Cuộc đấu tranh chống bắc thuộc đầu tiên của người tày- thái - Pdf 13

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG BẮC THUỘC ĐẦU TIÊN
CỦA NGƯỜI TÀY - THÁI
Vương Hùng
Theo chính sử Trung Quốc, các dân tộc cư trú ở phía nam Trường Giang được gọi
bằng tên chung là Bách Việt. Bách Việt sau tách rõ hơn chỉ các khu vực khác nhau: Đông
Việt (Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Dương Việt (Giang Tây), Nam Việt (Quảng
Đông), Âu Việt (Quảng Tây), Lạc Việt (bắc Việt Nam).
Âu Việt hoặc Tây Âu, Tây Vu là đất cổ người Tày - Thái, Lạc Việt là đất cổ người
Việt - Mường. Hai tộc Việt này sống gần kề, mối giao hòa có từ lâu.
Sử ta chép rằng: Thời Hồng Bàng thị - Kinh Dương Vương từ hồ Động Đình (nay
thuộc Hồ Nam - Trung Quốc) xuống cai quản phương nam. Con Kinh Dương Vương là
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ mà thành tổ chung của dân tộc ta. Đó là ghi chép theo tục
truyền; suy ra Lạc Long Quân tiêu biểu tộc Lạc Việt, Âu Cơ tiêu biểu tộc Âu Việt, giao hòa
với nhau.
Kể từ đó, cha truyền con nối, các vua Hùng tiếp nhau làm vua nước Văn Lang. Đến
đời Hùng Vương 18, vua không có con trai. Các lạc tướng, lạc hầu bất đồng với nhau về
người kế vị, bèn đồng thuận ủng hộ Thục Phán (thuộc Âu Việt) lên làm vua.
Thục Phán dùng tên hai cộng đồng tộc Việt = Âu Việt và Lạc Việt đặt thành tên
nước Âu Lạc (257 - 208 TCN).
Thời Thục Phán, nhà nước Âu Lạc đã có cuộc chiến quy mô rộng chống lại sự bành
trướng của phương Bắc, chiến sự diễn ra trên đất Âu Việt.
Tần Vương Chính - tức Tần Thủy Hoàng sau khi hoàn thành thống nhất Trung Hoa,
bắt những người trốn tránh, người ở rể, người đi buôn (tức là những tội phạm, những
người không có ruộng đất) cả thẩy 50 vạn người, năm 214 TCN, giao cho tướng Đồ Thư
chinh phục phương Nam. Đoàn quân này theo dòng Tây Giang, xâm lấn đất Nam Việt
(Quảng Đông), Âu Việt (Quảng Tây). Quân Tần tràn đến đâu, tàn sát hết trai tráng địa
phương, hiếp đoạt phụ nữ, chiếm nhà cửa ruộng đất, lập thành hương quận trực thuộc
Thiên triều, đồng hóa tức khắc các dân tộc bản địa theo phong tục phương Bắc.
Tình thế buộc Âu Lạc phải kiên quyết chống lại. Dưới sự chỉ huy của Thục Phán, tổ
chức du kích, ngăn bước tiến quân Tần.
Sách Hoài Nam tử viết: “Những người Âu Việt lánh vào rừng để ban đêm ra đánh, đại

Tây Vu Vương dịch xuôi sát nghĩa là Pùa Pựt Tày - vua Pựt Tày.
Cuộc khởi nghĩa này sớm hơn cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tròn 150 năm (40 -
43). Như vậy đây là cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc sớm nhất của người Tày - Thái được
ghi trên sử sách. Thời đó nước Âu Lạc bị chia thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân thuộc
quyền cai trị của Triệu Vũ Vương; để rồi 97 năm sau mới thuộc về nhà Tây Hán.
THỜI KỲ PHONG KIẾN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN XVII
SỰ KIỆN NÙNG TRÍ CAO
Vương Hùng
Nùng Trí Cao là một nhân vật lịch sử sống vào nửa đầu thế kỉ XI. Theo Đại Việt sử
kí toàn thư, Trí Cao là con Nùng Tồn Phúc, thủ lĩnh châu Quảng Nguyên. Quảng Nguyên
thời đó ở giữa lưu vực Bằng Giang, tức đất các huyện Hoà An, Hà Quảng, Thông Nông,
Nguyên Bình, Thạch An, Quảng Uyên, Phục Hoà của tỉnh Cao Bằng hiện nay.
Năm 1039, hoàng đế Lý Thái Tông nghe tin báo Tồn Phúc tiếm hiệu xưng vương,
bèn thân chinh cầm quân lên bắt. Gia đình Tồn Phúc 5 người bị đem chém ở chợ kinh đô.
Nùng Trí Cao và mẹ là A Nùng trốn thoát. Năm sau, 1040, mẹ con quay trở lại giữ
châu Quảng Nguyên. Vua sai tướng lên dẹp bắt sống Trí Cao giải về kinh sư. Vua Lý nghĩ
lại tha tội, lưu cho đi học 3 năm, rồi thả Trí Cao về quản đất cũ của cha, còn cấp thêm 4
động và cả châu Tư Lang nữa (tức Thượng Lang, Hạ Lang sau này).
Năm 1043, vua sai Nguỵ Trưng đến châu Quảng Nguyên ban Nùng Trí Cao đô ấn,
phong tước Thái bảo.
Năm 1048, Nùng Trí Cao chiếm động Vật Ác, ngoài biên. Vua sai thái uý Quách Thịnh
Dật đi đánh. Tới nơi Nùng Trí Cao hàng ngay không chống cự.
Năm 1052, Nùng Trí Cao tự xưng Nhân huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, dẫn
5000 quân tràn sang đất Tống, phá trại Hoành Sơn, hãm các châu Ung, Quý, Đằng, Ngô,
Củng, Tầm thuộc tỉnh Quảng Tây và Khang, Đoan thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc).
Có Hoàng Sư Mật người bên ấy, vận động quần chúng nổi dậy nội ứng, nên lực lượng tiến
công phát triển nhanh chóng, số người kéo theo lên đến hàng vạn.
Hoàng Sư Mật vốn là cháu bên mẹ của Nùng Trí Cao. Mẹ Trí Cao quê ở Vũ Lặc, bờ
Tả Giang, ngược sông lên trú tại bến Kim Pha (Cao Bằng). Hoàng Sư Mật đỗ tiến sĩ ở
Quảng Châu, nhưng không ra làm quan với nhà Tống, chuyên đi dạy học. Có lẽ Sư Mật

phản nghịch thì lòng nhân ấy trở thành nhu nhược.
Thực ra sự kiện Nùng Trí Cao có nguyên nhân tiềm ẩn và thời điểm bột phát.
Nguyên nhân tiềm ẩn:
Lưu vực sông Hồng là địa bàn cư trú của người Lạc Việt (Kinh, Mường cổ). Lưu
vực Tây Giang là địa bàn cư trú của người Âu Việt, (Tày Thái cổ). Thời Tiên Tần (221
TCN) người phương Bắc gọi khu vực này là Văn Lang và Nam Cương. Đó là tiếng của họ,
thời ấy chưa biết chữ hán.
Văn Lang có nghĩa vùng đất có những chàng trai xăm mình.
Nam Cương có nghĩa vùng đất biên cương phía nam.
Chưa có tín sử, chuyện tương truyền như vậy đã in đậm trong kí ức dân gian. Nam
Cương hợp nhất với Văn Lang thành Âu Lạc, rồi Âu Lạc bị phương Bắc thôn tính, phải
sống dưới chế độ Bắc thuộc nghìn năm.
Mãi tới thế kỉ X, thời Ngũ đại, phong kiến phương Bắc khủng hoảng, trong vòng
nửa thế kỉ, năm triều đại liên tiếp bị đổ. Tình thế đó tạo cho người Nam giành được quyền
tự chủ và tiến tới độc lập sau trận đánh tan quân Nam Hán của Ngô Quyền (938).
Triều Bắc Tống thiết lập năm 960, vẫn coi nước ta như một quận của họ, hễ có
dịp là đem quân xâm lược. Thời nhà Đinh (968-980), nhà Tiền Lê (980-1009), nhà Lý
(1010->) nguy cơ bị xâm lược luôn luôn thường trực. Các vua Đại Việt cần duy trì
những tù trưởng mạnh ở biên giới, kết thân với họ, dùng họ làm phên giậu. Người Tày,
Nùng, Choang ở lưu vực Tây Giang ấp ủ khôi phục lãnh thổ Nam Cương xưa, ước mơ
có lại vị trí của mình thời Âu Lạc.
Vua Lý Thái Tông biết rõ điều này nên có thái độ nên có thái độ xử lí co duỗi mềm
dẻo sát với thực tế. Tống Nhân Tông cũng biết nên khi khắc bia phủ định ý chí đòi độc lập
của phong trào, cho rằng cuộc nổi dậy đó xuất phát từ tham vọng cá nhân Nùng Trí Cao,
không đại diện cho lợi ích cộng đồng dân tộc mình.
Thời điểm bột phát.
Nhà Tống diệt xong các nước nhỏ, lập được triều đình ổn định, nhưng rất sợ đụng
độ với nhà Liêu ở phương Bắc. Hiệp ước Thiền Uyên - giữa Tống và Liêu - qui định hàng
năm Tống phải nộp cho Liêu 20 vạn tấm lụa và 10 vạn lạng bạc. Vừa phải cung phụng
triều đình, vừa phải đóng góp cống nước ngoài, gánh nặng đó đè lên vai nhân dân. Nhất là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status