Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dung tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Diệu Hà
Lớp : Anh 5-K42-KT&KDQT
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Vũ Sỹ Tuấn

phân tích, đánh giá, đo lƣờng rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, đƣa ra và phân tích kinh
nghiệm phòng ngừa rủi ro tín dụng của một số ngân hàng trên thế giới.
Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tƣ và Phát
triển Việt Nam trong thời gian qua.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tƣ
và Phát triển Việt Nam.
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
2

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về rủi ro tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng trong
hoạt động cho vay tại ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Trên cơ sở đó
nghiên cứu các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận, phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử
dụng là phƣơng pháp duy vật biện chứng, phƣơng pháp thống kê, so sánh, phân
tích, diễn giải.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 3 chƣơng sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thƣơng mại
Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Chƣơng 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tƣ và Phát
triển Việt Nam
Trƣớc hết, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Sỹ Tuấn đã tận tình giúp
đỡ, hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo đã cung cấp cho em những kiến thức vô

hàng hóa để kinh doanh. Ngân hàng nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức kinh tế,
các tổ chức tín dụng (TCTD) khác hoặc phát hành các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền
gửi, kỳ phiếu, trái phiếu), hoặc đi vay từ các TCTD, ngân hàng nhà nƣớc (NHNN).
- Cho vay:
Đây là hoạt động trong đó ngân hàng sử dụng số tiền huy động đƣợc cung
cấp cho ngƣời đi vay một khoản tiền nhất định để sản xuất, kinh doanh, đầu tƣ, tiêu
dùng hoặc để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong thanh toán của các TCTD. Khi
thực hiện hoạt động này ngân hàng phải đảm bảo thu hồi cả vốn và tiền lãi. Vì tính
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
4
quan trọng của hoạt động này là tạo ra lợi nhuận, quyết định đến khả năng tồn tại và
phát triển của ngân hàng nên nó đƣợc xem là hoạt động kinh doanh chủ chốt của
NHTM. Bên cạnh đó, khi kinh tế ngày càng phát triển thì loại hình cho vay cũng trở
nên vô cùng đa dạng. Các ngân hàng cũng có thể cung cấp tín dụng thông qua các
công cụ chiết khấu nhƣ: hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu…
- Dịch vụ thanh toán:
NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa,
dịch vụ của khách hàng.
- Các hoạt động khác:
+ Đầu tƣ: NHTM sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình đầu tƣ
kiếm lời thông qua các hình thức nhƣ: tham gia góp vốn, tài trợ dự án, mua cổ
phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ Thông qua đó ngân hàng không
những nhận đƣợc một khoản thu nhập mà còn phân tán rủi ro trong hoạt động kinh
doanh.
+ Môi giới: ngân hàng thực hiện vai trò môi giới giữa tổ chức phát hành cổ
phiếu, trái phiếu với nhà đầu tƣ chứng khoán nhƣ: chuyển các lệnh trên thị trƣờng
chứng khoán, đảm nhiệm việc mua bán trái phiếu công ty
+ Cho thuê tài chính: Đây là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở

Ngƣời cho vay Ngƣời đi vay
Tóm lại, tín dụng là quan hệ vay mƣợn giữa các chủ thể trong nền kinh tế,
trong đó chủ thể này chuyển nhƣợng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lƣợng giá
trị (có thể dƣới hình thức hàng hóa thông thƣờng hoặc tiền tệ) với những điều kiện
mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
2.1.2. Tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, tín dụng ngân hàng đƣợc coi là hình thức tín
dụng phát triển, giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tín dụng. Nếu xem xét tín dụng
nhƣ là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụng đƣợc hiểu nhƣ sau: Tín
dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
6
và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác),
trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn
nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán.
Nhƣ vậy ngân hàng vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay vừa đóng vai trò là
ngƣời cho vay. Trong phạm vi luận văn này, chỉ xem xét tín dụng ngân hàng
dƣới góc độ: ngân hàng là ngƣời cho vay.
2.2. Nguyên tắc tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, cho vay phải có mục đích.
Mục đích đi vay đƣợc ghi rõ trong hợp đồng tín dụng nhƣ phục vụ hoạt động
sản xuất kinh doanh, tiêu dùng hay đầu tƣ dự án đảm bảo cho ngân hàng không tài
trợ cho các hoạt động trái pháp luật và mục đích đi vay đó đã đƣợc ngân hàng thẩm
định. Ngân hàng cho rằng khách hàng sử dụng vốn đi vay đúng mục đích thì sẽ
hoàn trả cả gốc và lãi đúng kỳ hạn.
Thứ hai, Vay phải có đảm bảo.

có tài sản thế chấp hay cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Sự đảm bảo là
căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung nguồn thu nợ
thứ nhất thiếu chắc chắn.
Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế
chấp hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng.
2.3.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng.
Tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cung cấp cho
các DN tiến hành sản xuất và kinh doanh
Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cung cấp cho DN, cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng.
2.3.4. Căn cứ vào phƣơng thức cho vay.
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
8
Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay, qua đó ngân hàng cho phép ngƣời vay đƣợc
chi vƣợt (trội) trên số dƣ tiền gửi thanh toán của họ đến một giới hạn nhất định và
trong khoảng thời gian. Giới hạn đó gọi là hạn mức thấu chi. Trong quá hoạt động,
khách hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi vƣợt quá số dƣ tiền gửi thanh toán để
chi trả song phải trong hạn mức thấu chi.

Biểu đồ 1.1: Cho vay theo phƣơng thức thấu chi.

Cho vay thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về
thời gian và quy mô. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, kịp thời. Thấu chi là hình thức tín
dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có tài sản đảm bảo
nên độ rủi ro khá cao.
Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức tín dụng phổ biến của các NHTM

tại thời điểm cuối kỳ số dƣ nợ không vƣợt quá hạn mức tín dụng.
Biểu đồ 1.3: Cho vay theo hạn mức đƣợc duyệt cuối kỳ.
Hạn mức đƣợc duyệt trong
kỳ
Dƣ nợ trong kỳ
Hạn mức đƣợc duyệt cuối
kỳ
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
10

Hình thức cấp tín dụng này rất thuận tiện cho khách hàng có nhu cầu vay
mƣợn thƣờng xuyên. Tuy vậy, ngân hàng lại gặp khó khăn trong việc kiểm soát
hiệu quả sử dụng từng lần vay do các lần vay không đƣợc tách biệt thành các kỳ hạn
nợ. Cho vay luân chuyển: Đây là nghiệp vụ cho vay dựa trên tính luân chuyển
của hàng hóa. DN khi mua hàng có thể thiếu vốn, phần thiếu đó sẽ đƣợc bù đắp
bằng việc vay ngân hàng. Điều đó có nghĩa là ngân hàng có thể cho DN vay để mua
hàng hóa và sẽ thu hồi nợ khi DN bán hàng. Ngân hàng sẽ cùng với khách hàng
thỏa thuận về hạn mức vay, các nguồn cung cấp hàng hóa, khả năng tiêu thụ hàng
hóa.
Biểu đồ 1.4: Cho vay luân chuyển

Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả nợ gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Số tiền trả nợ
mỗi lần đƣợc trích từ nguồn khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án hoặc thu nhập
Dƣ nợ cuối kỳ
Dự trữ hàng hóa (tăng khi
mua và giảm khi bán)
Vay

Trung gian
(tổ, hội )
Khách hàng (nông
dân, ngƣời buôn
bán nhỏ )
(1)

(2)

(3)

(3)

Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
12
Đối với nƣớc ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối, lạm
phát, thất nghiệp luôn có khả năng tiềm ẩn. Vì vậy, có thể thông qua tín dụng để sắp
xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn.
2.4.2. Tín dụng ngân hàng là công cụ góp phần điều tiết chính sách vĩ mô nền
kinh tế của chính phủ.
Mục tiêu kinh tế vĩ mô: ổn định giá cả, tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tín dụng nói
riêng nhƣ các điều kiện về lãi suất, thế chấp, bão lãnh và các điều kiện khác trong
chính sách tín dụng từng thời kỳ. Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều
kiện tín dụng, có thể thay đổi quy mô hoặc chuyển hƣớng vận động của nguồn vốn
tín dụng, nhờ đó mà ảnh hƣởng đến tổng cầu, tổng cung của nền kinh tế. Nhờ đó,
các mục tiêu vĩ mô có thể sẽ đạt đƣợc.
Ngoài ra, tín dụng còn là công cụ thực hiện các chính sách xã hội. Trƣớc đây,

1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo nhiều nhà phân tích, rủi ro chỉ phát sinh khi có một sự không chắc chắn
về mất mát sẽ xảy ra (uncertainty about the occurrence of a loss). Với khái niệm
này, nếu xác xuất mất mát là 0 hoặc 1 thì không có rủi ro.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm
1995 thì “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”.
Theo Allan Willett “rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện
những biến cố không mong đợi”. Quan điểm này đƣợc nhiều học giả nhƣ Hardy,
Blanchard, Crobough và Redding, Kulp, Anghell ủng hộ.
Một quan điểm khác về rủi ro cho rằng: “rủi ro là khả nảng xảy ra tổn thất”.
Quan điểm này đƣợc đề cập lần đầu tiên trong nghiên cứu của John Haynes, sau đó
đƣợc Irving Pfeffer trình bày chi tiết hơn trong cuốn “Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh
Tế “ ( Insurance and Economic Theory).
Đặc biệt Frank H. knight lại đƣa ra một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro
khi coi “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng”.
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
14
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Thân trong cuốn “ Phƣơng pháp mạo hiểm
và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh” cho rằng: “rủi ro là sự bất trắc gây ra mất
mát, thiệt hại”.
Vậy cách hiểu chung nhất về rủi ro là: “Rủi ro là khả năng xảy ra các biến
cố không lƣờng trƣớc, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác với kết quả kỳ
vọng”.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN gắn liền với rủi ro. NHTM cũng
là một DN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, luôn
phải đối đầu với vô vàn rủi ro. Đối với NHTM có các loại rủi ro cơ bản sau: RRTD,
rủi ro lãi xuất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản trong đó RRTD là một trong
những loại rủi ro lâu đời nhất trong thị trƣờng tài chính. RRTD cũng là loại rủi ro

của ngân hàng, chỉ có thể tìm giải pháp hạn chế nó. Để làm đƣợc điều đó không
những phải hiểu đầy đủ về RRTD mà còn phải hiểu sâu sắc tình hình kinh doanh
thực tế của ngân hàng.
2. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng
2.1. Dựa vào tính chất của RRTD
Rủi ro chậm trả: Là rủi ro khi ngƣời vay không hoàn trả đủ cả gốc và lãi của
khoản vay đúng hẹn theo hợp đồng tín dụng đã cam kết.
Rủi ro mất vốn: Là rủi ro mà ngân hàng không thu hồi đƣợc cả gốc và lãi
của khoản cho vay.

2.2. Dựa vào cách phân loại nợ tín dụng
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt
Nam thì nợ đƣợc phân thành 5 nhóm:
Nhóm 1: nợ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn đƣợc đánh giá có khả năng
thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tƣơng lai nhƣ
các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
16
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dƣới 90 ngày và nợ cơ cấu lại
theo thời hạn trả nợ.
Nhóm 3: nợ dƣới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180
ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dƣới 90 ngày.
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, , bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày, các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ quá hạn trên 180 ngày.
Theo cách phân loại nợ trên thì RRTD đƣợc chia thành 3 loại:

cho ngƣời đi vay không kip thích nghi cũng là một nguyên nhân khá phổ biến gây
ra RRTD đang tồn tại trong hệ thống NHTM Việt Nam.
3.1.2. Môi trƣờng kinh tế xã hội.
Ngân hàng là DN kinh doanh tiền tệ do vậy rất nhạy cảm với những biến
động trong nền kinh tế. Môi trƣờng kinh tế bao gồm các yếu tố nhƣ: chu kỳ kinh tế
(phát triển, hƣng thịnh, khủng hoảng hay suy thoái), lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối
đoái, thất nghiệp, chính sách tiền tệ Trong các yếu tố đó thì yếu tố điển hình
thƣờng đƣợc đề cập là chu kỳ kinh tế. Trong thời kỳ tăng trƣởng, hƣng thịnh của
nền kinh tế, hầu hết hoạt động kinh doanh nói chung là thuận lợi, xác suất dẫn đến
vỡ nợ, không trả đƣợc nợ thấp do đó nguồn trả nợ đƣợc đảm bảo, hoạt động tín
dụng an toàn hơn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, khủng hoảng, khi đó
lạm phát thƣờng tăng cao, đồng nội tệ bị mất giá làm cho hoạt động kinh doanh sản
xuất trong nƣớc trở nên khó khăn, đình trệ. Thêm vào đó, trong thời kỳ này ngân
hàng trung ƣơng (NHTW) thƣờng áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ càng làm cho
các chủ thể kinh tế hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận suy giảm, ảnh hƣởng đến
nguồn trả nợ cho ngân hàng. Thông thƣờng khi nền kinh tế suy thoái thì ngân hàng
đặc biệt gặp rủi ro với các khoản vay của các DN sản xuất, kinh doanh hàng hóa cao
cấp nhƣ: ôtô, tủ lạnh, điều hòa hay cả lĩnh vực bất động sản. Ví dụ, thị trƣờng bất
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
18
động sản đóng băng từ giai đoạn đầu 2005 đến nay, các dự án vay vốn để kinh
doanh bất động sản không bán đƣợc nhà do vậy không có nguồn trả nợ, ảnh hƣởng
đến hoạt động của ngân hàng.
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế xã hội trong nƣớc chịu ảnh hƣởng lớn bởi
những biến động của nền kinh tế khu vực và trên thế giới nhất là trong xu thế hội
nhập. Đó cũng là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
các DN dẫn đến RRTD cho ngân hàng. Ví dụ, trong giai đoạn 6/2005 - 6/2006 giá
thép thế giới biến động theo xu hƣớng giảm. Các DN gặp khó khăn với những lô

bày với ngân hàng để hoàn trả đầy đủ và đúng hạn gốc và lãi vay. Nhƣng do thông
tin bất cân xứng sau khi quan hệ tín dụng diễn ra có thể tạo nên rủi ro về đạo đức từ
phía khách hàng, tức là khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích đi vay. Vì sau
khi đƣợc cấp tín dụng ngƣời đi vay luôn có xu hƣớng thực hiện các dự án có mức
độ rủi ro cao hơn so với mức rủi ro mà ngân hàng mong đợi. Bởi vì dự án có rủi ro
cao hơn đƣợc kỳ vọng là mang lại lợi nhuận cao hơn và nếu thành công thì chủ đầu
tƣ sẽ đƣợc hƣởng khoản lợi nhuận cao hơn trong khi chỉ phải trả cho ngân hàng
khoản lãi vay đã xác định trƣớc.
Thứ ba, khách hàng không trung thực. Khách hàng cố tình cung cấp thông
tin sai lệch về hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, hợp đồng kinh tế,
phƣơng án sử dụng tiền vay, giấy tờ pháp lý về tài sản Ví dụ khách hàng đem tài
sản thế chấp, cầm cố đi nhƣợng bán trong khi vẫn còn dƣ nợ tại ngân hàng.
Chính vì vậy, công tác phân tích khách hàng là vô cùng quan trọng. Nếu cán
bộ tín dụng (CBTD) của ngân hàng làm tốt đƣợc việc này sẽ giảm thiểu RRTD.
3.3. Nguyên nhân từ chủ quan phía ngân hàng
Một là, thông tin về khách hàng không đầy đủ, thể hiện: chứng từ lƣu trữ sổ
sách của ngân hàng về khách hàng nhƣ số dƣ tài khoản, lịch sử của các khoản vay
trƣớc đây, các quan hệ thƣơng mại của khách hàng và bạn hàng chƣa đầy đủ.
CBTD không cập nhật thƣờng xuyên thông tin về khách hàng. Bên cạnh đó, hiện
nay các NHTM chƣa xây dựng mối liên kết hỗ trợ thông tin về khách hàng với
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
20
nhau. Thông tin về khách hàng không đầy đủ, chính xác dẫn đến việc quyết định
cho vay không hợp lý và có thể không thu hồi đƣợc nợ vay. Hiện tƣợng thiếu thông
tin này gọi là “thông tin không cân xứng”. Điều này đƣa đến “sự lựa chọn đối
nghịch” (adverse selection) và “rủi ro đạo đức” (moral hazard). Lựa chọn đối
nghịch xảy ra trong quan hệ tín dụng khi khách hàng vay có nhiều khả năng tạo ra
một kết cục không mong muốn (đối nghịch) - tức là rủi ro không trả đƣợc nợ - là

dự báo các vấn đề liên quan đến khách hàng là kết quả của những quyết định cho
vay không hợp lý, đầu tƣ vào những dự án kém hiệu quả. Ngoài ra, một số CBTD
chƣa nhận thức hết vai trò quan trọng của nghiệp vụ tín dụng nên làm ẩu, thiếu tinh
thần trách nhiệm thậm chí cố tình làm sai quy trình tín dụng để nhận những khoản
lợi từ khách hàng. Đạo đức CBTD sa sút thì RRTD xảy ra là tất yếu.
3.4. Nguyên nhân từ phía các tài sản đảm bảo
Trƣờng hợp đảm bảo bằng tài sản: TSĐB là tài sản thuộc sở hữu của ngƣời
đi vay dùng để cầm cố, thế chấp cho ngân hàng. Một TSĐB phải thỏa mãn 3 điều
kiện: dễ định giá, dễ cho ngân hàng quyền sở hữu hợp pháp, có tính khả mại (khả
năng chuyển nhƣợng trên thị trƣờng) cao. Tuy nhiên, TSĐB có thể bị suy giảm giá
trị do giá cả thị trƣờng biến động theo chiều hƣớng bất lợi (ví dụ nhƣ thị trƣờng bất
động sản đóng băng hay có xu hƣớng giảm) hoặc do bản thân tài sản trong quá trình
sử dụng bị hao mòn lớn hơn dự kiến. Ngoài ra, ngân hàng có thể gặp khó khăn
trong việc tiếp cận, nắm giũ và xử lý TSĐB. Ví dụ, TSĐB có vấn đề tranh chấp
pháp lý nhƣ: tài sản đƣợc đem đảm bảo cho nhiều khoản nhƣng không có sự thống
nhất phân chia quyền hạn trên tài sản đó.
Trƣờng hợp bảo lãnh: Bảo lãnh là sự đảm bảo gián tiếp có ba bên tham gia
trong đó bên thứ ba, tức là bên bảo lãnh đồng ý chịu trách nhiệm về khoản nợ của
bên thứ hai là khách hàng của ngân hàng khi ngƣời này không trả đƣợc nợ cho bên
thứ nhất là ngân hàng. Vấn đề chủ yếu là dù ngân hàng có cố gắng giải thích về
trách nhiệm trả nợ tiềm tàng đến đâu thì ngƣời bảo lãnh cũng không bao giờ chờ đợi
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
22
sẽ bị gọi đến trả tiền. ngân hàng khó có thể thuyết phục họ trả tiền, và thực tế nhiều
trƣờng hợp ngân hàng đã kiện ra tòa.
4. Ảnh hƣởng của RRTD đối với hoạt động ngân hàng và nền kinh tế
4.1. Ảnh hƣởng RRTD đối với hoạt động của NHTM
4.1.1. RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.

Trong nền kinh tế hiện đại hầu nhƣ mọi hoạt động của cá nhân và tổ chức
đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động ngân hàng. Khi một ngân hàng
gặp phải RRTD hay mất khả năng thanh toán thì ngƣời gửi tiền của ngân hàng đó
và cả ngân hàng khác hoang mang lo sợ ồ ạt đến rút tiền làm cho toàn bộ hệ thống
ngân hàng gặp khó khăn thanh toán. Khi khả năng thanh toán của ngân hàng bị
giảm sút, ngân hàng sẽ không tiếp tục tài trợ vốn cho các cá nhân, tổ chức mà phải
thu hồi vốn trƣớc hạn. Nhƣ vậy, hoạt động kinh doanh của các đối tƣợng nhận tài
trợ sẽ bị ảnh hƣởng lớn. Hơn nữa sự sụp đổ của các ngân hàng ảnh hƣởng lớn đến
toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp
tăng, xã hội mất ổn định.
5. Các tiêu chí và mô hình đánh giá và lƣợng hóa RRTD
5.1. Các tiêu chí đánh giá RRTD
5.1.1. Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn.
NQH là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
Tỷ lệ quá hạn đƣợc đo bằng tỷ lệ phần trăm số nợ quá hạn trên tổng dƣ nợ.

Chỉ tiêu này cho biết trong mỗi 100 đơn vị tiền tệ ngân hàng cấp tín dụng thì
có bao nhiêu đơn vị tiền tệ ngân hàng không có khả năng thu hồi đúng hạn tại thời
điểm xác định. Tỷ lệ này càng thấp thì chất lƣợng tín dụng càng cao, tỷ lệ này càng
cao thì RRTD càng lớn. Theo Ngân hàng Thế giới World Bank, tỷ lệ này ở mức
Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Hà A5-K42B-KT&KDQT
24
dƣới 5% là có thể chấp nhận đƣợc và đƣợc coi là ngƣỡng an toàn đối với hoạt động
tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này nằm trong khoảng 1% - 3% là tốt.
5.1.2. Chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu.
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các
nhóm 3, 4, 6 quy định tại điều 6 bao gồm: nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có
khả năng mất vốn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status