BÀI TIỂU LUẬN Trường cao đằng sư phạm Huế
LỜI NÓI ĐẦU
Ở mỗi quốc gia, thị trường tiền tệ luôn đóng góp vai trò quan trọng để điều tiết cung cầu nguồn
vốn ngắn hạn , nhằm đảm bảo yêu cầu hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời
sống xã hội của các tổ chức và cá nhân.
Dù trong giai đoạn hoàn thiện nhưng thị trường tiền tệ ở nước ta vẫn chưa thật sự phát triển so
với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta vẫn còn quá non trẻ, vẫn còn gặp quá nhiều
bất cập và rất cần sự đẩy mạnh trong quá trình hoàn thiện để phát triển.
Do đó, việc đánh giá thực trạng, hạn chế thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời gian qua và đưa
ra những mục tiêu, định hướng đúng đắn trong những nắm tới là vô cùng quan trọng, vì chúng ta
đang trên đà hội nhập với quốc tế, vẫn đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Nhìn thấy tầm quan trọng của đề tài này, em đã dành thời gian tìm hiểu và nghiên cứu và trình
bày tiểu luận học phần Tài Chính Tiền Tệ với đề tài “Thị Trường Tiền Tệ Việt Nam “. Vì đây là
đề tài nghiên cứu sâu rông, rất quan trọng nhưng với kiến thức còn hạn chế của em nên cũng khó
gặp còn thiếu sót trong làm bài tiểu luận. Em rất chân thành nhận được sự đánh giá, góp ý kiến
của thầy cô, giúp em rút được kinh nghiệm cho những đề tài sau. Cuối cung em xin chân thành
cảm ơn thầy cô đã tạo điều kiện cho em nghiên cứu đề tài này.
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 1
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI.
1.1 Mục tiêu:
Nghiên cứu về thị trường tiền tệ Việt Nam nhằm đưa ra mục đích các giải pháp để ổn định và
phát triển thị trường tiền tệ ngân hàng Việt Nam.
1.2 Nhiệm vụ đề tài:
Hiểu được khái niệm, chức năng thị trường tiền tệ.
Cách phân loại thị trường tiền tệ Việt Nam.
Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ và tình hình thị trường tiền tệ Việt Nam trong những năm
qua.
2. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.
1.3 Phâm loại thị trường tiền tệ:
1.3.1 Phân loại theo cách thức tổ chức:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
Thị trường tiền tệ theo cách cổ điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các TCTD đặt dưới sự
quản lí NHTW.
Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các tái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp sau
đây:
o Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn lần đầu.
o Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã phát hành ở
thị trường sơ cấp.
Thị trường mở ( openmaret operation).
1.3.2 Phân loại theo đối tượng tham gia:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM ( hay là thị trường liên ngân hàng- Interbank): thị
trường này dưới sự điều hành của NHTM nhằm mục đích điều tiết vốn trong các hệ thống
NHTM, đồng thời, tạo điều kiện cho NHTM thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng.
Thị trường các công nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, tín phiếu ngân hàng,
chứng chỉ tiền gửi,… bao gồm cả thị trường phát hành và thị trường lưu thông, thị trường này
biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ.
Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại giao dịch ngoại tệ và các phương tiên thanh
toán có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ. Thị trường
ngoại hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng nững nhu cầu về thương
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 3
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
mại, đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là là tạo điều kiện can thiệp của NHTM
nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia.
1.4 Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ:
Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hành là thị trường sơ
khai của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữa các NHTM với
các TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán các TCTD. Vì vậy, nếu xét theo chiều ngang,
(CSTT) không thể là đơn mục tiêu, bởi kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế ở mức hợp lý đều là những vấn đề trọng yếu của nền kinh tế.
2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, lãi suất được điều chỉnh giảm phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, diễn biến của lạm
phát
Năm 2012, NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu,
trần lãi suất huy động và 6 lần giảm lãi suất thị trường mở, theo đó từng bước được điều chỉnh
giảm lãi suất cho vay để doanh nghiệp tiếp cận được vốn. Trong 9 tháng đầu năm 2013, NHNN
đã 3 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay với lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp nông thôn, xuất
khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ. Cùng với điều chỉnh lãi suất VND, việc điều chỉnh lãi suất
huy động USD được thực hiện gắn với các mục tiêu về chống đô la hóa và quản lý ngoại hối. Dù
các biện pháp điều hành lãi suất thời gian qua mang tính hành chính, nhưng không thể phủ nhận
hiệu quả của nó trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Điều dễ thấy nhất là lãi suất huy động
giảm mạnh, nhưng nguồn huy động tiền gửi của dân cư vẫn tăng, với kỳ hạn dài hơn. Tính đến
20/9/2013, tiền gửi VND của dân cư vẫn tăng 13,78% so với cuối năm 2012. Sau nhiều năm,
đường cong lãi suất vốn mới được “tái tạo” thay vì “kẻ thẳng” như trước đó. Điều đó cũng có
nghĩa là phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế đã từng bước hợp lý hơn, các TCTD có thể huy
động được nguồn vốn trung, dài hạn và ổn định hơn, giảm chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản nợ và
tài sản có. Vai trò của NHNN trong việc dẫn dắt thị trường đã thể hiện rõ hơn, thông qua diễn
biến lãi suất và tỷ giá hối đoái trên thị trường liên ngân hàng. Có thể coi đây là thành công bước
đầu về điều hành chính sách lãi suất thời gian qua.SVTH: Trần văn Duy Hải Page 5
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
Hai là, chính sách tín dụng hướng đến chất lượng,mức tăng trưởng hợp lý với khả năng tăng
trưởng của nền kinh tế.
Tăng trưởng tín dụng nóng với các điều kiện tín dụng được nới lỏng là một trong những nguyên
nhân gây ra nợ xấu và lạm phát tăng cao trong những năm 2007-2011. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra là
phải giảm qui mô tăng trưởng tín dụng, cải thiện về chất lượng tăng trưởng gắn với an toàn hệ
lạnh mạnh.
Về tái cơ cấu, tập trung chỉ đạo xử lý 9 NHTMCP yếu kém từ đầu năm 2012, yêu cầu các TCTD
này xây dựng phương án cơ cấu lại trình NHNN phê duyệt. Trên cơ sở đề án đã được phê duyệt
các TCTD yếu kém chủ động sáp nhập, sắp xếp trên tinh thần tự nguyện. Đến nay về cơ bản là
sắp xếp xong 9 ngân hàng yếu kém, loại bỏ được nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tăng cường kỷ cương
kỷ luật và giám sát minh bạch hoạt động của các tổ chức tín dụng. Đây là những kết quả bước
đầu, còn việc nâng cao chất lượng sau tái cấu trúc như: xử lý nợ xấu, yêu cầu đáp ứng đủ vốn
điều lệ thực; xử lý cơ cấu sở hữu vốn của các TCTD, nâng cao trình độ quản trị nội bộ là những
bước tiếp theo mà NHNN sẽ chỉ đạo sát các TCTD phải thực hiện trong năm 2014 và những năm
tiếp theo.
Về xử lý nợ xấu, để xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu gia tăng trong tương lai, NHNN đã đưa ra 5
nhóm giải pháp: (i) nhóm giải pháp đối với TCTD, (ii) nhóm giải pháp đối với khách hàng của
TCTD, (iii) nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, (iv) nhóm giải pháp về thanh tra, giám sát và
(v) giải pháp thành lập Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC). 04 nhóm giải pháp đầu đã
được các TCTD triển khai quyết liệt, bằng cách tiết giảm chi phí hoạt động, chi phí tiền lương,
hạn chế chia cổ tức, lợi nhuận, nâng cao chất lượng nợ, kiểm soát rủi ro tín dụng; cơ cấu lại nợ
đối với một số khoản vay của các khách hàng có triển vọng phục hồi và phát triển, xử lý bằng
nguồn trích dự phòng rủi ro. Còn xử lý nợ xấu qua VAMC, đây là vấn đề mới, mặc dù VAMC đã
chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2013 với nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục
tiêu lợi nhuận, dự kiến sẽ xử lý khoảng 35.000 tỷ đến 40.000 tỷ đồng nợ xấu trong quí 4 năm
2013là những điểm nhấn về xử lý nợ xấu của hệ thống NH Việt Nam. Vừa qua đã có Agribank
bán 2.400 tỷ đồng nợ xấu cho VAMC trong khoản nợ xấu hàng chục ngàn tỷ đồng theo giá trị sổ
sách, bước đầu sẽ giúp Agribank đưa ra khỏi bảng cân đối món nợ xấu này, gỉam chi phí trích dự
phòng rủi ro, từng bước khắc phục lỗ. Như vậy, nhờ nỗ lực của Chính phủ, NHNN cũng như bản
thân từng TCTD quyết liệt trong việc xử lý nợ xấu, nên tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh từ mức 8,86%
tổng dư nợ cuối năm 2012 xuống còn 4,42% tính đến cuối tháng 8/2013.
Thứ tư, thị trường ngoại tệ và thị trường vàng cũng ghi nhận nhiều sự cải thiện nhờ chính sách
tỷ giá hối đoái hợp lý.
Thị trường ngoại hối ổn định nhờ các giải pháp điều hành nhất quán, kết hợp đồng bộ giữa chính
sách tỷ giá, lãi suất. Ngay từ đầu năm 2013, Thống đốc NHNN đã đề ra mục tiêu ổn định tỷ giá
NHNN đã tiếp tục nỗ lực mạnh mẽ trong công tác điều hành, đảm bảo các chính sách, diễn biến
tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế,
đồng thời đề cao tính khoa học trong điều hành. Đây là năm thứ hai liên tiếp, nền kinh tế chứng
kiến những nỗ lực mạnh mẽ của NHNN trong công tác điều hành CSTT hướng tới mục tiêu lớn
như kiểm soát lạm phát, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), tháo gỡ khó khăn cho
khu vực sản xuất, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Có thể thấy, CSTT ngày càng chứng tỏ
được vai trò then chốt trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần quan trọng trong việc
tăng cường tính ổn định của nền kinh tế.
Những kết quả đạt được của năm 2012-2013
Một là, mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong công tác điều hành của NHNN là lạm phát đã được
kiềm chế, diễn biến theo xu hướng giảm và khá ổn định. Nếu lạm phát của năm 2012 là 6,81% thì
lạm phát của năm 2013 chỉ ở mức 6,04% - mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây (xem Đồ
thị 1).
Đồ thị 1.
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 8
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
Diễn biến lạm phát 2011 - T12/2013 Diễn biến lãi suất 2008 - T11/2013
Nguồn: NHNN và Tổng cục Thống kê
Hai là, chính sách lãi suất được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn
biến của lạm phát. Tính chủ động của công cụ lãi suất trong việc truyền dẫn tín hiệu tới thị trường
đã được cải thiện rõ nét. Trong năm 2013, các mức lãi suất điều hành của NHNN được điều chỉnh
giảm hai lần. Hiện tại, lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ mức 9%/năm xuống còn
7%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 7%/năm xuống còn 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong
thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của
NHNN đối với các ngân hàng từ 10%/năm xuống còn 8%/năm. Trên thị trường 1, NHNN đã thực
hiện giảm 3% lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên; giảm 1%
lãi suất tiền gửi tối đa bằng VNĐ. Đồng thời từ tháng 6/2013, NHNN đã cho phép các TCTD tự
ấn định lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Đây là bước đi cần thiết để NHNN hướng tới
thực hiện tự do hóa lãi suất. Diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng theo sát với lãi suất
chỉ đạo của NHNN và giảm mạnh. Lãi suất huy động giảm liên tục khoảng từ 2 - 4%, lãi suất cho
Nguồn: NHNN
Sáu là, hoạt động của hệ thống các TCTD dần đi vào ổn định, tình hình thanh khoản của hệ
thống được cải thiện rõ nét qua từng năm, rủi ro đổ vỡ hệ thống đã bị đẩy lùi; các ngân hàng
thương mại đáp ứng ngày càng tốt hơn các quy định đảm bảo an toàn trong hoạt động; tốc độ tăng
nợ xấu đã chậm lại
2.3 Một số thách thức và khuyến nghị trong điều hành chính sách tiền tệ thời gian tới
Với đóng góp không nhỏ của chính sách tiền tệ trong thời gian qua, môi trường kinh tế vĩ mô đã
được cải thiện: lạm phát ở mức thấp, tỷ giá tương đối ổn định, dự trữ ngoại hối được cải thiện
mạnh, hạn chế rủi ro tín dụng quốc gia, tác động tích cực đến cán cân thương mại và cán cân
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 10
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
thanh toán. Tuy nhiên, những khó khăn ở phía trước vẫn còn rất lớn, đó là môi trường kinh tế vĩ
mô vẫn chưa ổn định, huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn trong bối
cảnh hệ thống thị trường tài chính tính thanh khoản kém; nền tảng cạnh tranh của doanh nghiệp
rất thấp; những nút thắt của nền kinh tế về thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực vẫn chưa
được tháo gỡ một cách hiệu quả. Trong khi tổng đầu tư xã hội giảm mạnh (dự báo năm 2013 đạt
khoảng 29,7 % GDP); mức tăng bán lẻ và dịch vụ (tính giá trị danh nghĩa) đã giảm từ 24% năm
2011 xuống 16% năm 2012 và còn 11,9% 6 tháng đầu năm 2013; Khu vực tài chính - ngân hàng
còn rất yếu, tuy những rủi ro hệ thống đã có phần được cải thiện, nhưng nợ xấu đang ở mức cao,
TTBĐS còn nhiều khó khăn, số doanh nghiệp ngừng hoạt động đến 30 tháng 9 năm 2013 vẫn
tăng 13 % so với cùng kỳ, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có tăng nhẹ, nhưng vẫn thấp
so với khu vực (xếp thứ 70/148 quốc gia). Những khó khăn này đang đặt ra nhiều thách thức đối
với chính sách tiền tệ trong giai đoạn tới. Cụ thể:
Một là, Do tăng trưởng kinh tế chậm lại, dễ tạo sức ép tiếp tục nới rộng chính sách tiền tệ, tạo
áp lực lạm phát, sẽ dễ làm xói mòn các kết quả mới đạt được thời gian qua.
Tuy tăng trưởng tín dụng tháng 8 đã khá hơn mức tháng 7/2013, tốc độ tăng M2 là 8,2%, nhưng
cũng chưa được như kỳ vọng của nền kinh tế. Nguyên nhân của thực trạng này là do cầu tín dụng
thấp, trong khi hàng tồn kho dù đã có cải thiện song vẫn còn rất lớn. Hiện lãi suất cho vay đã
giảm rất nhiều, ví dụ lãi suất trung, dài hạn một số ngân hàng hiện chào chỉ còn 10-
12%/năm nhưng khả năng hấp thụ vốn rất thấp. Sự luân chuyển vốn chưa thông suốt, do mắc nợ
Hai là, những bất cập trên các thị trường vẫn chưa khắc phục, do lực cầu yếu .
Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng bắt đầu hình thành đường cong lãi suất theo xu hướng
giảm. Song do sự phát triển không đều của các thành viên trên thị trường, còn tồn tại một số các
định chế tài chính yếu kém, buộc NHNN vẫn phải áp dụng trần lãi suất huy động, điều này còn
cản trở việc hình thành lãi suất dựa trên cung - cầu. Đồng thời, thị trường cũng bắt đầu có dấu
hiệu bất hợp lý giữa các mức lãi suất, do vậy việc hình thành đường cong lãi suất chuẩn của thị
trường tiền tệ còn rất khó khăn. Hiện nay, việc vay mượn lẫn nhau của các thành viên trên thị
trường liên ngân hàng chưa thực sự thông suốt, do mức độ tín nhiệm thấp, doanh số cho vay trên
thị trường liên ngân hàng 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ, nhiều ngân hàng thừa vốn,
nhưng cũng có nhiều ngân hàng đang trong quá trình sáp nhập, hợp nhất thiếu vốn phải tiếp cận
vốn từ NHNN. Trên thị trường thứ cấp, việc mua, bán lại giấy tờ có giá, trái phiếu Chính phủ
giữa các định chế tài chính dường như chưa phát triển, mà chủ yếu giấy tờ có giá do các NHTM
nắm giữ chỉ để mua bán lại với NHNN qua thị trường mở, dẫn đến tính thanh khoản của các
công cụ tài chính trên thị trường hạn chế; các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ còn chưa đa dạng,
đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh hoán đổi, mua bán kỳ hạn… phát triển còn hạn chế. Chính
những vấn đề này, gây khó khăn không nhỏ trong việc điều hành CSTT.
Thị trường BĐS thanh khoản yếu ở một số phân khúc. Các dự án triển khai chậm do thiếu vốn
diễn ra khá phổ biến. Giá cả BĐS đã sụt giảm ở tất cả các phân khúc thị trường, tuy nhiên số
lượng giao dịch cũng không nhiều, một số dự án không có giao dịch. Điều này không chỉ gây
khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh BĐS mà còn ảnh hưởng tới chất lượng tài sản của
các tổ chức tín dụng, bởi phần tài sản bảo đảm cho khoản vay là các BĐS dưới các dạng khác
nhau. Vì thế, cần rà soát lại các giải pháp cho TTBĐS theo Nghị quyết 02 của Chính phủ như:
Hỗ trợ tín dụng với gói 30.000 tỷ đồng; mở rộng diện người nước ngoài được mua nhà ở tại Việt
Nam; Giải quyết BĐS tồn đọng thông qua cơ chế xử lý tài sản gắn với vốn; giải pháp nâng cao
chất lượng qui hoạch và tái cấu trúc thị trường…đồng thời với việc cải thiện chính sách của nhà
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 12
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
nước để TTBĐS phục hồi nhanh hơn, thu hút được nhiều hơn các nhà đầu tư trong và ngoài nước
tham gia thị trường.
Ba là, khu vực DNNN thực hiện tái cơ cấu chậm, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh
tỷ giá trong năm 2013 đã được NHNN điều hành linh hoạt hơn so với năm 2012 nhưng vẫn đảm
bảo được xu hướng ổn định để góp phần kiểm soát lạm phát, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát
nhập khẩu, tăng dự trữ ngoại hối;
+ Các giải pháp giải phóng kênh tín dụng được NHNN thực hiện mạnh mẽ thông qua các
chương trình tái cấu trúc, giải quyết nợ xấu tồn đọng, hoàn thiện cơ chế quản trị rủi ro tín dụng,
rủi ro thị trường, thông qua các chương trình tọa đàm xúc tiến đầu tư theo vùng lãnh thổ, theo
ngành nghề. Bên cạnh đó, NHNN cũng tổ chức các buổi làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp
trên cả nước để nắm bắt các nút thắt và chung tay tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh;
+ Các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường liên ngân
hàng trong việc truyền tải những thay đổi trong điều hành CSTT của NHNN tới các điều kiện tiền
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 13
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
tệ (mức cung tiền và lãi suất thị trường) đối với nền kinh tế; cung cấp các chỉ báo về tình hình vốn
khả dụng của hệ thống các TCTD;
+ Các biện pháp điều hành lãi suất với những bước đi thích hợp, đảm bảo giảm nhanh chóng
và hiệu quả mặt bằng lãi suất, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, từng bước hình thành đường
cong lãi suất, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối;
+ Các giải pháp thiết lập kỷ luật thị trường tiền tệ được thực hiện nghiêm túc trên cơ sở điều
hành CSTT gắn kết chặt chẽ với công tác thanh tra, giám sát, đảm bảo thực thi nghiêm các chính
sách của NHNN, qua đó giúp cơ chế truyền tải CSTT được vận hành tốt hơn.
Hai là, phối hợp các công cụ điều hành một cách linh hoạt, hiệu quả, từng bước tạo lập các
điều kiện cần thiết để chuyển sang cơ chế điều hành gián tiếp khi thuận lợi, cụ thể như sau:
+ Phối hợp giữa điều hành lãi suất và tỷ giá hướng tới đảm bảo lợi ích nắm giữ đồng nội tệ,
khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu bán lại ngoại tệ cho các TCTD, ổn định kỳ vọng lạm
phát và ổn định tỷ giá theo cam kết điều hành hàng năm;
+ Tăng cường vai trò của công cụ thị trường mở, phối hợp nhịp nhàng với các kênh của thị
trường tiền tệ để điều tiết lượng tiền cung ứng. Theo đó, Nghiệp vụ OMO được điều hành linh
hoạt, thận trọng thông qua hoạt động mua các giấy tờ có giá và bán tín phiếu NHNN với kỳ hạn
và lãi suất được điều chỉnh phù hợp với diễn biến của thị trường để hỗ trợ thanh khoản và điều
và vượt số đánh giá thu ngân sách nhà nước năm 2013 Chính phủ đã báo cáo Quốc hội. Quản lý
chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm, hạn chế bổ sung nhiệm vụ chi ngoài kế hoạch, đảm bảo cân đối ngân
sách nhà nước. Triển khai giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2014 đã được Quốc hội
phê chuẩn và Thủ tướng Chính phủ quyết định, bảo đảm thời hạn quy định. Đẩy mạnh giải ngân
vốn trái phiếu Chính phủ, ngân sách nhà nước, ODA để bảo đảm tiến độ các dự án đầu tư xây
dựng; chủ trì, phối hợp với Bộ Công an đề xuất điều chỉnh mức chi hiện hành cho lực lượng cảnh
sát giao thông trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông.
3.2 Giải pháp:
3.2.1Giải pháp trước mắt:
Tháo gỡ ngay một số vướng mắt về pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch trên thị
trường tiền tệ và tăng cường công cụ giao dịch trên thị trường.
o Đề nghị Chính phủ cho phép trái phiếu đặc biệt được giao dịch trên thị trường tiền tệ như các
trái phiếu khác của kho bạc.
o Đề nghị NHNN bổ sung, sửa đổi một số quy định tăng thêm tính thông thoáng cho thị trường
o Đề nghị Bộ tài chính xem xét về các loại trái phiếu với nhiều kỳ hạn
Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và thị trường đấu thầu trái phiếu chính
phủ.
o NHNN và Bộ tài chính kết hợp tăng cường khối lượng tín phiếu Kho bạc Nhà nước đấu thầu
hàng tháng, hàng quý, hàng năm và linh hoạt lãi suất các phiên đấu thấu phải sát với thị trường.
o Điều hành linh hoạt thị trường mở, tăng số số phiên giao dịch, đa dạng hóa các loại kỳ hạn và lãi
suất để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các TCTD.
3.2.2 Giải pháp thường xuyên và lâu dài:
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền tệ.
o Ban hành một bộ văn bản đồng hướng dẫn thực hiện các công cụ phái sinh, phòng ngừa các rủi
ro theo thông lệ của quốc tế, đẩy mạnh các nghiệp vụ kỳ hạn và hoán đổi, cho phép các NHTM
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 15
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
thực hiện giao dịch quyền chọn tương lại để phòng ngừa rủi ro do tỷ giá, góp phần cải thiện tính
linh hoạt thanh khoản của thị trường.
o Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp lý trong khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thị trường thứ
mạnh giải pháp nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, năng lực tài chính cũng như năng lực
cạnh tranh.
o …
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 16
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
KẾT LUẬN
Thị trường tiền tệ còn nhiều vấn đề bất cập, song vẫn không thể phủ nhận sự đóng góp tích
cực trong vai trò điều tiết nguồn vốn ngắn hạn. Với vai trò là thế hệ trẻ tương lai, là nguồn động
lực của đất nước, có thể là những doanh nhân,… là sinh viên chúng em còn phải trao dồi kiến
thức, thông tin này để biết mà vận dụng trong thực tiễn. Tuy rằng bài viết này còn có sự thiếu sót
mong thầy(cô) thông cảm vì kiến thức còn hạn chế, mong có sự đóng góp quý báu của thầy(cô)
để nội dung trình bày đầy đủ hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cám ơn!.
SVTH: Trần văn Duy Hải Page 17
BÀI TIỂU LUẬN Trường Cao Đẳng sư phạm Huế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các nguồn internet:
- />15.html#_ftnref1.
-
- …
Giáo trình Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ - Dương Thị Bình Minh – Đại học kinh tế TP Hồ
Chí Minh.
Giáo trình Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ - Phan Thị Cúc – NXB Thống Kê.
- Tài liệu hội thảo “Nhìn lại điều hành chính sách của NHNN 2011 - 2013: Những kết quả
và thách thức, ngày 30/10/2013”.
- Nghị quyết số 121/NQ-CP của Chính phủ: Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ
tháng 11/2013.
- Website của NHNN, Tổng cục Thống kê.
Và các văn bản có liên quan.