Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
trong nền kinh tế ở nớc ta hiện nay".
1. Vật chất.
1. 1. Định nghĩa vật chất:
Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật chất đứng trên các giác độ khác nhau.
Nhng theo Lênin định nghĩa:
vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đợc đem lại cho con ngời trong cảm giác, đợc
cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách thông thờng là quy một khái niệm cần định nghĩa
sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật chất, Lênin
đã đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan đợc đem lại cho con ngời trong cảm giác, vật chất
tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất.
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học, LêNin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất,
rộng vô hạn và mặt, muốn phân biệt vật chất với t cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái quát và trừu
tợng, với những dạng vật chất cụ thể, với những hạt nhỏ cảm tính. Vật chất với t cách là một phạm trù triết học
không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ đợc. Định nghĩa vật chất nh vậy khắc phục đợc những quan niệm siêu
hình của chủ nghĩa duy vật cũ đồng nhất vật chất với những hình thức biểu hiện của nó.
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có không do ai sinh ra, không thể tiêu diệt đợc, nó tồn tại bên ngoài và không lệ
thuộc vào cảm giác, ý thức con ngời, vật chất là một thực tại khách quan. Khác với quan niệm ý niệm tuyệt đối
của chủ nghĩa duy tâm khách quan, thợng đế của tôn giáo, vật tự nó không thể nắm đợc của thuyết không thể
biết, vật chất không phải là lực lợngsiêu tự nhiêntồn tại lơ lởng ở đâu đó. Trái lại, phạm trù vật chất là kết quả của sự
khái quát các sự vật, hiện tợng có thật, hiện thực, và do đó các đối tợng vật chất có thật, hiện thực đó có khả năng tác
động vào giác quan để gây ra cảm giác, và nhờ đó mà ta có thể biết đợc, hiểu đợc, nắm bắt đợc đố tợng này. Định
nghĩa vật chất của Lênin đã khẳng định đợc câu trả lời của chủ nghĩa duy về cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết
học, phân biệt về nguyên tắc chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng nh thuyết không
thể biết.
Hơn thế nữa, Lênin còn khẳng định, cảm giác lại, chụp lại, phản ánh vật chất, những vật chất tồn tại không lệ thuộc
vào cảm giác. Khẳng định nh vậy, một mặt Lênin muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết điịnh của
nó đối với ý thức, và mặt khác khẳng định phơng pháp và khả năng nhận thúc khách quan của con ngời. Điều này
không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, vơí thuyết không thể biết mà còn hân biệt chủ nghĩa
nguyên nhân bên trong, vận động của vật chất là tự than vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên ngoài của vật chất. Vận động không do ai
sáng tạo ra và không thể tiêu diệt đợc, do đó vận động đợc bảo toàn cả về số lợng lẫn chất lợng. Khoa học đã chứng
minh đợc rằng nếu một hình thức vân đông nào đó của sự vật nhất định mất đi thì tất yếu nẩy sinh một hình thức vận
động khác thay thế nó. Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh
viễn tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất.
Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm hiện t-
ợng đứng im tơng đối. Không có hiện tợng đứng im tơng đối thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự
vật, hiện tợng phong phú và đa dạng. ănggen khẳng định rằng khẳ năng đứng im tơng đối của các vật thể, khả năng
cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là sự biến đổi của các sự vật
hiện tợng thì đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn tính quy định của các sự vật hiện tợng. đớng im chỉ thể hiện của
một trạng thái vận động: vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tơng đối, trang thái đng im cồn đợc biểu hiện
nh một quá trình vận động trong phạm vi của sự vật ổ định, cha biến đổi. đứng im chỉ là tạm thời vì nó sảy ra trong
1
một thời gian nhất định. Vận động riêng biệt có xu hớng chuyển thành cân bằng nhng vận động toàn thể lại phá hoại
sự cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật, hiện tợng luôn thay đổi chuyển hoá cho nhau.
*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Không gian phản ánh thuộc tính của các vật chất có vị trí, có hình thức kết cấu có độ dài, ngắn cao thấp. Không gian
biểu hiện sự cùng tồn tại và tác biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện quán tính của chúng, trật tự phan bố chúng.
Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm kế tiếp nhau theo một trật tự
nhất định. Thời gian biểu hiện tốc độ, trình tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính tách biệt các giai đoạn khác
nhau của quá trình đó, trình tự xuất hiện và mất đi các sự vật, hiện tợng.
Không gian và thời gian là hình thức cơ bản của vật chất đang vận động Lênin đã chỉ ra không có gì ngoài vật chất
dang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian. Không gian và
thời gian là tồn tại khách quan. Nó không phải là hình thức chủ quan đẻ sếp đặt các cam giác mà ta thu nhận một các
lộn xộn nh chủ nghĩa duy tâm quan niệm, cũng nh nó không thể đng ngoài vật chất. Không có không gian tróng
rỗng. không gian và thời gian không phải là bất biến, tuyệt đối mà trái lại, không gian và thời gian có sự biến đổi phụ
thuộc vào vật chất vận động.
* Tính thống nhất vật chất của thế giới.
Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tinh thần có trớc, quyết định vật chất, do đó cũng cho rằng thế giới thống nhất ở tinh
ơng soi giúp cho con ngời tự ý thức về bản thân.
Vô thức là một hiện tợng tâm lý nhng có liên quan đến những hoạt đọng xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức. Có hai
loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi cha đợc con ngời ý thức, loại thứ hai liên quan đến các hành vi
trớc kia đã đợc ý thức nhng do lặp lại đã trở thành thói quen, có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý
thức. Vô thức ảnh hởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con ngời. Trong những hoàn cảnh nào đó giúp con ngời
giảm bới sự căng thẳng trong hoạt động. Để biến những hành vi tích cựu thành thói quen có vai trò rất quan trọng
trong đời sống của con ngời. Trong con ngờ ý thức vẫn là cái chủ đạo, cái quyết định hành vi cá nhân.
2. 2 Nguồn gốc của ý thức
*Nguồn gốc tự nhiên:
ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con ng ơì và bộ óc ngời. Khoa
học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từ tồn tại rất lâu trớc khi xuất hiện con
ngời, rằng hoạt động ý tức của con ngời diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não côn ngời. Không
thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ não vì ý thức là chức năng của bộ não, bộ não là phí quan của ý thức. Sự
phụ thuộc của ý thức vào sự hoạt động của boọ não thể hiện ở chỗ khi bộ não bị tổn thơng thì hoạt động ý thức sẽ bị
rối loạn. Tuy nhiên không thể quy một các đơn giản ý thức của các quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản
ánh. í thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con ngời. Sự xuát hiện của ý thức gắn liền với sự phát triển của đặc
tính phản ánh đặc tính này phát triển cùng với sự phát triển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con ngời và xã hội
loài ngời đa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với
làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội.
* Nguồn gốc xã hội:
Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc ng ời dới sự ảnh hởng của lao động, của
giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động của con ngời là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ
mục đích của bản thân con ngời. Chính nhờ lao động, con ngời và xã hội loài ngời mới hình thành và phát triển. Lao
động là phơng thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con ngời, lao động đồng thời ngay từ đầu đã liên kết những con ngời
với nhau trong mối quan hệ khách quan, tất yếu; mối quan hệ này đến lợt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh
nghiệm và tổ chức lao động, nhu cầu cần phải nói với nhau một cái gì . Và kết quả là ngôn ngữ ra đời. Ngôn ngữ
đợc coi là cái vỏ vật chất của t duy. Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, t tởng của con ngời có khả năng biểu hiện thành
hiện thực trực tiếp, trở thành tín hiệu vật chất tác động tới các cơ quan con ngời và gây cảm giác. Nhờ có ngôn ngữ,
con ngời có thể giao tiếp, trao đổi t tởng, tình cảm với nhau, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau, thông qua đó mà ý
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối
giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trớc, cái nào quyết định. Không nh vậy sẽ lẫn lộn hai đờng
lỗi cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ là quan điểm duy vật. Song sự đối lập giữa vật
chất và ý thức chỉ là tơng đối nếu nh chúng ta chỉ xét chúng nh là những nhân tó những mặt không thể thiếu đợc
trong hoạt động của con ngời, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con ngời. Bởi vì, ý thức tự nó không
thể cải biến đợc sự vật, không có khả năng tự biến thành hiện thực, nhng thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời,
ý thức có thể cải biến đợc tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiên thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động
của mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh, sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính
đó mà chỉ có con ngời có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang rã thành tự
nhiên trù phú và sinh động, tự nhiên của con ngời. Vì vậy tính tơng đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể
hiện tính độc lập tơng đối tính năng đoọng của ý thức. Mặt khác đời sống con ngời là sự thống nhất không thể tách
rời giữa đời sống vật chất và đời sóng tinh thần trong đó ngững nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng,
những nhu cầu vật chất cũng bị nhu cầu tinh thần hoá. Khanửg định tính tơng đối của sự đối lập giữa vật chất và ý
thức không có nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trò nh nhau trong đời sống và hoạt động của con ngời.
Trái lại triết học Mác-Lênin khẳng định rằng trong hoạt động của con ngời những nhân tố vật chất và ý thức có tác
động qua lại song sự tác động diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý
thức.
Trong hoạt động của con ngời những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữa vai trò quyết định chi phối và
quy định mục đích hoạt động của con ngời vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham
gia hoạt động của con ngời, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thức và
qua đó quy định mục đích, chủ trơng biện pháp mà con ngời đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc sửa
chữa, bổ sung, cụ thể hoá mục đích chủ trơng biện pháp đó. Hoạt động nhận thức của con ngời bao giờ cũng hớng
đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống, hơn nữa cuộc sống tinh thần của con ngời xét đến cùng
bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và những điều kiện vật chất hiện có. Khẳng định
vai trò cơ sở quyết định trực tiết của nhân tố vật chất triết học Mác-lênin đồng thời cũng coi nhẹ vai trò của nhân tố
tinh thần, của tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác dụng trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn
nữa trong hoạt động của mình con ngời không thể để cho thế giới khách quan quy luật khách quan chi phối mà chur
động hớng nó đi theo con đờng có lợi của mình. ý thức con ngời không thể tạo ra các đối tợng vật chất, cũng không
thể thay đổi đợc quy luật vận động của nó. Do đó, trong quá trình hoạt động của mình con ngời phải tuân theo quy
luật khách quan và chỉ có thể đề thỏa mãn mục đích chủ trơng trong phạm vi hoàn cảnh cho phép.
động tăng, mức sống đợc năng cao thì các mối quan hệ và mọi mặt của đời sống cũng đợc thay đổi theo. Sản xuất vật
chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện chức năng của con
ngời, thoả mãn nhu cầu của con ngời và xã hội. Sản xuất vật chất môi trờng tự nhiên, điều kiện xã hội đòi hỏi thể
lực trí tuệ và nhân cách của con ngời phải phát triển thích ứng với nó. Yêu cần khách quan của sự phát triển kinh tế,
phát triển sản xuất làm cho khoa học kỹ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển và hoàn thiện. Đó
chính là cơ sở quyết định sự phát triển hoàn thiện các kỹ năng của con ngời, của chính trị của xã hội là nhân tố quan
trọng hàng đầu của lực lợng sản xuất xã hội. Sự phong phú và đa dạng của những quan hệ vật chất, sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học ký thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất vật chất là cơ sở nảy sinh sự phong
phú và đa dạng trong sự phát triển thể chất năng lực và tinh thần của con ngời.
Nói cho cùng thì trong hoạt động của con ngời, những nhu cầu về vật chất (kinh tế) bao giờ cũng giữ vai trò quyết
định, chi phối và quy điịnh mục đích hoạt động bởi vì con ngời trớc hết phải ăn mặc ở, rồi mới nghĩ đến vui chơi,
giải trí. Hoạt động nhận thức của con ngời trớc hết hớng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống.
Hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con ngời xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn những nhu cầu
vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có.
Nền kinh tế của một nớc là cơ sở để nớc đó thực hiện những chủ trơng, biện pháp trong việc quản lý, đề ra những
chiến lợc phát triển kinh tế, chiến lợc phát triển quân đội để đảm bảo an ninh và chủ quyền quốc gia. Căn cứ và thực
trạng của nền kinh tế, các t tởng và chính sách đổi mới phát triển kinh tế đợc đa ra phù hợp và hiệu quả nhằm đem lại
lợi ích kinh tế cao cho xã hội, cũng đồng thời cho nhân dân. Tác dụng ngợc trở lại, thể chế chính trị (ý thức) của một
nớc rất quan trọng trong việc xây dựng đất nớc. Chính trị ổn định là điều kiện tốt, tạo không khí yên ấm, thoải mái
và tự do để mọi ngời, nhà nhà, các công ty, các tổ chức, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội cống hiến và
phát triển hết khả năng của mình để đem lại lợi ích cho bản thân mình và lợi ích cho xã hội.
Nguyên lý triết học Mác-Lênin là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình
hình các sự vật ( ở đây là nên kinh tế) từ thực tế khách quan, tránh chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, đồng thời phát huy
vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực hoạt động chủ quan trong hoạt động của con ng ời (nh trong
hoạt động kinh tế của nớc ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xớng đã rất chú trọng trong
việc đề cao yếu tố của con ngời, làm cho ý thức thay đổi mới thâm nhập vào cơ sơ kinh tế, và động viên quần chúng).
2. Vận dụng mối quan hệ vất chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới của nớc ta hiện nay:
Nh chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nớc, nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhợc điểm.
Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng xuất lao động thấp, sản xuất ch a đảm
bảo nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp cha cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp,
cứu, phân tích tình hình, lấy ý kiến rộng rãi của cơ sở, của nhân dân. và đặc biệt là đổi mới t duy về kinh tế. Đại hội
4
lần thứ VI của Đảng đã rút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó kinh nghiệm: phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng
và hành động theo quy luật khách quan. Đảng đã đề ra đờng lối đổi mới, mở ra bớc ngoặt trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Tại Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên
nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hớng lớn và xác định chủ trơng đổi mới, đặc biệt là
đổi mới về kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chơng trình kinh tế: lơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng
xuất khẩu: hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của tiểu t sản sản xuất hàng hoá
và kinh tế t bản t nhân, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Trong quá trình
thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, những diễn biến quốc tế phức tạp đã ảnh hởng xấu đến tình hình kinh tế chính trị
và xã hội nớc ta, nhng Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi, khai phá con đ-
ờng đổi mới. Và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, ta đã đánh giá tình hình chính trị xã hội Việt nam sau
hơn bốn năm thực hiện đờng lối đổi mới: công cuộc đổi mới bớc đầu đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu rất quan
trọng. Tình hình chính trị của đất nớc ổn định, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bớc đầu hình thành nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, nguồn lực sản xuất của
xã hội đợc huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát đợc hạn chế bớt: đời sống vật chất tinh thần của một bộ phận nhân dân
có phần đợc cải thiện. So với trớc đây thì mức khủng hoảng đã giảm bớt. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng
đợc phát huy
Qua những dẫn chứng trên, ta thấy rõ tác động qua lại giữa ý thức và vật chất, giữa kinh tế và chính trị. Nhờ có đờng
nối đổi mới, sản xuất phát triển, đời sống nhân nói chung đợc cải thiện, mức khủng hoảng đã giảm bớt, do đó góp
phần ổn định tình hình chính trị đất nớc, góp phần voà việc phát huy dân chủ trong xã hội. Không chủ quan với
những thành tựu đã đạt đợc. Đại hội VII chỉ ra những tồn tại lớn cần giải quyết, đặc biệt về mặt kinh tế đó là: lạm
phát còn ở mức cao nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng lên , đồng thời cũng tự phê
bình về việc chậm xác định rõ yêu cầu và nội dung đổi mới, còn nhiều núng túng và nhiều sơ hở trong điều hành,
quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trờng đặc biệt, đại hội cũng xác định:Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị phải tập chung sức đổi mới kinh tế, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống và việc làm, các nhu
cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành
đổi mới trong lĩnh vực chính trị.
Nh vậy, rõ ràng Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng đắn phơng pháp luận duy vật biện chứng về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới, tiến hành đổi mới kinh tế trớc để tạo điều kiện đổi mới trong
chủ nghĩa xã hội và tình hình thực tế của nớc ta để vận dụng một cách tổng hợp các mặt mạnh, hạn chế chế các mặt
yếu của chủ nghĩa t bản, và đa ra phơng trâm phát triển kinh tế Việt nam sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, qua thực tiễn mời
năm đổi mới, chúng ta cũng nhận thức rõ là không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội,
mà ngay trong từng bớc và suốt quá trình phát triển, tăng trởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã
hội.
Trên tinh thần đó, cùng với những kinh nghiệm đã thu đợc những năm đổi mới, ở Đại hội VIII lần này cũng đã đi từ
thực tế khách quan, đánh giá những đặc điểm của tình hình kinh tế, chính trị xã hội Việt nam, những thuận lợi và
khó khăn, thời cơ và nguy cơ. Đảng ta cũng đã nhận định thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau vì
vậy chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vơn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực mới; đồng thời luôn
luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, bảo đảm phát triển
đúng hớng. Xuất phát từ tình hình nói trên và căn cứ vào Cơng lĩnh của Đảng, cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ
chiến lợc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạch công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta
thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc,
dân giàu, nớc mạnh xã hội công bằng văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đa nớc ta cơ bản trở thành
một nớc công nghiệp.
Và thực tế trong những năm qua, với những chính sách, chơng trình phát triển kinh tế chính trị xã hội, chính sách
ngoại giao hợp lý, chúng ta đã đạt đợc những bớc tiến rất quan trọng, bình thờng hoá quan hệ với Mỹ, là thành viên
của khối ASEAN (Hiệp hội các nớc Đông Nam á), đặc biệt năm 1998 ta đã trở thành thành viên của khối APEC
(Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng) từ chỗ bị bao vây cấm vận nay đã đợc bình thờng hoá đợc tất
cả các nớc lớn, có quan hệ ngoại giao với 167 nớc, quan hệ thơng mại với 120 nớc. Đồng thời cân bằng quan hệ với
5
các nớc lớn, phát triển quan hệ tốt đẹp với các nớc láng giềng khu vực. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững
môi trờng hoà bình ổn định, là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Tăng trởng GDP tiếp tục tăng cao, năm 1996 là 9, 3%, năm 1987 là 8, 2%, năm 1998 là 5, 8% (Do ảnh hởng của
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực). Lạm phát vẫn đợc giữ ở mức dới 10%. Tốc độ tăng trởng của công
nghiệp vẫn đạt hai con số Đời sống của nhân dân ngày càng đợc ổn định và nâng cao.
Nh vậy công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt nam khởi xớng và lãnh đạo ngày càng đợc cụ thể hoá và đi vào
chiều sâu đợc nhân dân nhiệt liệt hởng ứng và hăng hái thực hiện, chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng
bách và cần thiết. Bởi vì, tri thức khoa học có đợc hay không cũng nhờ lòng hiểu biết, trí thông minh, ý trí quyết tâm
học tập và nhận thức khoa học; ngợc lại nếu trí thức khoa học phát huy đợc tác dụng trong thực tế thì nó lại trở thành
động lực tăng thêm ý trí và nhiệt tình cách mạng.
Ngời cán bộ kinh tế phải quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, trớc
hết là phơng pháp luận toàn diện và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu, đề xuất và áp dụng các chủ tr ơng
chính sách về kinh tế, các phơng pháp, cơ chế quản lý kinh tế tài chính theo tinh thần đổi mới để thúc đẩy nền kinh
tế của nớc ta vợt qua tình trạng nớc nghèo và kém phát triển, tránh khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nớc trong khu vực và nguy cơ chệch hớng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp
cũng có nghĩa lã đòi hỏi ngời làm công tác quản ký kinh tế, tài chính phải năng động sáng tạo, nhạy bén, nắm bắt đ-
ợc thực tế và quy luật vận động và phát triển của nó. Kinh nghiệm cho thấy rằng, đôi khi chỉ cần một nhận định
không đúng, một thông tin xuyên tạc, một từ ngữ không đợc chú ý đầy đủ trong bản hợp đồng kinh tế hoặc chỉ cần
hành động chậm hoặc hành động quá vội vã là đã có thể dẫn đến thiệt hại lớn về kinh tế; ngợc lại, có khi chỉ cần
nhanh một chút, chỉ cần biết cách quảng cáo kịp thời và đúng đắn, chỉ cần một thông tin kịp thời, chính xác cũng có
thể đạt tới thắng lợi không nhỏ. Sự kết hợp giữa xuất phát từ thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan, kết
hợp giữa tình cảm, ý chỉ với trí tuệ, trí tuệ ở đây phải đạt đến độ thành thực và nhuần nhuyễn, phải đạt đến nghệ
thuật. Với các cán bộ thực hiện nghiệp vụ cụ thể, ngoài yêu cầu phản ánh trung thực, chính xác kịp thời, đầy đủ các
số liệu, các chỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh doanh thực tế của xí nghiệp, còn cần chủ động phân tích các số liệu,
nắm bắt mọi tình hình, đề xuất những biện pháp hành động cho lãnh đạo. Muốn vậy, trớc hết cần xuất phát từ thực tế
khách quan, đồng thời phát huy nỗ lực chủ quan, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình, ý trí cách mạng và tri thức
khoa học trong công tác nghiên cứu, lập kế hoạch, dự báo về kinh tế cũng nh trong việc thực hiện các nghiệp vụ cụ
thể. Cần đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, t tởng nóng vội, phiêu lu, mạo hiểm, bất chấp quy luật
khách quan, cần rèn luyện tính kiên nhẫn, chăm chỉ, cẩn thận, tinh thần thực sự cầu thị, tinh thần ham học hỏi, tính
chủ động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, chủ động sáng tạo ra thời cơ, giành lấy thời cơ. Rèn luyện đợc những phẩm
chất ấy, ngời cán bộ khoa học kinh tế không những sẽ đứng vững trên vị trí của mình mà còn có thể vợt lên để có thể
trở thành những nhà kinh doanh, những cán bộ quản lý giỏi.
Kết luận
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, có thể coi nó nh một công cuộc kháng
chiến trờng kỳ của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những biến động
nhiều mặt của đất nớc ta trong quá trình đổi mới toàn diện xã hội càng đòi hỏi Đảng và nhà nớc ta phải kiên trì, kiên
định, giữ vững lòng tin, quyết tâm khắc phục khó khăn đồng thời phải tỉnh táo, thông minh, nhạy bén để thích ứng
,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và nhờđó mà ta có thể biết được ,hiểu được và
nắm bắt sự vật này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học .
Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất
,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với
CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.
Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân
tố vật chất trong đời sống xã hội ,cóý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng
đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới vi mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong
suy nghĩ và hành động.
b. Cac đặc tinh của vật chất
*Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển
dịch trong không gian .Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật
chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là
cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này
thực hiện là tác động qua lại với những hình thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng
không thể coi hình thưc vận cao là tổng sốđơn giản các hình thức vận động thấp.
Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại
.Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng
khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó
.Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.
Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau
,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên
trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra
và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu
một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các
hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng
bộóc con người vàđược cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri
thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát
triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng
được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý
thức nhờđó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng cóý nghĩa chống quan điểm đơn giản
coi ý thức là tình cảm ,niềm tin…Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng.Tuy nhiên
việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.
Tựý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thểđộc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu
hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tựý thức làý thức hướng
về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người
tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư
duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con
người nhận rõ bản thân mình và tựđiều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra .Ngoài ra văn hoá cũng
đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tựý thức bản thân .
Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô
thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành vi
trước kia đãđược ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen,có thể diễn ra tựđộng bên ngoài sự chỉđạo của ý
thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con
người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói
quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .
b. Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộóc .Khoa
học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con
người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể
tách rời ý thức ra khỏi bộ não vìý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sựphụ thuộc ý thức vào
hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một
cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vìóc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát
triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại
hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với
động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gìđang
diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Do đóý thức xã hội hình
thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong
lòng nóý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất
đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tốý thức trong hoạt động
cải tạo thế giới quan của con người.
3. Mối quan hệ giữa vật chất vàý thức
Lênin đã chỉ ra rằng,sựđối lập giữa vật chất vàý thức chỉ cóý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường
hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau .
Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sựđối lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa
CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sựđối lập tuyệt đối giữa vật chất vàý
thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định.Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết
học ,lẫn giữa vật chất vàý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sựđối lập giữa vật chất vàý thức chỉ
là sự tương đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là
hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả
năng tự biến thành hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm
nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nóđề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính
ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người cóý thức mới có
khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sựđối lập giữa vật
chất vàý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự thống
nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất vàđời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng
phong phú vàđa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sựđối lập giữa
vật chất vàý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của
con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất vàý
thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai
cuảý thức.
Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối
và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể
tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành
hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách
luận hoặc khi được khuyến khích bởi một người khác về một cuốn sách hay nào đó, tức chỉ khi bịáp chế hoặc được
truyền cho niềm tin thì họ mới đổ xôđi đọc.
Có quá nhiều sinh viên vừa học, vừa chơi và cũng có quả nhiều sinh viên quên mọi thứ trên đời để học. Cả hai kiểu
học như thểđều mang lại những kết quả tiêu cực khác nhau. Một bên là sự hụt hẫng về kiến thức, thường xuyên đối
mặt với nguy cơ bịđuổi học còn bên kia lại là sự mệt mỏi, căng thẳng, những lo âu chồng chất trong những năm học
đại học khiến sức khỏe bị suy sụp, lạc lõng với những diễn tiến xung quanh xã hội, lạ lẫm với những điều đang tác
động đến cuộc sống hàng ngày….
Theo báo Tuổi trẻ ngày 3/10/2000 đã mời các thầy giáo đại học, các nhà quản lý, các sinh viên dự tọa đàm về "nâng
cao chất lượng đào tạo đại hạ" vàđã có nhiều ý kiến của sinh viên thẳng thắn bức xúc: sinh viên chúng tôi như
những cố máy rỉ sét, chúng tôi vào lớp chép chính tả và sau đó trả bài thuộc lòng, lắp ghép các kiến thức rời rạc.
Học đối phó và thi đối phóđể lấy cho được mảnh bằng, thể thôi việc học với sinh viên là học, ghi, thì phải thuộc.
Đa phần sinh viên mới chỉ học theo kiểu "học vẹt" thiếu tính thực tiễn. Nhìn vào hiện trạng của các "sản phẩm" của
nền giáo dục cao đẳng - đại học hiện nay có thể thấy rằng, hình như xã hội "không mê" các sản phẩm này. Sở dĩ có
thể nói như vậy bởi vì qua một cuộc thống kê nho nhỏ về trình độ của những người tìm việc làm ởmột tờ báo thành
phố Hồ Chí Minh trong 3/2003 thấy được những con số quá giật mình về trình độ học vấn của những ứng viên tìm
việc. Cụ thể là trong tổng 115 ứng viên tìm việc, cóđến 62 người có trình độĐại học tức chiếm 54%; có 24 người
trình độ cao đẳng, tức 21% và số người có trình độ trung cấp là 29 người chiếm 25%.
Thế nhưng những con sốđó muốn nói với chúng ta điều gì? Đó là sản phẩm của nền giáo dục "khoa cử". Tại sao có
nhiều người có trình độĐại học - Cao đẳng phải đi tìm việc như thế: Theo lẽ thường tình người ta hay nghĩ rằng, có
học vấn càng cao càng có nhiều cơ hội có việc làm, thế nhưng nay câu chuyện hoàn toàn ngược lại: học vấn càng
cao càng phải đi tìm việc nhiều, càng thất nghiệp. Tại sao vậy.
Có nhiều lý do nhưng có một lý do đó là chất lượng của các lao động có trình độđại học chưa đáp ứng được các nhu
cầu của nền sản xuất kinh tế công nghiệp tiên tiến. Hiện nay, bởi họ chỉ là sản phẩm của nền giáo dục "khoa cử rất
mạnh về học để thi nhưng kém về "học để làm" và "học để sáng tạo". Do đó mà từ lâu các "sản phẩm" của nền giáo
dục đại học của ta đã thường xuyên bị kêu ca là không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Xét về trình độ thực tế của sinh viên tốt nghiệp thì quả là còn yếu kém, một số ngành rất yếu. Về kiến thức, kỹ năng
thực hành, tính chủđộng sáng tạo, về khả năng diễn đạt bằng nói hay viết sinh viên ta đều kém, tuy cá biệt có những
người rất xuất sắc, nhưng số này không nhiều cũng chẳng có gì lạ, vì nhiều nơi coi đại học là "học đại".
3. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới nền giáo dục đại học
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định yêu cầu mới của nền giáo dục là: chuyển từ chủ trương
vai trò của trường đại học trong thế giới hiện đại. Giáo dục đại học là một động lực mạnh để phát triển kinh tế - một
động lực mà giáo dục trung học không thể tạo ra được song cũng phải thừa nhận rằng giáo dục đại học luôn là tiêu
điểm của việc học trong xã hội. Trường đại học vừa lưu giữ, vừa sáng tạo những tri thức, lại là một chuyển tải kinh
nghiệm văn hóa và khoa học - công nghệ cho các thế hệ theo học. Giáo dục thường xuyên phải gắn với cộng đồng,
mục tiêu của nó nhằm tạo nguồn nhân lực phục vụ những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của từng địa phương nên cách tổ
chức của nó thường bám chắc trong từng cộng đồng.
III. GIẢIPHÁP
1) Giải pháp nâng cao việc học và hành của sinh viên hiện nay.
Tạp chí Scien et vie (Pháp) đã viết: "Ai tự học mạnh nhất, người đó tích lũy được một tiềm năng sáng tạo dồi dào
nhất. Ngược lại, ai có nhu cầu sáng tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự học cao hơn".
Tự học để tiếp cận với sáng tạo. Sinh viên phải luyện độ tìm tòi và kỹ năng ứng biến. Đó là tiêu chí cần thiết để
phân định sự thông thái của một chủ thể nhận thức đồng thời là chủ thể sáng tạo. Trí thông minh vàóc sáng tạo của
mỗi người được thể hiện chủ yếu bằng hành động, thay vì chỉ dừng lại ởý thức được thể hiện chủ yếu bằng sựđáp
ứng những thử thách trong quá trình vận dụng kiến thức thay vì chỉ quanh quẩn ở việc vun bồi kiến thức. Bởi vậy
các chuyên gia UNESCO đã có lý khi khẳng định: "người hiểu biết ít mà vận dụng nhiều (có hiệu quả) biểu hiện
một trí tuệ hơn hẳn một người biết nhiều mà vận dụng ít". Sinh viên không chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, mà phải
chuyển sang thái độ tìm tòi cách cải biến và cách ứng dụng sự lĩnh hội đó. Đối với những người có thái độ học sáng
tạo thì sự tìm tòi đó có thể là:
* Tìm hiểu nhu cầu xã hội hoặc nhu cầu khoa học đối với một sản phẩm nào đó.
* Tìm hiểu những ưu điểm vượt trội cùng với những khuyết tật lớn nhỏ của một sản phẩm.
* Tìm kiếm cách thức đi tới cải tiến sản phẩm, chủ yếu: hạn chế những khuyết tật đó.
* Tìm kiểm những hiểu biết mới nhất kết hợp với những kinh nghiệm cổ truyền cho việc giải quyết vấn đềđó.
* Tìm hiểu mọi ý tưởng giản đơn cho việc phân tích và giải quyết một vấn đề phức tạp.
* Tìm hiểu những điều kiện khả thi và cách vượt lên khó khăn để thực hiện ý tưởng sáng tạo.
Như vậy thái độ tìm tòi trong khoa học và kỹ thuật tạo nên sự khai phá nhận thức khi tiếp cận thông tin, giúp chủ thể
nhận thức tự thể hiện và làm nên những cá tính sắc sảo khi vận dụng kiến thức.
Để sinh viên dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức, phương pháp học thì phải đưa vào chương trình học của sinh
viên, những bài học từ thực tế. Thay đổi cách học theo kiểu trả bài, rồi lịch học và lịch thi cứ dày đặc, đan xen lẫn
nhau. Định hướng cho việc học của sinh viên là một yêu cầu cực kỳ quan trọng, quan trọng không kém nữa là việc
thiết lập một thời gian biểu hợp lý cho sinh viên trong lúc học lẫn lúc thi.
một kỳ thi nhẹ nhàng chỉ nhằm mục đích sơ tuyển để loại những học sinh chưa đủ trình độ tối thiểu cần thiết theo
11
học đại học. Sau đó, việc tuyển chọn vào đại học nào do đại học ấy tự làm, chủ yếu dựa trên hồ sơ học THPT và
thẩm vấn hoặc thi nếu cần thiết.
Thứ hai là chấn chỉnh việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ
Bằng thạc sĩ và tiến sĩ phải theo yêu cầu quốc tế, không thể tùy tiện, đào tạo cẩu thả, chạy theo số lượng mà phải
theo chất lượng, trình độ làm tiêu chí hàng đầu. Thạc sĩ và tiến sĩ là lực lượng lao động, khoa học cốt cán, nếu đào
tạo dối trá, trình độ quá thấp thì không chỉ tai hại cho giáo dục, khoa học mà còn ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến
nhiều lĩnh vực hoạt động quan trọng khác, nhất là trong một xã hội còn quá chuộng bằng cấp như chúng ta. Vì vậy
cần chỉnh đốn từ gốc, rà soát lại để hạn chế chặt chẽ sốđơn vị, ngành được phép đào tạo, đơn vị nào, ngành nào còn
yếu thì cương quyết dừng lại việc đào tạo trong nước để gửi ra đào tạo ở nước ngoài và chuẩn bị thêm điều kiện.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra, lập lại kỷ cương , trật tự chống gian dối và cẩu thả trong việc đào tạo và cấp bằng.
Đồng thời những cơ sởđại học nào được phép đào tạo cần cóđủ quyền chủđộng từ việc tuyển nghiên cứu sinh lựa
chọn chương trình, cửa người hướng dẫn cho đến tổ chức phản biện bảo vệ và cấp bằng, để có thể tự chịu trách
nhiệm hoàn toàn trước xã hội về chất lượng đào tạo.
Thứ 3 là chấn chỉnh công tác chức danh GS, PGS. Đây là một trong những khâu then chốt đểđảm bảo chất lượng
cho đại học, nhưng trong một thời gian dài cho đến hiện nay, ở nước ta đã thực hiện khá tùy tiện và còn quá nhiều
bất cập. Một trong những nguyên nhân đóng góp vào sự trì trệ kéo dài của Đại học chính làở công tác này, thể hiện
khá tập trung những chính sách nhân tài. Do đóđể mởđường hiện đại hóa đại học, cần sớm chấn chỉnh công tác chức
danh GS, PGS, trước hết cải tổ "Hội đồng chức danh GS" thành một hội đồng không trực tiếp công nhận các chức
danh mà chỉ xét duyệt hàng năm, định kỳđể công nhận những người đủ tư cách ứng xử vào các chức danh GS, PGS
ở các đại học và viện nghiên cứu. Hàng năm các Đại học và viện nghiên cứu công bố như cần tuyển GS, PGS để bất
cứ ai đãđược công nhận "đủ tư cách" đều có thể dự tuyển.
Thứ 4 là cải thiện chính sách sử dụng giảng viên đại học. Tình trạng phổ biến hiện nay ở các Đại học là giảng viên
dạy quá nhiều giờ (25 - 30 giờ mỗi tuần không phải là hiếm). Kể cả giờ dạy trong trường, ngoài trường, dưới nhiều
hình thức khác nhau, dạy "liên kết" ở các địa phương, dạy tu, luyện thi… do đó ngay ở các đại học lớn, cũng rất ít
nghiên cứu khoa học và nhiều người đã lâu không có thói quen cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ nhưng lại sản
xuất đều đều cử nhân, Thạc sĩ, thậm chí cả tiến sĩ. Trình độ GS, PGS của ta nói chung khá thấp so với quốc tế, cả
nước số GS đãđược công nhận mới chiếm tỷ lệ chưa tới 0,1% số PGS chưa tới 5%, trong toàn bộ số giảng viên đã
học. Nếu kể cả những người thực tế có năng lực nhưng chưa được công nhận GS, PGS do cách tuyển chọn chưa hợp
Một nền giáo dục đại học chỉđược xem thành công khi nền giáo dục ấy đóng góp cho xã hội những cá nhân cóđầy
đủ trí và lực, đáp ứng được những nhu cầu về lao động trình độ cao và nghiên cứu khoa học nhằm góp phần thúc
đẩy sự phát triển của xã hội, đất nước.
Vì vậy mà việc nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa vật chất vàý thức. Vận dụng thúc đẩy việc học và hành của sinh
viên hiện nay mang một ý nghĩa vô cùng to lớn cóý nghĩa thực tiễn cao. Sinh viên phải cóđược phương pháp để tiếp
thu tri thức thời đại, rồi vận dụng thật tốt những tri thức đó vào thực tế góp phần xây dựng một xã hội ngày càng
phồn vinh, tươi đẹp.
"Mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế ".
I/ NỘI DUNG CỦA QUY LUẬT MÂU THUẪN PHÉP BIỆN CHỨNG
Quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật và là hạt nhân của phép biện chứng. Nội
dung của quy luật chỉ ra cho chúng ta thấy nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật là một thể đồng nhất tuyệt đối, chúng không có mâu thuẫn bên trong. Thực
chất của quan điểm này là phủ nhận mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Còn quan điểm của chủ
nghĩa duy vật cho rằng sự vật, hiện tượng luôn luôn có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn là hiện tượng khách quan
chủ yếu bởi vì sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đều được tạo thành từ nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, nhiều
quá trình khác nhau. Giữa chúng có mối liên hệ, tác động lẫn nhau trong đó sẽ có những liên hệ trái ngược nhau,
gọi là các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn của sự vật. Các mặt đối lập thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau gây
nên một biến đổi nhất định, làm cho sự vật vận động phát triển.
Các mặt đối lập là những mặt có xu hướng phát triển trái ngược nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau
trong một chỉnh thể duy nhất là sự vật. Quan hệ đó thể hiện các mặt vừa thống nhất vừa tiêu diệt nhau. Sự thống
nhất giữa các mặt đối lập là sư lương tựa, rằng buộc, phụ thuộc lẫn nhau làm tiền đề để tồn tại và phát triển cho
nhau, có mặt này mới có mặt kia. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự bài trừ gạn bỏ, phủ định lẫn nhau giữa
chúng. Hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một thể thống nhất, chúng thường xuyên muốn tiêu diệt lẫn nhau. Đó là
một tất yếu khách quan không tách rời sự thống nhất giữa chúng.
Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh là hai mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau. Sự thống nhất giữa các mặt chỉ
diễn ra trong những điều kiện nhất định với một thời gian xác định. Bất cứ sự thống nhất nào cũng diễn ra sự đấu
tranh giữa các mặt đối lập làm cho nó luôn luôn có xu hướng chuyển thành cái khác. Còn đấu tranh diễn ra từ khi
thể thống nhất xác lập cho đến khi nó bị phá vỡ để chuyển thành mới. Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra trải
qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khác nhau, từ khác biệt đến đối lập, từ đối lập đến xung đột, từ xung đột
đến mâu thuẫn.
hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, kinh tế nông nghiệp kém phát triển. Bên cạnh những nước
XHCN đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách
mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội vẫn còn là một nước XHCN lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Vì
thế mâu thuẫn giữa CHXH và CNTB đang diễn ra gay gắt. Trước mắt CNTB còn có tiềm năng phát triển kinh tế
nhờ ứng dụng những thành tựu đổi mới khoa học công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý. Chính nhờ những thứ
đó mà các nước tư bản có nền đại chủ nghĩa tư bản phát triển. Các nước XHCN trong đó có Việt Nam phải tiến
hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi
hình thức chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế
quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. Chính sự vận động của tất cả các mâu thuẫn đó đã dẫn tới hậu quả
tất yếu phải đổi mới nền kinh tế nước ta và một trong những thành tựu về đổi mới nền kinh tế là bước đầu hình
thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Sự tồn
tại nền kinh tế nhiều thành phần khắc phục được tình trạng độc quyền, tạo ra động lực cạnh tranh giữa các thành
phần kinh tế thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là đặc trưng cơ
bản của kinh tế quá độ, vừa là tất yếu, cần thiết, vừa là phương tiện để đạt được mục tiêu của nền sản xuất xã hội
nó vừa tạo cơ sở làm chủ về kinh tế vừa đảm bảo kết hợp hài hoà hệ thống lợi ích kinh tế. Đó là đông lực của sự
phát triển.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
1. Mặt thống nhất
Hiến pháp Nhà nước 1992 xác nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên chế
độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và lần thứ VIII đã được xác
định nền kinh tế nước ta tồn taị 5 thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế quốc doanh (kinh tế Nhà nước), thành phần kinh tế tập thể (hợp tác), thành phần kinh tế tư bản
tư nhân, thành phần kinh tế tư bản Nhà nước, thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ. Hiện nay chúng ta công nhận các
thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH, xác nhận sự tồn tại lâu dài của nó hơn nữa lại tuyên bố
phát triển tất cả các thành phần kinh tế đó theo định hướng XHCN. Đây không phải là một giáo điều sách vở
mà là những kinh nghiệm rút ra t ừ thực tế, những thể hiện từ những thất bại. Mục tiêu hàng đầu trong việc phát
triển các thành phần kinh tế được tóm tắt thành 3 điểm: Giải phóng sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội,
cải thiện đời sống của nhân dân. Mục tiêu cũng chính đã thể hiện nhất quán từ hội nghị Trung ương lần thứ VI khiến
hỡnh thc. Kinh t gia ỡnh c khuyn khớch phỏt trin mnh nhng khụng phi l mt thnh phn kinh t c
lp. Cỏc hỡnh thc s hu hn hp v an kt vi nhau hỡnh thnh cỏc t chc kinh t a dng. Cỏc t chc kinh t
ch v liờn kt, hp tỏc v cnh tranh trong sn xut kinh doanh "Mc dự thnh phn kinh t u chu s iu tit
ca Nh nc nhng mi thnh phn ó c nhõn dõn hng ng rng rói v i nhanh vo cuc sng chớnh sỏch
y ó gúp phn phỏt huy quyn lm ch ca nhõn dõn v kinh t, khi dyc nhiu tim nng v sc sỏng to
ca nhõn dõn phỏt trin sn xut, dch v to thờm vic lm sn xut cho xó hi thỳc y s hỡnh thnh v phỏt
trin nn kinh t hng hoỏ, to ra s cnh tranh sng ng trờn th trng. S phỏt trin ca cỏc thnh phn kinh
t l quỏ trỡnh thc hin s kt hp v li ớch kinh t xó hi, tp th v ngi lao ng ngy cng cao hn.
2. Mt mõu thun:
a. Quy lut khụng nhng ch ra quan h gia cỏc mt i lp m cũn ch ra cho chỳng ta thy, ngun gc, ụng lc
ca s phỏt trin chớnh vỡ th trong s phỏt trin cỏc thnh phn kinh t nc ta hin nay bờn cnh mt thng nht
cũn song song phỏt trin theo nh hng t bn ch ngha. Mc dự vy ú mi ch l kh nng vỡ thc trng kinh
t - xó hi nc ta v tng quan lc lng trong bi cnh quc t nh hin nay khi vn mnh ca t nc phỏt
trin theo hng XHCN "Cha phi l mt cỏi gỡ khụng th o ngc li. L quyt tõm cao kiờn nh cha m
phi cú ng li sỏng sut khụn ngoan ca mt chớnh ng cỏch mng tiờn tin giu trớ tu v c bit phi cú b
mỏy Nh nc mnh". Mõu thun c bn trờn cũn th hin gia mt bờn gm nhng lc lng v khuynh hng
phỏt trin theo nh hng XHCN trong tt c cỏc thnh phn kinh t, c s c v, khuyn khớch hng dn, bo
tr ca nhng lc lng chớnh tr - xó hi tiờn tin vi mt bờn l khuynh hng t phỏt v nhng lc lng v
nhng lc lng gõy tn hi cho quc t nhõn sinh. Mõu thun c bn ny c quyt nh nhng mõu thun kinh
t - xó hi khỏc c v chiu rng v chiu sõu, trong quỏ trỡnh phỏt trin kinh t nh nc theo nh hng XHCN.
Do c im ca thi k quỏ tin lờn XHCN nc ta l phỏt trin mnh m v nhanh chúng lc lng sn
xut, khc phc nhng kinh t lc hu v li thi bng cỏch phỏt trin nn kinh t hng hoỏ nhiu thnh phn, vn
ng theo c ch th trng cú s qun ca Nh nc a nn kinh t nc ta i lờn CNXH. Do ú mõu thun
kinh t c bn n cha bờn trong quỏ trỡnh ny l: mõu thun gia hai nh hng phỏt trin kinh t - xó hi: nh
hng XHCN v nh hng phi XHCN. ú l mõu thun bờn trong ca nn kinh t nc ta hin nay. Hai nh
hng ú song song v thng xuyờn tỏc ng ln nhau to thnh mõu thun kinh t c bn chi phi quỏ trỡnh
phỏt trin nn kinh t nc ta trong thi k quỏ tin lờn CNXH. Do vy vn ng nn kinh t nc ta khụng th
tỏch ri s vn ng ca th gii ca thi i. Ngy nay nhng nhõn t bờn trong v bờn ngoi ca cỏch mng Vit
Nam gn bú khng khớt vi nhau hn bao gi ht cho nờn cũn cú mt mõu thun na tỏc ng mnh m vo quỏ
trỡnh phỏt trin ca nn kinh t nc ta hin nay l mõu thun ca nhõn dõn ta di s lónh o ca ng gi vng
Nm thnh phn kinh t nc ta n nay , khụng ch cú mõu thun bờn ngoi gia cỏc thnh phn kinh t m cú
mõu thun bờn trong bn thõn cỏc thnh phn kinh t m mun hiu ỳng bn cht ca s vt mun xỏc nh c
xu th phỏt trin ca nú phi tỡm cho c mõu thun bờn trong ca s vt. Bờn trong bn thõn cỏc thnh phn
kinh t cũn tn ti mõu thun gia li ớch cỏc ngnh trong thnh phn kinh t ú, nhng ngnh c quyn nh CN
(1)
Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000 - NXB Sự thật Hà Nội 1991 - Trang 12
15
quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước, Bưu chính viễn thông, không phải là không chịu sự cạnh tranh khốc liệt của
nền kinh tế thị trường. Ngành nào c ũng muốn - kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế hiện nay thực
hiện điều đó không phải là dễ dàng. Nhưng chính sự cạnh tranh đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển
cao hơn với chất lượng và số lượng sản phẩm ngày càng phong phú hơn. Chuyển sang kinh tế thị trường tất yếu
phải hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong thời đại ngày nay, mọi nền kinh tế dân tộc đều không hướng tới xuất
khẩu, không coi mũi nhọn vươn lên ra bên ngoài thì không thể đưa nền kinh tế trong nước tăng trưởng theo kịp
bước tiến hoá chung của nhân loại. Nền ngoại thương Việt Nam những năm 1981 - 1982 còn nhỏ bé và mất cân đối
nghiêm trọng. Tổng kim ngạch không vượt quá 500 triệu USD và tỉ lệ xuất nhập là 1/4 (xuất 1 thì nhập 4). Những
năm đầu thay đổi (1986 - 1987) kim ngạch xuất khẩu khoảng 800 triệu USD với tỷ lệ xuất nhập khẩu là 1/1,7. Năm
1986 - 1989 kim ngạch xuất khẩu đã trên 1 tỷ USD, năm 1991 gần 2 tỷ USD và năm 1992 trên 2,4 tỷ với cán cân
ngoại thương thăng bằng. Đó là những bước tiến hết sức quan trọng tại những cơ sở, những tín hiệu đáng mừng
cho nền kinh tế nước ta. Đó là do sự cạnh tranh gay gắt của các ngành trong kinh tế quốc doanh, mà ngành nào cũng
cho mình là then chốt. Đấu tranh và phát triển là hai mặt của hiện tượng, là quan hệ nhân - quả của một vấn đề. Có
đấu tranh mới có phát triển vì vậy như bất kỳ một giá trị nào, sự đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu sẽ dẫn đến sự
chuyển hoá g iữa chúng. Trong cơ chế thị trường mặc dù là sự cạnh tranh rất khốc liệt "Thương trường là chiến
trường" nhưng những gì còn tồn tại được và mặt hàng nào được người tiêu dùng chấp nhận, đó chính là do sự nỗ
lực đổi mới của bản thân ngành đó. Chính vì vậy các doanh nghiệp không thể ngồi yên thụ động mà phải đổi mới,
cải tiến đáp ứng nhu cầu của thị trường, thúc đẩy tính năng động sáng tạo và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đó là tính ưu việt của mâu thuẫn nhưng bên cạnh đó những mâu thuẫn này cũng đã nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Đó
là sự coi trọng lợi ích và đồng tiền, vì tiền họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình. Điều
này có sự ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chung của xã hội nhất là xã hội Việt Nam ta muốn coi trọng
những giá trị văn hoá truyền thống và đạo đức con người. Tính mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế là còn ở
chỗ do lợi ích lâu dài giữa các thành phần kinh tế khác nhau, mỗi thành phần kinh tế có lợi ích riêng. Quá trình phát
- Sự tăng trưởng và tồn tại hay hồi sinh của một số xí nghiệp về mặt thực chất vẫn còn lợi dụng kẽ hở của bao
cấp Nhà nước, những sơ hở của pháp luật.
- Quen sống trong cơ chế bao cấp nên thiếu độ nhạy cảm với các thông số biến động của thị trường.
Nhiều doanh nghiệp đã trở thành nơi để cho người lợi dụng quốc doanh để buôn lậu, tham nhũng làm thất thoát
tài sản vốn liếng của Nhà nước.
2. Kinh tế tập thể:
Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu tập thể về TLSX (trừ ruộng đất sở hữu toàn dân). Đây là thành phần kinh tế tuy
trình độ xã hội hoá tư liệu sản xuất, tổ chức và quản lý sản xuất còn thấp hơn kinh tế quốc dân nhưng sản xuất với
lượng hàng hoá cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng đời sống xã hội. Trước biến động có tính bước ngoặt của nền
kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường và sự sụp đổ của các nước Liên xô và đông âu cũ, kinh tế thị trường nước
ta nhìn chung bị giảm sút và biến dạng. Trong công nghiệp số HTX 32.034 (1988) chỉ còn 9.660 (1991) m ức sản
16
xuất năm 1991 so với năm trước giảm 47% nên giá trị sản lượng đóng cũng giảm dần từ chỗ chiếm 23,9% (năm
1988) giảm xuống còn 6,8% (năm 1991). Trong thương nghiệp và dịch vụ tính đến năm 1989 toàn ngành có 21.094
điểm bán hàng tập thể, trong đó 14.992 HTX mua bán ở phường xã. Tính đến năm 1991 hơn 75% số HTX giải thể.
Số còn lại hoạt động cầm chừng. Từ chỗ toàn ngành thương nghiệp dịch vụ chiếm 15% tổng mức bán lẻ trên t hị
trường trước năm 1996 đến năm 1991 chỉ còn chiếm 1,8%. Trong nông nghiệp sự xuất hiện kinh tế nông hộ với tư
cách là đơn vị kinh tế cơ sở, thực hiện rộng rãi cơ chế khoán, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, được
giao quyền sử dụng ruộng đất, bước đầu giải phóng mức sản xuất khai thác tiềm năng lao động và vốn của nhân
dân. Nhà nước tiếp tục đổi mới và kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ , bình đẳng phát huy
và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và của xã viên. Phát triển các hình thức hợp tác, đa dạng và mở rộng các
hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mua bán, tín dụng (nông dân) ở những nơi cần
thiết và có điều kiện.
3. Kinh tế tư bản Nhà nước.
Hiện nay việc nhận thức thành phần kinh tế còn rất hạn hẹp và rất đơn giản, mặc dù nó có vị trí rất quan trọng
trong cơ cấu kinh tế những thành phần ở nước ta. Thành phần kinh tế này rất phát triển, đa dạng. Nó bao gồm các
loại hình doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu hỗn hợp . Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến tháng 7 năm
1992 đã có 461 dự án đầu tư đã được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 3.563 triệu USD; trong đó hình thức
liên doanh là chủ yếu, phổ biến chiếm 342 dự án và chiếm 55% tổng số vốn đăng ký. Nếu tính theo địa phương và
miền thì các tỉnh phía nam chiếm 72,5% số dự án và 73,5% tổng số vốn đăng ký cả nước. Còn số dự án đầu tư và
thể là các cơ sở gia công cho doanh nghiệp hoặc các HTX. Kinh tế cá thể được khuyến khíchphát triển trong các
ngành ở cả thành thị và nông thôn không bị hạn chế việc mở rộng kinh doanh, có thể tồn tại độc lập, tham gia các
loại hình HTX, liên kết với các doanh nghiệp lớn bằng nhiều hình thức. Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức
sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất và lao động trực tiếp của bản thân người lao động . Kinh tế cá thể có đặc điểm
kỹ thuật thủ công, năng suất lao động thấp, sản xuất nhỏ phân tán nhưng khi có chính sách kinh tế đúng kinh tế cá
thể có khả năng đóng góp nhiều cho lợi ích xã hội như tiền vốn, sức lao động, kinh nghiệm truyền thống. Tuy nhà
nước cũng cần có những biện pháp quản lý thị trường chặt chẽ để hạn chế và khắc phục tính tự phát của nó.
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ TRIỂN VỌNG:
Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chiến lược kinh tế đến năm 2000, cơ cấu kinh tế trong những năm 90 phải
chuyển dịch rõ ràng. Và một trong những phương hướng chuyển dịch đó là phải sắp xếp lại và đổi mới quản lý để
đảm bảo sự phát triển có hiệu quả của kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, khuyến khích mọi loại hình kinh doanh
mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, tạo môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị kinh tế.
Để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao
với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành
17
nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế lao động là chủ yếu.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Đảng ta đã khảng định: Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo
vệ môi trường sinh thái. Cần tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước khai thác mặt tích cực và khắc
phục, ngăn ngừa hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
từ pháp luật của mọi doanh nghiệp, cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế.
KẾT LUẬN
Mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan phổ biến hình thành từ nhữnh cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn
có tự thân của tất cả các sự vật, hiện tợng trong bản thân thế giới khách quan do đó trong hoạt động thực tiễn phân
tích từng mặt độc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức đợc bản chất khuynh hớng vận động, phát triển của
sự vật hiện tợng.
được chứng minh một cách khá rõ ràng ở hình thức vận động xã hội của vật chất. Đó là sự thay thế lẫn nhau của các
hình thái kinh tế- xã hội, từ đó sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của ý thức, của cách nghĩ, bởi tồn tại xã hội
bao giờ cũng quyết định ý thức xã hội.
Vai trò cơ sở, quyết định của vật chất còn được thể hiện ở chỗ nó quyết định nội dung phản ánh, quyết định sự biến
đổi của ý thức.
Từ nội dung thứ hai trong định nghĩa vật chất của Lênin rằng: Vật chất mà cái cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua
chỉ là sự phản ánh của nó, mà ta thấy rằng nội dung phản ánh của ý thức là thế giới bên ngoài, là hiện thực khách
quan. Hay nói như chủ nghĩa duy vật macxit : Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con
người. Chính vì vậy mà thế giới khách quan như thế nào thì ý thức phản ánh như thế ấy, không nên phản ánh một
cách xuyên tạc, hư ảo, bóp méo sự thật về thế giới khách quan như việc tô vẽ hình tượng các vị thần linh. Nói cách
khác, nội dung phản ánh của ý thức phải lấy cái khách quan làm tiền đề và bị cái khách quan quy định.
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức. Do ý thức là chức năng của bộ não người. Hoạt động ý thức không diễn
ra ở đâu ngoài những hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não. Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não, do đó khi
bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không được bình thường hoặc bị rối loạn.
Mặt khác, trong hoạt động của con người, nhu cầu vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định
mục đích hoạt động bởi vì con người trước hết phải được thoả mãn nhu cầu vật chất tối thiểu : ăn, ở, mặc… rồi mới
nghĩ đến vui chơi, giải trí, các hoạt động tinh thần.Tức là, hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới
mục tiêu cải biến tự nhiên để thoả mãn nhu cầu sống. Cuộc sống tinh thần của con người phụ thuộc và bị chi phối
bởi nhu cầu vật chất và những điều kiện vật chất hiện có. Ý thức con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất,
18
cũng không thay đổi được quy luật vận động của nó. Do đó, mọi mục tiêu ước muốn của con người không dựa trên
điều kiện vật chất hiện có, trên mảnh đất hiện thực đều là ước mơ chủ quan, không tưởng.
Ví dụ: Vận dụng trong sự nghiệp công nhiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta. Trước kia do không nhận thức được
rằng mọi chủ trương đường lối…đều phải dựa trên điều kiện vật chát hiện có mà chúng ta đã chủ trương phát triển
công nghiệp nặng trong khi mọi tiền đề vật chất thì chưa có. Do đó, chúng ta đã bị thất bại.
Không chỉ có thế, tính thứ nhất của vật chất so với tính thứ hai của ý thức còn được thể hiện ở chỗ vật chất là điều
kiện để hiện thực hoá ý thức. Nó quy định khả năng các nhân tố tinh thân có thể tham gia vào hoạt động của con
người. Nó tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần này hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy
định mục đích, chủ trương, biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa, bổ
sung, cụ thể hoá các mục đích, chủ trương biện pháp đó.
phát triển, triệt tiêu tính năng động tích cực sáng tạo của ý thức.
Mặt khác, do có tính vượt trước, nên ý thức giúp cho hoạt động của con người trở nên tự giác, tích cực, chủ
động hơn như trong việc dự báo, lập kế hoạch, đề ra đường lối, phương pháp hành động.
Vai trò của ý thức còn thể hiện ở vai trò của tri thức, trí tuệ, tình cảm và ý chí. Nó không những là kim chỉ
nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực của thực tiễn. Không có sự thúc đẩy của tình cảm, ý chí, hoạt động
thực tiễn sẽ diễn ra một cách chậm chạp, thậm chí không thể diễn ra được. Nhờ ý chí và tình cảm, ý thức quy định
tốc độ và bản sắc của hoạt động thực tiễn. Tinh thần, dũng cảm, dám nghĩ dám làm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm,
tình yêu, niềm say mê với công việc, khả năng sáng tạo và vượt qua khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu xác định đều có
ảnh hưởng to lớn đến hoạt động thực tiễn làm cho nó diễn ra nhanh hay chậm. Tuy nhiên, ý chí, tình cảm chỉ là động
lực mà không thể là kim chỉ làm cho hoạt động thực tiễn. Bởi vì, sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn,
tác dụng tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên và xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò
chỉ đạo ý thức. Chính vì vậy phải biết kết hợp giữa tri thức, trí tuệ, khoa học với ý chí, tình cảm. Bởi tri thức càng
được tích luỹ, con người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan của ý thức là việc thừa nhận và tôn trọng tính
khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội. Nếu như thế giới vật chất – với những thuộc tính và
quy luật vốn có của nó – tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
Chính vì vậy, Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách,
không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn
chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Không chỉ có thế, khi vai trò chỉ đạo của ý thức phạm sai lầm thì tinh thần, dũng cảm, lòng nhiệt tình, chí
quyết tâm cũng làm cho hoạt động thực tiễn thất bại một cách nhanh chóng.
Qua những điều vừa trình bày ở trên về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chúng ta có thể rút ra một ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người như sau: Mọi
19
hoạt động của con người ( cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn) đều phải xuất phát từ thực tế khách quan,
phát huy được tính năng động sáng tạo của ý thức, tư tưởng, của nhân tố chủ quan của con người và đồng thời
chống chủ quan duy ý chí.
2. Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vào sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập hệ thống chính trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà mà nhân loại đã đạt
được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,
xây dựng nền kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất
của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp cho nên phải trải qua một thời kì quá độ lâu
dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ.
Khi khẳng định: chúng ta phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa, tức là, chúng ta lựa chọn, sử dụng những thành tựu có lợi cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên
phương diện này cần phải xem chủ nghĩa tư bản không chỉ là một đối trọng mà quan trọng hơn đồng thời là một đối
tác.
Đây là một vấn đề rất quan trọng đối với nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Muốn chủ
nghĩa xã hội thành công thì không thể không sử dụng chủ nghĩa tư bản với tư cách là một nấc thang văn minh nhân
loại. Như Mac đã nói: “ chúng ta đau khổ vì chủ nghĩa tư bản và cũng đau khổ vì không có nó”. Tức là, chúng ta đau
khổ vì quan hệ sản xuất sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhưng có lẽ chúng ta còn đau khổ hơn
nếu như không có lực lượng sản xuất khổng lồ của nó, đó chính là: “Tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” (C.Mác và
Ph.Ăngghen).
Định hướng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội tất yếu phải kế thừa và sử dụng lực lượng sản xuất do nhân loại
tạo ra và phát triển trong điều kiện của xã hội tư bản chủ nghĩa, chẳng hạn đó là: thành tựu khoa học, kỹ thuật, và
công nghệ –môi trường, là cơ chế thị trườngvới nhiều hình thức cụ thể tác động vào quan điểm phát triển kinh tế,
nhất là những mặt tích cực của nó. Nói như vậy không có nghĩa là lặp lại hoàn toàn quá trình xây dựng lực lượng
sản xuất đó trong lịch sử.
Ở nước ta, lực lượng sản xuất cần phát triển song hành hai phương thức: tuần tự (từ thủ công đến nửa cơ khí rồi cơ
khí) và nhảy vọt theo lối đi tắt, đón đầu (từ thủ công đi thẳng vào hiện đại) sao cho trong một thời gian ngắn, thậm
chí rât ngắn chúng ta đạt trình độ với các nước tiên tiến trong khu vực…
Song chúng ta phải biết rằng, lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển gắn liền với quan hệ sản xuất phù hợp. Vì vậy,
Đảng và nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính
20
là không có kế thừa và chọn lọc những quan hệ sản xuất, những hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa khi nó chưa hết
tác dụng tích cực ngya trong thời kỳ quá độ. Đây chính là những “cây cầu nhỏ”, những bước trung gian quá độ đưa
chúng ta tới “phòng chờ” trực tiếp đi và chủ nghĩa xã hội.
Về nặt kiến trúc thượng tầng, chúng ta cũng kế thừa và chọn lọc để xây dựng nhà nước hiến pháp của xã hội chủ
nghĩa điều khiển nền kinh tế thị trường.
Chúng ta xác định mục tiêu: chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một chế độ xã hội vì con người và do con
người. Để tiến hành đến mục tiêu xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với tăng trưởng kinh tế, với
công bằng xã hội, với tiến bộ xã hội, phải ra sức thực hiện các chính xác xã hội. Đảng ta khẳng định: “chính xác xã
hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tại của nhân dân trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”, bởi “không có đầu tư nào có lợi như đầu tư cho con người ”. Chính sách xã hội
của Đảng được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống: quan tâm chăm sóc đối với những người có công với cách
mạng, chính sách đền ơn đáp nghĩa (xây nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa). Trong kihn tế, tạo ra nhiều công ăn
việc là mới cho người lao động, cải cách chế độ tiền lương theo hướng xoá bỏ thu nhập bình quân, tiền tệ hoá tiền
lương, khuyến khích tài năng, đâu tư đúng mức cho các ngành: y tế, giáo dục, văn hoá- nghệ thuật, nghiên cứu khoa
học. Thực hiện chính sách dân số là một mục tiêu hết sức quan trọng trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta hiện nay.
Nhưng dù sao đó mới chỉ là những chủ trương, đường lối đối với tình hình trong nước. Vậy còn quốc tế thì sao?
Thứ nhất, cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học tiếp tục có những
bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tri thức. Nước ta
một mặt có cơ hội rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của mình. Đồng thời đứng trước
nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ được cơ hội, khắc phục được những yếu kém để vươn lên. Điều này đòi
hỏi các nhà doanh nghiệp phải hết sức nhanh nhạy nắm bắt thông tin, áp dụng những thành tựu của khoa học công
nghệ vào trong kinh doanh, có như thế mới mong có cơ hội phát triển.
Thứ hai, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy
hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc nhau giữa các nền kinh tế. Nước ta cũng không thể nằm ngoài
vòng xoáy đó.
Vậy chúng ta phải làm thế nào để vừa có thể hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào xu thế toàn cầu hoá lại vừa có
thể giữ vững được nền kinh tế độc lập tự chủ.
Trước tiên phải tính đến vai trò của bộ máy nhà nước. Theo chỉ dẫn của Lênin thì bộ máy nhà nước cần phải vừa
mềm dẻo vừa hết sức cứng rắn: “Ngày nay cần có sự mềm dẻo tối đa, mà muốn thế, muốn ứng biến một cách mềm
bão lớn, nghị lực lớn thì không thể thực hiện được những nhiệm vụ trọng đại, khó khăn phức tạp chưa từng có trong
lịch sử dân tộc. Vấn đề là ở chỗ mọi nhiệt tình và ý chí cách mạng hiện nay phải gắn liền với chi thức, hiểu biết, đặt
trên cơ sở khoa học, sự phát triển tiềm lực trí tuệ của cả dân tộc.
Không có khoa học, không có sự phát triển mạnh mẽ nguồn lực trí tuệ thì không thể dẫn dắt xã hội đi tới văn minh,
hiện đại. Do đó, phải quy tụ mọi tài năng của công dân, tập hợp trí tuệ và phát huy sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc.
Đây phải đứng ở đỉnh cao và là chỗ kết tinh tài năng ý chí chỉ đạo, bản lĩnh giai cấp và dân tộc, biểu hiện tinh thần
thời đại.
Bước vào thế kỷ XXI, chúng ta tin chắc vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc,
tin chắc chủ nghĩa xã hội nhất định thành công, nhất định tiếp tục đi theo con đường đã chọn, dù một thế kỷ hay lâu
hơn nữa cũng không nao núng. Đó phải chăng là sự khẳng định một ý chí lớn, một niềm tin lớn, một quyết tâm lớn
mà nếu không có thì sẽ không tiếp tục cụ thể hoá và từng bước đưa vào cuộc sống những điều ghi trong cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong Đại hội Đảng lần thứ IX.
Với ý chí “quyết tâm đưa nước ta thoát khỏi nghèo làn, lạc hậu”, thhì không thể chậm chễ trong công nghiệp hoá,
hiện đại hhoá đất nước, để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa nước ta với các nước phát triển.
Trong khi đề cao vai trò của nhân tố chủ quan, của ý chí, nhiệt tình, cách mạng cũng cần phải phân biệt với tư tưởng
chủ quan duy ý chí. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nhưng ý thức xã
hội lại có tác động ngược lại đến tồn tại xã hội, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội. Khi con người xuất
phát ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế thì nó sẽ trở thành một vận cản đối với sự nghiệp cách mạng. Vì
vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà trước mắt là sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta
không thể tiến hành theo quan niệm cũ, cách làm cũ (trước 1986). Mà mọi đường lối, kế hoạch đều phải dựa vào
tình hình thực tế, những điều kiện và khả năng thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.
Nêu cao, bồi dưỡng ý chí cách mạng và phê phán tư tưởng chủ quan duy ý chí là hai mặt của một vấn đề. Nêu cao ý
chí cách mạng là khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám tạo ra những bước đột phá có tính cách mạng để
phát triển chứ không phải là kích thích những hành động chủ quan nóng vội, bất chấp quy luật khách quan. Phê phán
tư tưởng chủ quan duy ý chí là nhằm hướng tới sự tỉnh táo khoa học và tính thực tiễn trong mọi mặt hoạt động chứ
không phải là làm nhụt ý chí cách mạng.
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu đề tài trên, chúng ta đã tìm hiểu một cách sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức,
đó là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Khẳng định vật chất luôn mang tính thứ nhất, tính quyết
định, ý thức luôn mang tính thứ hai, bị chi phối, bị quyết định. Song, ý thức lại có tác động trở lại vô cùng quan
quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con ngời mới tạo ra đợc ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tơng tác giữa bộ
não con ngời và thế giới khách quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một ngời nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động đợc
hay không có bộ não thì không thể có ý thức đợc. Cũng nh câu chuyện cậu bé sống trong rừng cùng bầy sói không
đợc tiếp xúc với xã hội loài ngời thì hành động của cậu ta sau khi trở về xã hội cũng chỉ giống nh những con sói. Tức
là hoàn toàn không có ý thức.
Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức. Nhờ có lao động mà các giác
quan của con ngời phát triển phản ánh tinh tế hơn đối với hiện thực ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm
tình cảm, hay là phơng tiện thể hiện ý thức. ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội có ý nghĩa quyết
định hơn cho sự ra đời của ý thức.
Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo.
VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thờng trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não ngời. Nhng khi bộ
não ngời bị tổn thơng thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn.
VD2. ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp 1, 2, 3 về công nghệ thông tin là rất yếu kém sở dĩ nh vậy là do về
máy móc cũng nh đội ngũ giáo viên giảng dậy còn thiếu. Nhng nếu vấn đề về cơ sở vật chất đợc đáp ứng thì trình độ
công nghệ thông tin của các em cấp 1, 2, 3 sẽ tốt hơn rất nhiều.
VD2. Đã khẳng định điều kiện vật chất nh thế nào thì ý thức chỉ là nh thế đó.
2. ý thức tác động trở lại vật chất.
Trớc hết ta đa ra định nghĩa của ý thức: ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ não con ngời
thông qua lao động mà ngôn ngữ. Nó là toàn bộ hoạt động tinh thần của con ngời nh: Tình cảm yêu thơng, tâm trạng,
cảm súc, ý trí, tập quán, truyền thống, thói quen quan điểm, t tởng, lý luận, đờng lối, chính sách, mục đích, kế hoạch,
biện pháp, phơng hớng.
Các yếu tố tinh thần trên đều tác động trở lại vật chất cách mạng mẽ. VD. Nếu tâm trạng của ng ời công nhân mà
không tốt thì làm giảm năng suất của một dây chuyền sản xuất trong nhà máy. Nếu không có đờng lối cách mạng
đúng đắn của đảng ta thì dân tộc ta cũng không thể giảng thắng lơị trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ
cũng nh Lê - Nin đã nói Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng.
Nh vậy ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào vật chất mà ý thức có tính độc lập tơng đối vì nó có tính năng động
cao nên ý thức có thể tác động trở lại. Vật chất góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn
của con ngời.
ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thấy đẩy hoạt động thực tiễn của con ngời trong quá trình
cải tạo thế giới vật chất. Khi phản ánh đúng hiện thực khách quan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của
sống và năng động cho nền kinh tế, phát triển lực lợng sản xuất. Phát triển các quan hệ hàng hoá và tiền tệ và tự do
buôn bán, các thành phần kinh tế tự do kinh doanh và phát triển theo khuôn khổ của pháp luật, đ ợc bình đẳng trớc
pháp luật. Mục tiêu là làm cho thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể đóng vai trò chủ đạo. Song song quá trình
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì chúng ta cũng cần phát triển nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay nền kinh tế thị trờng ở nớc ta còn đang ở trình độ kém phát triển. Biểu hiện ở số lợng
hàng hoá và chủng loại hàng hoá quá nghèo nàn, khối lợng hàng hoá lu thông trên thị trờng và kim ngạch xuất nhập
khẩu còn quá nhỏ, chi phí sản xuất lại quá cao dẫn đến giá thành cdao, nhng chất lợng mặt hàng là kém. Nhiều loại
thị trờng quan trọng còn ở trình độ sơ khai hoặc mới đang trong quá trình hình thành nh : thị trờng vốn, thị trờng
chứng khoán, thị trờng sức lao động
Chúng ta cũng cần mở rộng giao lu kinh tế nớc ngoài, nhanh chóng hội nhập vào tổ chức thơng mại thế giới WTO,
AFTA và các hiệp định song phơng đồng thời phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Muốn vậy, ta phải đa phơng
hoá và đa dạng hoá hình thức và đối tác, phải quán triệt trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau và không phân biệt chế độ chính trị - xã hội phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của đất
nớc trong quanhệ kinh tế quốc dân nhằm khai thác tiềm năng lao động, tài nguyên thiên nhiên đất nớc, tăng xuất
nhập khẩu, thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý.
Thu hút vốn đầu t nớc ngoài và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một trong chủ trơng quan trọng của Đảng. Để làm
điều này thì chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính
và tiền tệ, giá cả, phát triển các thị trờng quan trọng nh thị trờng chứng khoán, thị trờng lao động Nhà nớc cũng cần
hạn chế việc can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà nên tập trung tốt các chức năng
tạo môi trờng, hớng dẫn, hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp nớc ngoài. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật đồng bộ nhng thông thoáng lành mạnh để tạo sự tin tởng cho các nhà đầu t của nớc ngoài. Tránh tình trạng giấy
tờ phức tạp rắc rối, trên bảo dới không nghe làm cho quá trình giải toả mặt bằng gặp nhiều khó khăn.
Với các chủ trơng trên ta nhận thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, đó cũng là bài học quan trọng của
Đảng là: "Mọi đờng lối chủ trơng của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.
2. Để xây dựng XHCN cũng cần phải hiểu sâu sắc vai trò của ý thức tác động trở lại vật chất
Một rong chủ trơng quan trọng là phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành
động. T tởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ t tởng Mác - Lênin là sự thốn nhất giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn
của đất nớc Việt Nam. T tởng Hồ Chí Minh đã bảo về và quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin đúng đắn và hiệu quả
nhất. Nh vậy muốn hiểu sâu sắc và vận dụng t tởng Hồ Chí Minh phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là phép
biện chứng duy vật và phải nghiên cứu, nắm vững thực tiễn. Chúng ta phải tập trung suy nghĩ về hai mặt:
giải quyết tốt vấn đề ba lợi ích tập thể, và lợi ích xã hội nhằm đảm bảo lợi ích tr ớc mắt cũng nh lâu dài của ngời lao
động.
Đảng và Nhà nớc cũng cần khắc phục thái độ trông chờ và ỷ lại vào hoàn cảnh bằng cách nhanh chóng cổ phần hoá
các công ty nhà nớc để tạo sự năng động, sáng tạo trong hoạt động cũng nh cạnh tranh, nhất là trong thời kỳ hội
nhập hiện nay. Đảng cũng phải cơng quyết giải thể các công ty làm ăn thua lỗ nh: Tổng công ty sành sứ Việt Nam,
Tổng công ty nhựa, Tổng công ty rau quả Việt Nam để tránh việc nhà nớc bỏ vốn vào nhng lại luôn phải bù lỗ cho
các công ty này.
Ngoài ra chúng ta cũng cần nâng cao trình độ nhận thức tri thức khoa học cho nhân dân nói chung và đặc biệt đầu t
cho ngành giáo dục. Chúng ta cần xây dựng chiến lợc giáo dục, đào tạo, với những giải pháp mạnh mẽ phù hợp để
mở rộng quy mô chất lợng ngành đào tạo, đối với nội dung và phơng pháp giáo dục, đào tạo, cải tiến nội dung chơng
trình giáo dục, đào tạo phù hợp với từng đối tợng, trờng lớp ngành nghề. Kết hợp giữa việc nâng cao dân trí, phổ cập
giáo dục với việc bồi dỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của ngời lao động để đáp ứng nhu cầu cao
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp trên sẽ kích thích tính
năng động và tài năng sáng tạo của ngời lao động ở nớc ta. Sự nghiệp đất nớc càng phát triển thì tính tích cực và
năng động của con ngời càng tăng lên một cách hàng hợp với quy luật.
Kết luận
Nói tóm lại, vật chất bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đối với ý thức, nó là cái có trớc ý thức, nhng ý thức có tính
lực năng động tác động trở lại vật chất. Mối tác động qua lại này chỉ đợc thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của
24
con ngời. Chúng ta nâng cao vai trò của ý thức với vật chất chính là ở chỗ nâng cao năng lực nhận thức các quy luật
khách quan và vận dụng các quy luật khách quan trong hoạt động thực tiễn của con ngời.
Trong thời kì đổi mới của nớc ta khi chuyển nền từ tập trung, quan liêu sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan. Với chủ trơng này chúng ta đã giành đợc một số thắng lợi to lớn tuy
nhiên vẫn còn một số thiếu sót, đặc biệt ở khâu hành động. Đề ra chủ trơng là vấn đề quan trọng nhng thực hiện nó
mới là một vấn đề thực sự khó khăn.
Phộp bin chng duy vt v vai trũ ca núi vi hot ng ca con ngi
I. Phộp bin chng v lch s phộp bin chng
1. Khỏi nim phộp bin chng
Phộp bin chng l mụn khoa hc v nhng quy lut ph bin ca s vn ng v s phỏt trin ca t nhiờn ,
nú
(
3)
c. i din
- Nn trit hc N ci
- Nn trit hc HY Lp ci,tiờu biu l Heraclớt
Phộp bin chng duy tõm ( Phộp bin chng duy tõm cin c)
a. c im:
- t ti mt trỡnh logic khỏ vng chc
- Bin chng bt u tinh thn v kt thỳc tinh thn.
b.u im:
Cỏc nguyờn lý, quy lut óc gii quyt tm logic hi ti cc k sõu sc, xõy dng trong mt h thng nht
mc dự nú vn cú nhng hn ch lch s khụng th vt qua.
Theo C.Mỏc ó ch rừ tớnh cht thn bớ nhiu phộp bin chng mc phI khi nm trong tay Hờghen khụng
ngn cn Hờghen tr thnh ngi u tiờn trỡnh by mt cỏch bao quỏt v cúý thc nhng hỡnh thc vn ng chung
ca phộp bin chng , Hờghen phộp bin chng I ngc u xung t, ch cn o xuụI li hai chõn thỡ s phỏt
hin ra cỏI nhõn hp lýng sau cỏI v thn bớ ca nú
(
4)
c.i biu: Canto
Phộp bin chng duy vt
a. c im:
- L hỡnh thỏi phỏt trin cao nht ca lch s phộp bin chng, bao quỏt mt lnh vc rng ln, l phng phỏp
lun trit hc cbn,xuyờn sut mi quỏ trỡnh thc tin cỏch mng khoa hc, ng dng cụng ngh trong thi i
ngy nay.
(
1)
Ph. Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên.Nxb sự thât ,HN, 1971, tr.323,324
(2)
Ph. Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên.Nxb sự thât ,HN, 1971, tr.323,324