Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
LỜI MỞ ĐẦU
Than ở nước ta là một trong các loại tài nguyên có trữ lượng lớn. Công tác thăm
dò, khai thác, kinh doanh sản xuất đã được tiến hành từ rất lâu. Cùng với sự phát triển
về kinh tế - xã hội nhu cầu tiêu thụ than cho sinh hoạt và sản xuất tăng cao. Quá trình
khai thác và chế biến cũng diễn ra mạnh mẽ hơn. Kèm theo đó là những hệ quả nặng nề
để lại cho môi trường.
Khai thác than là ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường khá lớn về nhiều
mặt: tiếng ồn, rung chấn, bụi, khí thải, nước thải Ngoài ra, khai thác than còn là hình
thức sản xuất tồn tại khá nhiều những sự cố, rủi ro nghiêm trọng. Đó là những nguy cơ
ảnh hưởng tiêu cực đối với chất lượng môi trường, đòi hỏi công tác quản lý bảo vệ môi
trường cần có giải pháp thiết thực.
Để hạn chế những tác động của công tác khai khoáng đến con người và môi
trường. Việc nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đưa ra biện pháp để giảm
thiểu những tác động đó là một việc làm cần thiết và cấp bách. Vì vậy luận văn tốt
nghiệp em đã chọn đề tài “Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề
xuất các giải pháp bảo vệ môi trường”.
Nội dung đồ án của em gồm những phần sau:
• Tổng quan về ngành khai thác than Việt Nam.
• Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường và tình hình
khai thác của mỏ than Nông Sơn.
• Đánh giá dự báo các tác động môi trường.
• Đề xuất các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa các tác động.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 1
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHAI THÁC THAN VIỆT NAM
Than là loại khoáng sản được sử dụng là nguyên liệu đốt cho hầu hết các ngành
lượng
(ngàn tấn)
Trữ lượng khai
thác lộ thiên
(ngàn tấn)
Trữ lượng khai
thác lò bằng
(ngàn tấn)
Trữ lượng khai
thác giếng đứng
(ngàn tấn)
Trữ lượng
đã thăm dò
215.476 470.356 2.837.808
Trữ lượng
mỏ đang
khai thác
1.422.362 192.442 150.793 1.079.127
Trữ lượng
các mỏ
chuẩn bị
khai thác
333.563 12.410 113.746 207.407
(Nguồn: Công ty khảo sát thiết kế mỏ)
Bể than đồng bằng sông Hồng (ĐBSH): nằm trọn trong vùng đồng bằng châu
thổ sông Hồng, có đỉnh là Việt Trì và đáy là đường bờ biển kéo dài từ Ninh Bình đến
Hải Phòng, thuộc các tỉnh thành phố: Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng,
Bắc Ninh, Hà Nội,…và dự kiến còn kéo dài ra vùng thềm lục địa của biển Đông Việt
Nam. Với diện tích khoảng 3500 km
2
Phần trăm
(%)
Loại than Mục đích sử dụng
1 Bể than Antraxit
Quảng Ninh
10,5 4,6 Antraxit Nhiên liệu đốt cho
nhà máy nhiệt điện.
2 Bể than đồng
bằng sông Hồng
210 92 Asbitum B Nhiên liệu cho
công nghệ nhiệt
điện, xi măng, luyện
thép và hoá chất.
3 Các mỏ than
vùng Nội địa
0,4 0,17 Than nâu -
lửa dài
Than mỡ
Than bán
antraxit
Chất đốt sinh hoạt
(pha trộn với than
antraxit.
- Dùng chủ yếu cho
ngành luyện kim.
4 Mỏ than Bùn 7 3,13 Than bùn Làm phân bón phục
vụ nông nghiệp.
Hình I.1: Biểu đồ tỉ lệ phần trăm trữ lượng than Việt Nam
I.1.2. Tình hình khai thác than hiện nay
Theo Cơ quan thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng khai thác của Việt
sát, thăm dò địa chất để chuẩn bị cho dự án khai thác. Dự kiến sẽ thực hiện quá trình
khai thác thử nghiệm trong năm 2015. Sẽ bắt đầu khai thác ở tỉnh Thái Bình, Hưng
Yên nơi chiếm 90% trữ lượng.
Theo TKV cho biết sẽ không áp dụng công nghệ khai thác than lộ thiên như ở
Quảng Ninh hiện nay. Tại bể than ĐBSH, các vỉa than có thể khai thác chủ yếu nằm ở
độ sâu -450m đến -1700m. Vì vậy, hai công nghệ chính dự kiến được lựa chọn áp dụng
cho việc khai thác bể than ĐBSH là phương thức hầm lò và khí hóa than. Dự kiến từ
nay đến 2015 sẽ tiến hành thử nghiệm bốn loại hình công nghệ gồm:
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 5
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
- Khai thác hầm lò phần nông (-450 ÷ -600m);
- Khai thác hầm lò phần dưới sâu (-600 ÷ -1200m);
- Khí hóa than vỉa mỏng; vừa nằm nông (-300 ÷ -450m); vừa nằm sâu (-450 ÷
-900m).
Điều đáng lo ngại lớn nhất cho việc khai thác than tại bể than ĐBSH là sự ảnh
hưởng đến hệ thống nước ngầm và sự lún sụt đất của vùng châu thổ sông Hồng. Các dự
án phát triển bể than này rất nhạy cảm về mặt môi trường, liên quan đến quy hoạch
tổng thể trên các địa bàn quan trọng như Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định.
I.1.2.3. Đối với mỏ than Khánh Hoà
Xí nghiệp Than Khánh Hoà là đơn vị khai thác than lộ thiên thuộc Công ty
Công nghiệp mỏ Việt Bắc. Năm 2009, Công ty than Khánh Hoà được giao sản xuất và
tiêu thụ một sản lượng than, cao nhất so với từ trước đến nay (khai thác, sản xuất và
tiêu thụ trên 700.000 tấn than, bóc 5.400.000 m
3
khối đất đá). Năm 2010, sản xuất và
tiêu thụ than của khu mỏ đã gặp nhiều khó khăn, do khai thác than ngày càng xuống
sâu. Mỏ than Khánh Hoà sẽ khai thác hầm lò công suất 200.000 tấn/năm và khởi công
khai thác ở độ sâu - 600m.
2
. Các hoạt động sản xuất than đã làm ô
nhiễm môi trường trên toàn khu vực từ Đông Triều đến Mông Dương. Tại thị xã Uông
Bí, các cảng tiêu thụ than Điền Công, Bến Cân là nguồn phát sinh lượng bụi lớn kèm
theo tiếng ồn. Từ đây, bụi do quá trình vận chuyển than bằng đường sắt và ôtô ra cảng
đã gây ô nhiễm khu trung tâm thành phố Hạ Long.
I.2.2. Môi trường nước
I.2.2.1. Nước thải:
Nước thải từ các moong khai thác được bơm lên và thải trực tiếp vào các kênh
mương, sông suối không qua bể lắng và đi vào nguồn nước mặt. Nước này có độ axít
tương đối cao, ở một số mỏ như Núi Béo, Hà Tu, Cao Sơn, Đèo Nai… có thể gặp loại
nước có độ pH 2,2 - 3,6. Hàm lượng ion sunfat, cặn lơ lửng, ion kim loại cao. Tại vùng
than Quảng Ninh, có khoảng 25 – 30 triệu m
3
/năm. Độ pH của nước thải mỏ luôn dao
động từ 3,1 – 6,5. Hàm lượng cặn lơ lửng thường vượt TCCP từ 1,7 – 2,4 lần, có nơi
lên tới hơn 8 lần. Nước thải ở các mỏ than đang gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến
sông, suối, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn thuỷ sinh, suy giảm chất
lượng nước.
Do những tác động lâu dài từ các hoạt động khai thác than nhất là hoạt động
khai thác than trái phép, một số hồ thuỷ lợi tại vùng Đông Triều của Quảng Ninh đã bị
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 7
Hình I.2: Xe than xả khói bụi trên
đường vận chuyển
Hình I.2: Khói bụi phát sinh do cháy than
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
chua hoá, gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp tại đây. Theo Cục Bảo vệ môi
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
thấy, nguồn nước đã bị ô nhiễm, đặc biệt là nhiễm bẩn nitơ. Sông, suối nhỏ trên địa bàn
đều bị ô nhiễm dẫn đến toàn bộ hệ thống nước ngầm của địa bàn này đều bị hủy hoại.
I.2.3. Môi trường đất
Khai thác than làm thay đổi cơ bản địa chất địa hình khu vực. Dẫn đến sự thay
đổi đời sống của hệ sinh thái. Bên cạnh đó phát sinh một khối lượng lớn đất đá, chất
thải rắn…Tất cả đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường chung khu vực.
Quá trình khai thác than nhất là hình thức khai thác lộ thiên sẽ phát sinh một
khối lượng đất đá rất lớn. Việc sử dụng đất làm bãi thải và các công trình xây dựng của
ngành than đã sử dụng một diện tích mặt bằng khá lớn.
Sản lượng khai thác than nguyên khai hơn 40 triệu tấn năm, nên mỗi năm TKV
ở Quảng Ninh thải ra ít nhất là 100 triệu m
3
chất thải rắn như đất, đá, xít. Dẫn đến nguy
cơ sạt lở, vùi lấp sông suối, công trình, nhà cửa vùng sản xuất và tính mạng người dân.
Tại các vùng khai thác theo công nghệ hầm lò, theo các tài liệu của tập đoàn
TKV cho thấy, nhiều thập kỷ qua, hầu như chỉ có mở các đường lò mà không hề nghĩ
tới chuyện hoàn thổ sau khi lò hết khả năng khai thác than. Theo đó, có thể thấy rằng
dưới lòng đất những đường lò mới, cũ đan xen chằng chịt, xiên chéo nhau.
Mức độ sử dụng đất làm bãi thải, khai trường ở một số mỏ than được thể hiện
như sau:
Bảng I.4: Mức độ chiếm dụng đất của các mỏ than [4]
(Nguồn: Nguyễn Đức Quý, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 4, 1996)
I.2.4. Rừng và hệ sinh thái
Ở những mỏ lộ thiên, cảnh quan bị con người thay đổi trầm trọng. Cây cối bị
đốn để giải phóng địa bàn cho khai trường, một lượng lớn đất bị bốc dở và chất đống ở
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 9
TT Khu mỏ Diện tích (ha) Mức độ ô nhiễm
Chi phí vật liệu, nhiên liệu và năng lượng trong giá thành than sạch rất cao.
Trong tương lai với quy mô sản lượng than tăng trong điều kiện khai thác ngày càng
khó khăn. Khi đó khối lượng vật tư ngày càng lớn, kéo theo các chất thải và tác động
môi trường do sản xuất than gây ra ngày càng trầm trọng hơn và chí phí sản xuất than
càng cao.
I.4. Môi trường lao động và bệnh nghề nghiệp
Khai thác than là một ngành công nghiệp mà người lao động phải làm việc trong
môi trường khắc nghiệt. Trong đó, nghề khai thác than hầm lò được xếp vào loại lao
động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Hiện nay công nghệ và kỹ thuật khai thác than
hầm lò ở nước ta chưa có nhiều đổi mới, các thiết bị đa phần là cũ và không đồng bộ.
Than vẫn được khai thác thủ công từ khâu khoan nổ, đào chống, xúc, vận tải Môi
trường và điều kiện lao động dưới hầm lò rất khó khăn, nặng nhọc, thiếu ánh sáng, thao
tác gò bó dễ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 10
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
Do điều kiện địa chất phức tạp, nên khi mở rộng khai thác, các đường lò ngày
càng đi xa và xuống sâu. Các mỏ hầm lò đều có độ sâu từ vài chục mét đến 110 m so
với mặt nước biển, nhiệt độ từ 28 – 31
0
C và độ ẩm nhiều vị trí đo cao hơn tiêu chuẩn
vệ sinh cho phép (TCVSCP) tới 16%. Ánh sáng hết sức quan trọng đối với sức khoẻ
người lao động, song ở các hầm lò khai thác than, độ chiếu sáng chỉ đạt từ 18 – 44% so
với TCVSCP.
Tốc độ lưu chuyển không khí thường không ổn định. Một số vị trí lặng gió, tốc
độ đo được chỉ từ 0,1 – 0,2m/s (mỏ Mông Dương, Thống Nhất) nhưng nhiều nơi lại có
sự chênh lệch cao, tốc độ lưu chuyển không khí từ 0,5 – 1m/s (Mạo Khê, Vàng Danh).
Điều này rất bất lợi cho sự thích ứng của cơ thể. Việc thông gió cục bộ bằng quạt
tương đối đầy đủ nhưng ở các nơi khác vẫn có hiện tượng gió quẩn lại có hại cho sức
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
Tóm lại: Môi trường vùng than bị suy thoái và ô nhiễm nặng, đặc biệt là ô
nhiễm bụi, tiếng ồn, nước thải mỏ, chất thải rắn và đất đai bị phá huỷ. Kết quả tính toán
cho thấy chi phí thiệt hại môi trường do hoạt động khai thác than gây ra là rất lớn, bằng
khoảng 5% tổng giá thành than. Trong quá trình sản xuất than thải ra nhiều chất thải:
đất đá (mỗi năm trên 50 triệu m
3
), nước thải mỏ (hàng trăm triệu m
3
/năm), khí thải và
các phế liệu, phế thải sản xuất khác, đồng thời chiếm và phá huỷ nhiều diện tích đất
(hàng trăm ngàn ha).
I.5. Hiện trạng bảo vệ môi trường ngành than.
Trước đây, trong một thời gian dài ở Việt Nam nói chung và ngành than nói
riêng vấn đề môi trường chưa được quan tâm. Từ năm 1995 sau khi Luật Bảo vệ môi
trường ra đời, cũng là lúc Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV)
được thành lập và đi vào hoạt động, TKV đã từng bước thực hiện các công việc cải
thiện môi trường vùng mỏ theo tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành và
các vùng than và đã thu được một số kết quả như sau:
Hầu hết các mỏ và các đơn vị sản xuất kinh doanh than đã thành lập và được
phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, là cơ sở ban đầu cho việc quản lý môi
trường và thực hiện các giải pháp kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm. Năm 1998, TKV
đã thực hiện đề tài nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề xuất các giải pháp
bảo vệ môi trường đảm bảo sự phát triển bền vững của TKV tại các vùng than Quảng
Ninh.
Các mỏ và các nhà máy sàng tuyển đã và đang lập, thực hiện các dự án xây
dựng công trình chống bụi, thoát nước, xử lý nước thải, phục hồi đất đai, nạo vét song
suối, xây kè đập ở chân bãi thải đất đá, phủ xanh đất đồi trọc (tổng cộng đã trồng được
1.345 ha, chăm sóc 931 ha rừng), khôi phục một số hồ nước ở Quảng Ninh.
than nội địa theo đường thủy nhờ vậy đã giảm được lượng than vận chuyển qua các
khu đô thị và đường quốc lộ.
- Các công nghệ thân thiện với môi trường cũng được ngành Than chủ động
nghiên cứu và thực hiện, đó là: Sử dụng cột chống thuỷ lực trong các lò chợ khai thác
nhằm giảm lượng gỗ làm cột chống từ 50-60m
3
xuống dưới 30m
3
/1.000 tấn than khai
thác; sử dụng thuốc nổ ANFO thay thế thuốc nổ TNT để loại trừ những tác nhân gây
ngộ độc có trong thuốc nổ TNT. Mặc dù ngành Than đã có nhiều nỗ lực trong công tác
bảo vệ môi trường song các giải pháp đó vẫn mang tính tình thế, đối phó.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều nguồn gây ô nhiễm môi trường và làm suy thoái các
tài nguyên thiên nhiên khác chưa được quan tâm đầu tư như cặn dầu, ắc quy, nước thải
hầm lò, nước thải từ các moong khai thác, nước rửa trôi bề mặt. Môi trường sống của
cộng đồng dân cư bị xâm phạm nghiêm trọng do bụi, tiếng ồn từ các hoạt động khai
thác than, vận chuyển đất đá gây nên.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 13
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
Kết quả quan trắc hàm lượng bụi và tiếng ồn ở một số khu vực sản xuất tương
đối cao và vượt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, hệ thống thu gom nước mưa ở khu vực
bãi chứa nguyên liệu và bãi thải là mương hở, nhất là khu vực tuyển than và các hồ xử
lý nước thải tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào mùa mưa. Kết quả phân tích
nước thải (bao gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp ) tại cống chảy qua khu vực hồ
xử lý nước có hàm lượng amoniac vượt 4,2 lần TCCP.
I.6. Định hướng phát triển của ngành khai thác than [1]
Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã lập bảng quy
hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2015, có xét triển vọng đến năm 2025.
không thể lường hết được.
I.6.2. Về công nghệ khai thác than:
- Khai thác than bằng phương pháp hầm lò:
+ Quy hoạch, thiết kế xây dựng mới, cải tạo mở rộng các mỏ hiện có theo
hướng tập trung, công suất lớn với dây chuyền công nghệ đồng bộ và hiện đại; tối ưu
hóa sản lượng để đảm bảo khai thác ổn định lâu dài;
+ Sử dụng loại vật liệu mới, chống thuỷ lực thay thế cho chống gỗ và kim
loại để chống giữ và bảo vệ các đường lò trong điều kiện địa chất mỏ cho phép;
+ Tiếp tục hoàn thiện quy trình công nghệ khai thác cơ giới hóa đối với vỉa
dốc thoải. Nghiên cứu áp dụng công nghệ khai thác hợp lý đối với phần trữ lượng than
dưới mức -300 m của bể than Quảng Ninh, bể than đồng bằng sông Hồng.
+ Ngoài việc đầu tư những mỏ hầm lò mới, nâng công suất các mỏ hiện có
theo quy hoạch cũ, quy hoạch điều chỉnh xem xét đầu tư thêm nhiều mỏ hầm lò khác
tại khu vực Mạo Khê – Tràng Bạch, Bảo Đài và Đông Triều – Phả Lại vào giai đoạn
sau 2015 với tổng công suất tăng thêm 20-30 triệu tấn/năm. Đầu tư thiết bị, công nghệ
tiên tiến trong khai thác và chế biến than; đầu tư trang thiết bị an toàn và môi trường
mỏ.
- Khai thác than bằng phương pháp lộ thiên:
+ Phát triển mở rộng các mỏ lộ thiên hiện có theo hướng nâng cao hệ số bóc
giới hạn; nâng cao tối đa năng lực khai thác phù hợp với quy hoạch đổ thải, vận tải,
thoát nước và bảo vệ cảnh quan môi trường;
+ Tối ưu hóa các chỉ tiêu thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác đang áp
dụng; nghiên cứu ứng dụng hệ thống khai thác chia lớp đứng, công nghệ khai thác
chọn lọc và khai thác vỉa mỏng; công nghệ đổ thải bãi thải tạm và bãi thải trong.
+ Theo quy hoạch, tỉ trọng than khai thác lộ thiên sẽ giảm dần; các mỏ lộ thiên
vùng Hòn Gai sẽ kết thúc khai thác vào năm 2015 để trả lại cảnh quan môi trường cho
thành phố du lịch Hạ Long; sẽ nối thông các mỏ lộ thiên Đèo Nai – Cọc Sáu – Cao Sơn
– Khe Chàm II tạo không gian thống nhất; xuống sâu các mỏ lộ thiên này ở vùng Cẩm
Phả tới mức -350m và kéo dài thời gian tồn tại tới sau năm 2040.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
môi trường; kết hợp với chính quyền địa phương nhanh chóng khắc phục những tồn tại
ô nhiễm môi trường do khai thác than nhiều năm để lại.
- Xây dựng kế hoạch và lộ trình dài hạn với các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục
và từng bước giải quyết tốt các vấn đề về môi trường trong hoạt động khai thác than,
đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam, khu vực và thế giới;
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 16
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
- Kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hiện quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn và
môi trường trong thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến và sử dụng than. Trong quá
trình triển khai các dự án cụ thể, chủ đầu tư phải lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường, trình duyệt theo quy định hiện hành;
- Chú trọng đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại, mức độ tự động hóa cao nhằm
đề phòng và loại trừ các sự cố mỏ. Hiện đại hóa và quân sự hóa Trung tâm cấp cứu mỏ
chuyên nghiệp, trang bị đầy đủ các trang thiết bị cấp cứu cá nhân cho công nhân, đặc
biệt là công nhân hầm lò để hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn lao động.
CHƯƠNG II
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI, HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC CỦA MỎ THAN NÔNG SƠN
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 17
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
II.1. Điều kiện tự nhiên
II.1.1. Vị trí địa lý
Mỏ than Nông Sơn cách thành phố Đà Nẵng 45 km về phía Tây Nam. Khu vực
này nằm trong một thung lũng của vùng núi phía trái sông Thu Bồn thuộc xã Quế
Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam, có giới hạn tọa độ (hệ toạ độ Vn- 2000,
kinh tuyến 108, múi chiếu 3
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 19
Hình II.1: Bản đồ địa lý khu vực mỏ than Nông Sơn
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
II.1.2. Địa chất
II.1.2.1. Địa tầng
a. Giới Paleozoi: (Pz)
Địa tầng giới Paleozoi lộ ra ở phía Bắc thành một dải hẹp, ngăn cách địa tầng
MezoZoi với các đá granit kéo dài từ Vĩnh Phước – An Điềm qua A Sở về phía Tây.
Mặt cắt ngang qua A Sờ cho thấy dưới cùng là các lớp đá phiến Xerisit màu xám, xám
phớt đỏ, than phiến mỏng. Quaczit màu trắng ngà. Chuyển tiếp lên trên là lớp đá vôi
tạo thành dãy sườn dốc đứng kéo dài từ A Sở đến An Điềm. Ở khu làng Vĩnh Phước
thấy đá vôi bị phong hoá. Đây là địa tầng được coi là cổ nhất vùng. Bề dày của tầng là
450m.
Khi so sánh địa tầng với các trầm tích vùng Đông Bắc Bắc Bộ thì trầm tích này
gần gũi với các đá có tuổi Camrbi – Silua hơn là Cacbon- Pecmi.
b. Giới Mezozoi
Địa tầng Meozoi gồm hệ Triat
- Hệ thống Triat trên bậc Nori-Reti điệp Nông Sơn (T3n-rns).
Các tầng trầm tích chứa than hệ Triat được gọi chung là điệp Nông Sơn, chúng
phủ trái khớp trên tầng Paleozoi sớm –giữa. Căn cứ vào đặc điểm thạch học, trầm tích
chứa than chia thành 3 phụ điệp:
+ Phụ điệp Nông Sơn dưới (T3n-rns)
1
Thành phần gồm cuội kết cơ sở với thành phần hạt là sản phẩm của đá granit,
quăczit, đá vôi. Chiều dày của phụ điệp này khoảng 500m.
+ Phụ điệp Nông Sơn giữa (T3n-rns)
2
Phụ điệp này phân bố ở Xuân Hoà, Đông An, Khe Rinh, Tân Địa, Đá Đan,
II.1.2.4. Đứt gẫy
Khu mỏ có hai đứt gẫy chính –đứt gẫy Nam và đứt gẫy Cây Sở.
Đứt gẫy Nam: đây là đứt gẫy nghịch lớn, ngăn cách trầm tích chứa than và các
thành tạo cổ hơn. Đứt gẫy này chạy theo hướng Đông – Tây, mặt trượt dốc về phía
Nam 70
0
đến 80
0
. Đới cà nát của đứt gẫy trên 10m, biên độ trượt chưa xác định được.
Đứt gẫy Cây Sở: đứt gẫy này có hướng Tây Nam - Đông Bắc. Đây là đứt gãy
nghịch, chia cắt tầng than thành hai khu, mặt trượt nghiêng về phía Tây Nam với góc
dốc 80
0
đến 85
0
.
II.1.3. Đặc điểm vỉa than
Trong tầng địa chất chứa than có 5 vỉa than, tuy nhiên chỉ có 3 vỉa đạt quy mô
công nghiệp còn các vỉa khác chỉ đạt giá trị cục bộ ở một số khu rất nhỏ. Trong đó vỉa
3 là đối tượng chính cho công nghệ khai thác.
Vỉa 3 có diện lộ rộng và có chiều dày lớn, cấu tạo phức tạp. Trong khu thăm dò,
vỉa có cấu trúc nếp lồi lớn trong đó có nhiều nếp lõm và lồi nhỏ xen nhau nhưng không
có quy luật rõ ràng. Các nếp uốn có kích thước khác nhau, không hoàn chỉnh. Phần vỉa
nổi cao nhất tại khu Giáp Phủ.
Về phía Bắc và phía Đông vỉa bị chìm sâu, ở phần trung tâm, từ khu Giáp Phủ
sang khu Sơn Tuyền, góc dốc vỉa từ 20- 35
0
. Sang phía đông và xuống phía Bắc, vỉa
dốc hơn, thường từ 35-60
0
bicarbonate calci natri có độ pH= 5- 6,5 tuỳ theo mùa. Nước có tính axit nên thường
xuyên làm khô cháy lúa, hư hoa màu ở những thửa ruộng ở 2 bên bờ suối.
Cách trung tâm khu mỏ về phía Đông, có sông Thu Bồn chảy theo hướng Nam-
Bắc. Đây là con sông lớn, có theo vận chuyển than và vận tư theo đường thuỷ. Thượng
lưu sông chảy qua vùng núi Trà My đến Nhơn Trạch. Từ Nhơn Trạch qua Nông Sơn
đến Giao Thuỷ, dòng chảy trở nên êm đềm với nhiều khúc uốn giữa các bãi bồi phù sa
màu mở. Tại Giao Thuỷ sông Thu Bồn hợp dòng với sông Vu Gia và đổi hướng chảy
về Đông, cắt qua dãy đồng bằng các huyện Duy Xuyên Điện Bàn, cuối cùng chảy vào
biển Đông gần Hội An.
Về mùa mưa nước sông dâng cao chảy xiết. Mùa khô, nước sông lại rất cạn, chỉ
các thuyền nhỏ mới qua lại được. Lưu vực sông Thu Bồn, theo thống kê của trạm thuỷ
văn Nông Sơn, về mùa mưa là 33m
3
/s. Mực nước lụt hằng năm dâng cao đến 10m, gây
lũ lụt kéo dài. Nước sông chứa sunfat bicarbonate calci natri độ pH=6-7,8.
Ngoài nước mưa, nguồn nước sông Thu Bồn là lượng nước mặt đáng kể, có ảnh
hưởng trực tiếp đến khu mỏ và suối Nông Sơn.
II.1.4.2. Nước dưới đất
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 22
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
Nước dưới đất trong khu mỏ tồn tại trong 3 tầng:
- Trầm tích trên than:
- Trầm tích chứa than:
- Trầm tích dưới than:
a. Tầng chứa nước trầm tích trên than:
Tầng này phân bố chủ yếu ở phía Đông khu mỏ và ở phía Tây –Bắc lộ ra trên
diện hẹp. Thành phần đất đá chủ yếu là cuộn kết xen kẽ ít cát kết, sạn kết bột kết.
Chiều dày trung bình 80m. Nước chứa trong khe nứt, khe của cuộn kết, sét kết.
là nóng ẩm, mưa nhiều, khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.
Nhiệt độ trung bình năm là 25
0
C. Tháng 12 và tháng 1 lạnh nhất trong năm, có nhiệt độ
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 23
Đánh giá tác động môi trường mỏ than Nông Sơn và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trương Thị Bích Thảo - Lớp CNMT-K50-QN
thấp nhất là 14
0
C. Các tháng sau đó có nhiệt độ tăng dần. Lượng mưa trung bình: 2000-
2500 mm/năm. Trong các tháng 9, 10, 11 và 12 có mưa nhiều, lượng mưa ngày lớn
nhất là 242 mm, chiếm từ 45-60% tổng lượng mưa hàng năm, do địa hình ngắn dốc nên
thường có lũ lớn vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô. Độ ẩm trung bình trong năm
là 84%. Hướng gió chủ yếu từ Tây Bắc đến Tây Nam và thổi từ biển vào, với tốc độ
trung bình hằng năm là 14 m/s.
Kết luận: Địa hình phần lớn là khu vực đồi núi nên khó khăn trong việc giao
thông, lưu thông, vận chuyển than, vật tư cho vùng mỏ Nông Sơn. Địa hình ngắn dốc
dễ xảy ra lũ quét nên cần tìm ra phương hướng ngăn chặt trượt lở đất trong các mùa
mưa. Khoáng sản phong phú đặc biệt là than với trữ lượng lớn là điều kiện cho ngành
công nghiệp khai khoáng phát triển.
II.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
II.2.1. Dân cư lao động
Mỏ nằm trong khu vực có dân cư sống thưa thớt, không đồng đều với tổng số
dân trong xã là 10.700 người và 1.433 hộ trong đó có 1.781 hộ làm nông nghiệp và 259
hộ phi nông nghiệp. Hiện nay khu mỏ còn 1.556 hộ nghèo các hộ còn lại thuộc loại
giàu hoặc trung bình.
Dân cư trong vùng chủ yếu sống bằng nghề nông, một số sống bằng nghề buôn
bán nhỏ hoặc đi rừng, còn bộ phận khác tham gia vào các nghành sản xuất khai thác
khoáng sản.
điều kiện cho việc phát triển các rừng cây lá rộng, ở đây có rất nhiều loại gổ quý, trữ
lượng lớn. Song ý thức khai thác của người dân trong vùng và sự quản lí lỏng lẽo của
các cấp quản lí nên thường xảy ra sự khai thác bừa bãi trên diện rộng phá hủy cảnh
quan, làm mất cân bằng sinh thái của khu vực. Lâm nghiệp trong vùng là một ngành có
triển vọng cần được quan tâm chú ý.
Kết luận: Khu vực có nhiều tiềm năng trên nhiều lĩnh vực, cần chú trọng quan
tâm thúc đẩy nhiều ngành như công nghiệp, lâm nghiệp làm thế mạnh của vùng. Áp
dụng phương tiện, khoa học kĩ thuật hiện đại vào khai khác công nghiệp, trên quy mô
rộng và cải thiện giao thông đường bộ.
II.2.3. Điều kiện xã hội
Các công trình công cộng trong khu mỏ vực bao gồm:
- Cơ quan, viện nghiên cứu, trường học: có 33 cơ sở
- Bệnh viện, trạm y tế: 3 cơ sở
- Chợ: 1 cơ sở
- Nghĩa trang: 1 cơ sở
- Đình chùa nhà thờ: 5 cơ sở
- Tình hình đường xá giao thông:
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4) 38681686 - Fax:(84.4)38693551
Trang 25