồ gỗ bằng mộng giúp cho
các bộ phận vừa gắn bó chặt chẽ lại vừa cơ động, linh hoạt. Và ngay cả việc
dùng ngói âm dương viên sấp viên ngửa để lợp mái nhà cũng khá giống
nhau.
 Điểm khác biệt
Do khu vực cư trú của người Việt Nam chủ yếu là vùng sông nước và
khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm nên ngôi nhà của Việt Nam chủ yếu là nhà sàn để
ứng phó với ngập lụt, lũ rừng và tránh côn trùng, thú dữ. Còn ở Triều Tiên
cũng có nhà sàn nhưng chỉ xuất hiện ở một số vùng phía nam còn đa phần
sàn nhà của một ngôi nhà truyền thống Hanok thường cách mặt đất 3-5 bậc
thang để đặt hệ thống sưởi sàn Ondol bên dưới, giúp sưởi ấm vào mùa đông
giá rét.
Tuy kiến trúc của cả Việt Nam và Triều Tiên đều là kiến trúc mở
nhưng về mặt cấu trúc tiêu chuẩn của một ngôi nhà thì Việt Nam là nhà cao
cửa rộng để tạo không gian thoáng mát, hòa hợp với tự nhiên trong khi ở
Triều Tiên là nhà hơi thấp, các phòng tương đối nhỏ và không có nhiều cửa
sổ hay cửa ra vào để tránh cái lạnh vào mùa đông. Về hình thức kiến trúc
nhà truyền thống Triều Tiên thường chia thành nhiều buồng, các phòng ngăn
cách bằng cửa kéo với chấn song gỗ, còn nhà ở Việt Nam thường có 3 hoặc
5 gian và không chia thành nhiều phòng nhỏ biệt lập, gian giữa là nơi đặt
bàn thờ gia tiên ở phía trong và phía ngoài là bộ bàn ghế tiếp khách.Người
Việt có quan niệm ‘đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại’, nên gian chính là bộ mặt
của chủ nhà, lại là nơi thờ cúng của tổ tiên nên được bài trí hết sức công phu
so với các gian bên cạnh. Trong khi đó ở Triều Tiên nhà thờ thường xây ở
phía sau, phòng của phụ nữ (anbang - 안방) được đặt ở phía sau nhà và là
nơi tụ họp của cả gia đình còn phần phía trước của gian nhà (sarangbang -
사랑방) là nơi ở của người chủ gia đình vfa cũng là nơi tiếp khách của cả
nhà. Nếu người chủ là người có học, phòng của người đó sẽ được trang bị
một bàn học, giá sách, sách và một vài cái đệm.
Nhìn chung văn hóa ở của người Triều Tiên và người Việt Nam có rất

chuột dành cho dân nhập cư và những gia đình có thu nhập thấp như tại
Pháp. Vào thập niên 1960 và 1970, các căn hộ chung cư là nơi ở của các
thành phần thu nhập thấp tại HQ, nhưng bây giờ tầng lớp trung và thượng
lưu chiếm đa số. Các căn hộ chung cư được xây dựng hàng loạt không chỉ
tại trung tâm thủ đô Seoul mà còn ở ngoài rìa thủ đô và tại các tỉnh thành
khác, nơi giá đất rẻ hơn. Mục tiêu ban đầu của việc xây dựng chung cư giá
rẻ đã không còn từ lâu rồi, khi các nhà thầu xây dựng tập trung xây các tòa
chung cư chọc trời, hiện đại.
Nguyên nhân do đâu người dân HQ quay sang yêu chuộng căn hộ
chung cư một cách cuồng nhiệt? Một lý do: mua một căn hộ chung cư là một
trong những phương cách hữu hiệu nhất để thể hiện sự giàu có và chắc chắn
có lời. Theo Gelézeau, sự thống trị của căn hộ chung cư có một phần do
chính sách ấn định giá căn hộ chung cư của chính phủ lên các nhà thầu xây
dựng vào những năm 1970, 1980, đã giúp đẩy giá căn hộ lên cao và giúp các
chủ căn hộ có thêm một số lợi nhuận khi bán nhà.
Theo lý thuyết kinh tế, việc xuống giá của những ngôi nhà đơn lẻ sống
chung nhiều thế hệ gia đình hoặc một gia đình là điều tự nhiên. Khi nhà cửa
trở thành phương tiện thể hiện tài sản dễ thấy nhất, người HQ sẽ bán những
ngôi nhà riêng lẻ để chuyển đến những nơi ở mà giá căn hộ có xu hướng
tăng lên từng tháng. Hệ quả là năm 2006 có đến 19% ngôi nhà đang ở được
buôn bán tại HQ so với 5% tại những nước tiến bộ. Dù một số người tin rằng
đến một lúc nào đó những người giàu sẽ chia tay với căn hộ chung cư để trở
về với loại nhà riêng lẻ, thì nhiều người được hỏi vẫn khẳng định họ thích
sống trong những căn hộ chung cư chứ không chỉ vì đầu cơ để bán kiếm lời.
Singapore và Hong Kong là xứ sở của nền văn hóa nhà ở căn hộ
chung cư. Tại Nhật Bản, đất nước vốn có truyền thống sống trong loại nhà
riêng lẻ, nay cũng chứng kiến sự nổi lên của những tòa cao ốc chung cư ở
các đô thị. Tại một số nước tiên tiến khác, đô thị hóa cũng đi kèm với phát
triển loại nhà căn hộ chung cư trong tình hình quĩ đất ngày càng ít đi. Hiện
các công ty xây dựng HQ đang xuất khẩu nền văn hóa căn hộ chung cư sang

trọn gói. Vai trò là chỗ trú ẩn, nơi mà các thành viên trong gia đình tương trợ
cũng như đùm bọc lẫn nhau không còn có thể duy trì trong môi trường sinh
hoạt mới. Đặc biệt khi chung cư được xây dựng nhiều và trở thành hình thức
nhà ở đại chúng cùng với tâm lý tiện lợi, hiệu quả được đặt lên hàng đầu.
Bảng dưới đây thể hiện sự thay đổi trong cơ cấu gia đình của xã hội
Hàn Quốc trong những năm vừa qua:
Bảng: Phân bố gia đình theo quy mô thành viên
2
1 người 2 người 3 người 4 người 5 người >6 người
1975 4.2 8.3 12.3 16.1 18.3 40.7
1980 4.8 10.5 14.5 20.3 20.0 29.8
1985 6.9 12.3 16.5 25.3 19.5 19.5
1990 9.0 13.8 19.1 29.5 18.8 9.8
Nguồn: Thống kê xã hội Hàn Quốc, 1996
Như vậy chúng ta có thể thấy gia đình với 5 ~ >6 thành viên vào
những năm 1975 chiếm tới 60% dân số trong khi đó tới những năm 1990, tỷ
lệ này giảm xuống còn ~30%. Ngược lại, mô hình gia đình 3 và 4 thành viên
1
Hội nghiên cứu lịch sử Hàn Quốc, 100 năm qua chúng ta đã sống như thế nào? (반
반반 반반 100반 반반반반반 반반반반?) (cuốn 1), tr200, YoksaBiPyongSa, 1998
2
Kim Kwang Dong chủ biên, 2007, Hiểu về lịch sử hiện đại Hàn Quốc, NXB
GyongDeok, tr.224
theo từng năm đều tăng. Gia đình với 2 thành viên cũng tăng theo từng năm
cho thấy sự phát triển của gia đình hạt nhân thay thế cho gia đình đa thế hệ,
nhiều thành viên và gia đình tiểu thành viên (vợ - chồng) cho thấy thực tế
giảm sinh của xã hội Hàn Quốc.
b) Văn hóa nhà riêng:
 Phương hướng, vị trí xây dựng:
Xây quay lưng lại ngọn đồi hoặc dốc và quay mặt tiền về hướng Nam

Một trong những ưu điểm của kiến trúc là phòng khách sẽ trông rất
thoáng do cách thiết kế mở rộng. Phòng khách được thông suốt với phòng
đọc hoặc phòng ăn, phòng trà. Đôi khi chỉ được ngăn cách bằng một tấm
bình phong kính mờ khiêm không gian trở nên thông thoáng mà lại tiếp
kiệm được khoảng không gian.
Phòng khách và phòng đọc có thể được thông nhau bằng cách tạo sàn
nhà cấp bậc (phòng khách có thể thấp hơn phòng ăn hai bậc thang, nhưng
vẫn vẫn chung một không gian.
3. Các yếu tố truyền thống ảnh hưởng đến nhà ở hiện đại
Nhà của người Hàn Quốc, kể cả cũ hay mới, đều được xây để bảo vệ
chủ nhân của nó khỏi những yếu tố bên ngoài. Trần hơi thấp, các phòng
tương đối nhỏ và không có nhiều cửa sổ hay cửa ra vào.
Mục tiêu xây dựng chính: giữ ấm. Một số phòng có sàn ondol, tức là
sàn nhà được sưởi ấm từ bên dưới. hệ thống sưởi này rất quen thuộc trong
đời sống của người Hàn Quốc và thậm chí còn trở thành mốt. Một số các
ngôi nhà xây theo kiểu phương Tây trong những năm gần đây có một số
phòng được trang bị hệ thống sưới kiểu này. Tương tự như vậy, nhiều người
Hàn Quốc vẫn thích ngồi và nằm trên đệm và thảm dầy được trải dưới sàn
nhà.
Cho tới hiện nay, vẫn có rất ít nhà có ghế và giường. Mọi sinh hoạt
đều diễn ra trên sàn nhà (ăn, ngủ, trò chuyện…). Vì mọi sinh hoạt đều diễn
ra trên sàn nhà nên người Hàn luôn bỏ dép trước khi bước vào nhà.
Thiết kế và xây dựng mang tính mở, tiếp nhận ánh sáng triệt để và hòa
hợp với thiên nhiên.
III. TỔNG KẾT:
Nhìn chung nhà truyền thống của người Hàn Quốc, gần như không
thay đổi từ thời Tam Quốc cho tới cuối Triều đại Joseon (1392-1910). Nhà
của người dân thường được chọn xây dựa trên phong thủy. Phong thuỷ cũng
ảnh hưởng đến hình dáng công trình, đến hướng của mặt tiền nhà và vật liệu
dùng để xây dựng. Cách bố trí nhà phần lớn tùy thuộc vào từng vùng và điều

Kim Kwang Dong chủ biên (2007), Hiểu về lịch sử hiện đại Hàn Quốc.
NXB. GyongDeok
YoksaBiPyongSa (1998), 100 năm qua chúng ta đã sống như thế nào? (우
리는 지난 100 년 동안어떻게 살았을까?) (cuốn 1). Hội nghiên cứu lịch sử
Hàn Quốc
DANH SÁCH THÀNH VIÊN VÀ PHÂN CÔNG.
- Bùi Thanh Phương. MSSV: 0956110181
-> I. KHÁI QUÁT CHUNG + II.1a.Phân loại.
- Lê Vũ Phương Thảo. MSSV: 0956110213
-> II.1b. Đặc điểm: (vị trí, phương hướng, cấu trúc)
- Ngô Thị Thúy Hằng (nhóm trưởng) MSSV:0956110061
-> II.1b. Đặc điểm: (trang trí) + II.1c
- Phạm Thị Xuân Đài. MSSV: 0956110044
-> II.2. Những nét thay đổi trong văn hóa ở + III. Kết luận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status