Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Lời mở đầu.
Trong nền kinh tế thị trường, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải tự hạch
toán, phải biết trang trải doanh thu và chi phí sao cho việc kinh doanh của
doanh nghiệp đạt kết quả cao nhất mới có thể tồn tại và phát triển được trong
sự cạnh tranh ngày càng gay go này. Trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay
gắt đó, thị trường là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp sản
xuất. thông qua thị trường sản phẩm được tiêu thụ thì lao động bỏ ra trong quá
trình sản xuất mới được thừa nhận và doanh nghiệp mới thực hiện được chức
năng xã hội của mình.
Trong xu thế hội nhập ngày nay nhất là trong quá trình hội nhập AFTA
đang dần tiến đến gần, vấn đề thị trường lại càng trở nên nóng bỏng hơn đối
với các doanh nghiệp sản xuất, đòi hỏi doanh nghiệp phải giữ vững được thị
trường tiếp cận thị trường mới, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
trước các đối thủ khác mới có thể tồn tại được. Để làm được điều đó đòi hỏi
doanh nghiệp phải luôn theo sát thị trường, không ngừng tìm hiểu nghiên cứu
thị trường, thu thập thông tin, quan sát và tìm hiểu đối thủ.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, trong thời gian thực tập tại công ty TNHH
Đồ gỗ Nghĩa Tín , tôi đã chọn đề tài:” Phân tích tình hình tiêu thụ và một
sỗ giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Đồ Gỗ tại Công ty TNHH
Đồ gỗ Nghĩa Tín”. Làm đề tài tốt nghiệp.
Nội dung đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Cở sở lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm
Phần 2: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng ở
Công ty TNHH Đồ gỗ Nghĩa Tín.
Phần 3: Một số giải pháp nâng cao kết quả tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ xuất
khẩu.
Thông qua đề tài tốt nghiệp của mình, em tập trung làm rõ bản chất của
công tác tiêu thụ cũng như tầm quan trọng của việc nâng cao kết quả tiêu thị
SVTH:
1
hang làm trung tâm của mọi quyết định sản xuất, nên các quyết định đó dù
muốn hay không đều phải hướng tới lợi ích của khách hang, các sản phẩm của
doanh nghiệp phải thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hang, đảm
bảo phù hợp với thị hiếu của người tiêu dung về màu sắc, kích cỡ, chất lượng,
kiểu dáng,…. Do đó, để sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tốt thì cần
lưu ý một số đặc điểm sau:
- Xác định đúng lượng cầu về sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp dự
định sản xuất.
- Tìm hiểu nhu cầu tiềm tàng của khách hàng đối với từng loại sản
phẩm cụ thể của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu thị trường sản phẩm, đảm bảo khả năng thích ứng sản
phẩm của doanh nghiệp với nhu càu của thị trường, đảm bảo sức cạnh
tranh và khả năng xâm nhập thị trường của sản phẩm.
- Có chính sách định gia hợp lý, hấp dẫn người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh quảng cáo và giới thiệu sản phẩm, đảm bảo tính phấp ly và
tiết kiệm.
- Giữ vững thị trường truyền thống, xâm nhập thị trường mới để nâng
cao mức tiêu thụ.
SVTH:
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
- Tận dụng điều kiện của người khác, những nhược điểm của đối thủ
cạnh trạnh để tăng sức tiêu thụ đối với sản phẩm của mình.
- Tích cực áp dụng những tiến bộ khoa học – kĩ thuật vào sản xuât, tạo
sản phẩm mới có chất lượng cao.
- Sử dụng phương thức thanh toán hợp lý, linh hoạt, đảm bảo thu hồi
vốn nhanh và thuận lợi cho khách hang.
Những đặc điểm trên là những điều mà doanh nghiệp cần phải chú ý
thực hiện để đạt hiệu quả kinh doanh tốt.
• Phân biệt “hoạt động tiêu thụ” và “kết quả tiêu thụ”:
Công nhân viên, tiếp tục đỏi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, giảm
chi phí lưu thong. Hàng hóa tiêu thụ nhiều sẽ tạo điều kiện nâng cao khả năng
sản xuất, tận dụng hết năng suất lao động và công suất của máy móc, giảm thời
gian lưu trữ nguyên vật liệu dẫn đến giảm chi phí bao quản.
Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
thường xuyên liên tục, hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được tổ
chức tốt. Việc quản lý tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp thường dựa trên cở sở
các chứng từ nhập, xuất kho thành phảm theo qui định của doanh nghiệp. Đối
với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, lượng sản phẩm tiêu thụ là những
sản phẩm đã xuất kho thành phẩm, để giao cho khách hang và nhận được tiền.
Vì vậy xác định lượng sản phẩm tiêu thụ trong năm căn cứ vào lượng sản phẩm
sản xuất ra, các hợp đồng kinh tế với khách hàng, cân đối nhu cầu thị trường,
khả năng đổi mới phương thức thanh toán và tình hình tiêu thụ sản phẩm của
những năm trước.
Do vậy nhiệm vụ chủ yếu của công tác tiêu thụ là làm thế nào để bán
đucợ sản phẩm ra thị trường cho khách hàng và người tiêu dùng một cách thuận
lợi và nhiều nhất, mà không phải gượng ép hay tìm mọi cách để khách hàng và
người tiêu dùng tự tìm đến, chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp mình.
• Ý nghĩa:
SVTH:
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
hàng hóa. Chỉ có tiêu thụ sản phẩm thì mới có vốn để tiến hành tái sản xuất
mở rộng, tăng tốc độ luân chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho
doanh nghiệp. Chỉ có qua hoạt động tiêu thụ thì tính hữu ích của sản phẩm
mới được xác định hoàn toàn. Đồng thời chứng tỏ năng lực hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường, tạo uy tín, niềm tin về sản phẩm của doanh nghiệp với khách
tiêu bình quân của một thành viên lớn, có triển vọng tăng trưởng mạnh về số
lượng thành viên và chỉ tiêu, ít đối thủ cạnh tranh, ít sản phẩm thay thế, ít các
doanh nghiệp đe dọa nhập ngành, phù hợp với những nguồn lực và lợi thế của
doanh nghiệp.
• Dự báo thị trường:
Dự báo thị trường là một giá trị cụ thể của nhu cầu thị trường tương ứng
với một mức chi tiêu Marketing xác định của ngành và trong những điều kiện
xác định của môi trường marketing. Nói một cách khác, dự báo thị trường
chính là tổng doanh số của tât cả các doanh nghiệp cùng ngành dưới những
điều kiện xác định.
Công tác dự báo thị trường bao gồm việc dự báo về doanh số ngành,
doanh số của doanh nghiệp và thị phần của doanh nghiệp. Việc dự báo nhu cầu,
dù là dự báo tiêu thụ hay ước tính tiềm năng thị trường, có thể dựa trên nhiều
phương pháp, từ những ước đoán thô sơ đến những mô hình thống kê phức tạp.
Một số phương pháp thường dùng để dự báo gồm: phân tích yếu tố thị
trường, điều tra ý nghĩa mua sắm, phân tích dự liệu quá khứ, tổng hợp ý kiến
của lực lượng bán hàng, thử nghiệm thị trường. Ngoài ra còn có một số phương
pháp thống kê dự báo trên dữ liệu thời gian như: phương pháp tốc độ tăng
trưởng bình quân, phương pháp trung bình di động, phương pháp xác định chỉ
số mùa vụ.
b.Định giá bán cho sản phẩm.
SVTH:
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Sự hình thành và vận động của giá cả chịu tác động của nhiều nhân tố
khác nhau, chúng bao gồm cả nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Vì vây, khi đưa ra quyết dịnh giá đòi hỏi phải xem xét và giải quyết
nhiều vấn đề, giúp cho người làm giá chọn được mức giá bán hợp lý và có thể
sử dụng giá như một công cụ sắc bén.
Hiện nay có 2 nhóm phương pháp định giá: định giá hướng chi phí và
Phân phối vật chất.
• Thiết kế kênh phân phối.
Những doanh nghiệp tương tự có thể có những kênh phân phối khác
nhau. Một doanh nghiệp muốn kênh phân phối của mình không chỉ đáp ứng
những nhu cầu của khách hàng mà còn đem lại lợi thế cạnh tranh. Một số doanh
nghiệp đã tạo nên sự khác biệt nhờ hệ thống phân phối của họ rộng khắp hoặc
chọn lọc và có phong cách đặc biệt. Để thiết kế các kênh phan phối thỏa mãn
khách hàng và giành thắng lợi trong cạnh tranh, cần có một cách tiếp cận mang
tính hệ thống.
Hình dưới đây cho chúng ta thấy bốn bước đi trong công việc thiết kế
kênh phân phối.
Hình 1.1: Quá trình thiết kế kênh phân phối.
Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm có được thực hiện
bằng nhiều kênh khác nhau gọi chung là kênh phân phối sản phẩm
Kênh phân phối (Kênh Marketing) là một hệ thống gồm những cá nhân,
tổ chức có liên hệ qua lại với nhau, tham gia vào các hoạt động mua bán và vào
quá trình chuyển quyền sở hữu đối với sản phẩm hữu hình hay quyền sử dụng
đối với dịch vụ từ nhà sản xuất tới người sử dụng cuối cùng.
SVTH:
9
Xác nh m cđị ụ
tiêu c a kênhủ
phân ph iố
L a chon ki uự ể
kênh phân ph iố
Xác nh c ngđị ườ
phân ph iđộ ố
Xây d ng chính sáchự
h p tác v i nhà trungợ ớ
Kênh D: là kenh gián tiếp dài nhất còn gọi là kênh 3 cấp, được sử dụng khi
có nhiều nhà bán sỉ nhỏ.
• Quản trị các thành viên trong kênh.
Để quản trị các thành viên trong một kênh phân phối thì doanh nghiệp cần
phải có những chính sách đúng đắn như: tuyển dụng, thù lao và động viên,
đào tạo, giải quyết xung đột, đánh giá và loại bỏ.
• Phân phối vật chất.
Phân phối vật chất là những hoạt động nhằm tạo nên sự dịch chuyển của
dòng sản phẩm yêu cầu từ doanh nghiệp đến các địa điểm yêu cầu như:
trung tâm phân phối, các loại nhà kho,…
+ Quản trị điểm dự trữ: Liên quan đến các quyết định về số lượng, địa
điểm, quy mô và chức năng của các điểm dự trữ. Một điểm dữ trữ có thể
có chức năng lắp ráp, đóng gói hay lưu kho sản phẩm. Có hai loại điểm dữ
trữ là trung tâm phân phối và nhà kho.
- Trung tâm phân phối là nơi giao dịch, nó được lập kế hoạch theo thị
trường chứ không phải theo yêu cầu chuyên chở. Mỗi trung tâm là một hệ
thống được tích hợp đầy đủ các chức năng nhận đơn hàng, xử lý đơn hàng
và chuẩn bị giao hàng cho khách hàng.
- Các loại nhà kho: Kho riêng là kho thuộc sở hữu riêng của doanh
nghiệp và chỉ những sản phẩm của doanh nghiệp được cất ở đó. Kho công
cộng là kho được sở hữu bởi những người khác với chức năng chứa nhiều
hàng cho nhiều cá nhân và tổ chức. Chi phí thuê kho công cộng là chi phí
biến đổi. Doanh nghiệp chỉ trả tiền không gian và thời gian mà họ sử
SVTH:
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
dụng. Các kho công cộng cũng có không gian làm nơi trưng bày sản phẩm
và văn phòng giao dịch khách hàng.
+ Bảo quản và xếp dỡ vật tư: là công việc lựa chọn phương pháp và
thiết bị cất giữ, bảo quản và xếp dỡ phù hợp.
Quan hệ công chúng: bao gồm nhiều hình thức truyền thong nhằm
tạo nên thái độ thân thiện đối với doanh nghiệp và những sản phẩm của
doanh nghiệp mà thường không nói rõ một thong điệp bán hàng cụ thể
nào. Khán giả mục tiêu có thể là khách hàng, cổ động, cơ quan nhà nước
hay các nhóm dân cư có mối quan tâm riêng. Các hình thức có thể là bản
tin, báo cáo hàng năm, vận động hành lang và tài trợ cho các sự kiện từ
thiện hoặc thể thao, văn hóa.
Marketing trực tiếp: là những hoạt động truyền thong có tính tương tác, sử
dụng một hay nhiều phương tiện truyền thông để tạo nên những đáp ứng có
thể đo dược hoặc những giao dịch ở bất kỳ địa điểm nào. Marketing trực tiếp
vừa thuộc về công cụ xúc tiến bán hàng lẫn công cụ phân phối trong hỗn hợp
Marketing. Các hình thức phổ biến là bang hàng qua thư, bán hàng qua
catalog, marketing từ xa (bán hàng qua điện thoại), bán hàng qua TV và
internet Marketing (bán hàng trực tuyến).
1.4. Mối quan hệ giữa tiêu thụ sản phẩm với hoạt động Marketing.
Nhiều người vẫn lầm tưởng Marketing chẳng qua là hệ thống các biện
pháp mà người bán sử dụng để cốt làm sao bán đucợ nhiều hàng và thu được
nhiều tiền về. Đó thực sự là những phần việc của Marketing, nhưng Marketing
có phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Đó là một dãy những hoạt động không phải là
sản xuất nhưng thực sự góp phần tạo ra và thực hiện giá trị của nhiều hàng hóa
dịch vụ. Những hoạt động này phải được tiến hành trước khi sản xuất, trong quá
trình sản xuất, trong giai đoạn tiêu thụ và giai đoạn sau bán hàng. Đó chính là
các hoạt động Marketing.
SVTH:
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Người ta định nghĩa Marketing hiện đại như sau: Marketing là làm việc
với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi với mục đích thỏa mãn những nhu
cầu và mong muốn của con người. Hoặc Marketing là một dạng hoạt động của
con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn
Còn đối với Marketing, marketing phản ánh một chức năng cơ bản của
doanh nghiệp, giống như chức năng sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực. Những
chức năng đều là những bộ phận tất yếu về mặt tổ chức của công ty. Nhiệm vụ
cơ bản của hoạt động Marketing cũng là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp,
giống như sản xuất tạo ra sản phẩm.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, để đảm bảo kinh
doanh có hiệu quả, trước hết đòi hỏi việc xây dựng kế hoạc sản xuất của doanh
nghiệp phải gắn với thị trường. Thị trường là môi trường hoạt động của doanh
nghiệp, là giải quyết vấn đề doanh nghiệp sẽ sản xuất cái gì?. Và sản xuất bao
nhiêu? Bỡi vậy, sau một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích, xem
xét kết quả sản xuất. Từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc chỉ đạo,
điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, xét về yếu tố cấu thành của nội dung quản lý doanh nghiệp thì
Marketinh là một chức năng thống nhất hữu cơ với các chức năng khác. Khi
Marketing tách rời hoạt động với các chức năng khác thì hoạt động tiêu thụ sẽ bị
trở ngại. Do đó, giữa chúng có mối liên hệ với nhau nhưng không thể thay thế
cho nhau.
1.5. Những nhân tố ảnh hưởng tới số lượng sản phẩm tiêu thụ của
doanh nghiệp
1.5.1 Nhu cầu của thị trường về loại sản phẩm đó.
SVTH:
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có nhu cầu về sản phẩm do
doanh nghiệp cung cấp. Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng là người tạo ra
lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp. Nhu cầu của khách hàng sẽ tác
động đến việc thiết kế sản phẩm. Do vậy, việc tiêu thụ sản phẩm cũng có những
giai đoạn thay đổi rất lớn, khi sản phẩm hợp nhu cầu thì sản phẩm sẽ được tiêu
thụ nhanh, nhiều và ngược lại nếu sản phẩm không phù hợp nhu cầu của con
người tiêu dùng thì sản phẩm sẽ ứ đọng không thể tiêu thụ được. Bên cạnh đó,
nhận thức
Tâm lý
- Động cơ
- Tri giác
- Kiến thức
- Niềm tin và
quan điểm
Người
mua
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Mô hình nhu cầu cảu Maslow đã xây dựng hình tháp nhu cầu.
Nghiên cứu nhu cầu là một trong những quy tắc quan trọng của nhà sản
xuất kinh doanh là phải đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy
nghiên cứu về người tiêu dùng
1. Nhu cầu sinh lý.
2. Nhu cầu an toàn
3. Nhu cầu xã hội: tình cảm, tình yêu, câu lạc bộ,…
4. Nhu cầu được quý trọng và quan tâm: huy chương, bằng cấp, học vị,…
5. Nhu cầu tự khẳng định: phát triển nhân cách, văn hóa, lý tưởng, nghệ
thuật,…
Hình 1.4: Hình tháp nhu cầu
1.5.2. Đối thủ cạnh tranh
Quan điểm ngành cạnh tranh: Ngành là một nhóm các doanh nghiệp
sản xuất hoặc bán một loại sản phẩm có khả năng thay thế gần cho nhau.
Những sản phẩm có khả năng thay thế gần là những sản phẩm có độ co
giãn của cầu theo giá chéo là cao. Ngành được phân loại dựa trên: (1) Số
lượng người bán; (2) mức độ khác biệt của sản phẩm; (3) các rào cản nhập
ngành và xuất ngành; (4) kết cấu chi phí và (5) mức độ tích hợp dọc.
SVTH:
c nh tranhạ
Nh n d ng ậ ạ
các chi n ế
l c c a iượ ủ đố
th c nh ủ ạ
tranh
Nh n d ng ậ ạ
các m c tiêu ụ
c a i thủ đố ủ
c nh tranhạ
ánh giá nh ng Đ ữ
i m m nh và đ ể ạ
i mđ ể y u c a ế ủ
i th c nhđố ủ ạ
tranh
c oán hìnhƯớ đ
m u ph n ẫ ả
ng c aứ ủ i đố
th c nhủ ạ
tranh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Đây là nhóm nhân tố mang tính chất chủ quản và có thể kiểm soát được ở
một mức độ nào đó. Căn cứ trên tính chất chủ quan đó mà doanh nghiệp có thể
sử dụng để khai thác cơ hội kinh doanh và thu lợi nhuận. Hoạt động tiêu thụ tốt
hay không tốt đều phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng thứ cấp đó là: Tổ chức
quản lý ( cơ cấu tổ chức, mối liên hệ và phối hợp giữa các bộ phận, kiểm tra
giám sát); con người ( trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo dức, thái độ phục
vụ…); nguồn lực ( sự sẵn có về tiền mặt, trang thiết bị cần cho hoạt động,…);
Các nhân tố này dường như có thể kiểm soát được ở một mức độ nào đó, nó ảnh
hưởng tới đặc điwwmr và chất lượng sản phẩm hay ảnh hưởng tới việc lựa chọn
trường.
* Tiền lực vô hình(tài sản vô hình): tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của
doanh nghiệp trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Tiền lực vô hình được tạo dựng
một cách có ý thức thông qua các mục tiêu tiêu thụ sản phẩm và chiến lược xây
dụng tiềm năng tiềm lực vô hình cho doanh nghiệp.
+ Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường: một hình ảnh
tốt về doanh nghiệp là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm
của doanh nghiệp là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của
doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định có tính “ưu tiên” khi mua
hàng của khách hàng.
+ Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa:
Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa liên quan đến mức độ đạt được
về thứ bậc “5 mức độ quen thuộc của nhãn hiệu hàng hóa”.
a. Nhãn hiệu hàng hóa bị loại bỏ.
b. Nhãn hiệu không dược chấp nhận.
c. Chấp nhận nhãn hiệu.
d. Nhãn hiệu ưa thích.
e. Nhãn hiệu nổi tiếng.
SVTH:
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
Trên thực tế mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa có ảnh hưởng rất
lớn đến quá trình mua sắm và ra quyết định của khách hàng. Nhãn hiệu ở bậc
càng cao thì khả năng bán hàng càng tốt.
+ Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp: hình ảnh và uy
tín của lãnh đạo doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tiêu thụ sản
phẩm.
• Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp, các yếu
tố vật chất đầu vào và dự trữ hợp lý sản phẩm của doanh nghiệp.
Nhứng yếu tố này ảnh hưởng tới “đầu vào” của doanh nghiệp và tác
Thông thường các sản phẩm bán ra trong kỳ thường được tính theo công
thức sau:
QB = QĐK + QSX – QCK
Trong đó:
QB: Khối lượng sản phẩm bán trong kỳ
QĐK: Khối lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ
QSX: Khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
QCK: Khối lượng sản phẩm tồn kho cuối kỳ.
- Các chỉ tiêu dựa trên doanh thu bán hàng:
+ Doanh thu thực hiện kỳ hiện tại / Doanh thu thực hiện kỳ trước
+ Doanh thu thực hiện kỳ hiện tai / Doanh thu kế hoạch kỳ hiện tại
+ Hế số vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu x 365 / Giá trị hàng tồn kho
của kỳ hiện tại so với kỳ trước.
Chỉ tiêu doanh thu bán hàng có thể xác định như sau:
D = ƩPit x Qit (t=1; i=1, n)
Trong đó:
D: doanh thu bán hàng.
Pit: Giá bán một đơn vị mặt hàng i ở năm t.
Qit: Khối lượng mặt hàng I bán ra ở năm t.
n: Số lượng mặt hàng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
SVTH:
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
t: số năm doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
- Thị phần:
+ Thị phần thực hiện kỳ hiện tại / Thị phần thực hiện kỳ trước
+ Thị phần thực hiện kỳ hiện tại / Thị phần kế hoạch kỳ hiện tại
+ Thị phần thực hiện kỳ hiện tai / Thị phần thực hiện kỳ hiện tại của đối
thủ gần nhất.
Thị phần của một sản phẩm được tính theo công thứ
Số vòng quay toàn bộ TSLĐ = Doanh thu tiêu thụ / Tổng TSLĐ
Đặc biệt, công tác đánh giá phải phân tích rõ rang những mặt được và
những mặt còn tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt
động tiêu thụ nói riêng, phải đưa ra những nguyên nhân và phương hướng khắc
phục trong thời gian tới.
Tóm lại, hoạt động tiêu thụ sản phẩm có một vai trò vô cùng quant rung
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vậy để
nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp cần quản lý hoạt động tiêu
thụ sản phẩm một cách chặt chẽ từ khâu khảo sát, nghiên cứu thụ trường đến
khâu tổ chức hoạt động tiêu thụ, thường xuyên phân tích và đánh giá hoạt động
tiêu thụ, thường xuyên phân tích và dánh giá hoạt động tiêu thụ để từ đó thấy
được các ưu điểm, các mặt tồn tại và tìm cách phát huy hơn nữa những ưu điểm,
khắc phục những yếu kém.
1.7. Nội dung phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm.
1.7.1. Phân tích sự biến động của kết quả tiêu thụ sản phẩm.
Phân tích sự biến động cảu kết quả tiêu thụ sản phẩm thường chúng ta sử
dụng phương pháp so sánh. So sánh các giá trị thực hiện năm nay của kết quả
tiêu thụ sản phẩm với giá trị thực hiện năm trước để biết được tình hình tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp năm nay có cao hơn năm trước hay không?.
- So sánh các giá trị thực hiện năm nay của kết quả tiêu thụ sản phẩm với
kế hoạch năm nay để biết được doanh nghiệp thực hiện có vượt kế
hoạch ddawtj ra hay không?
SVTH:
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:
- So sánh các giá trị thực hiện năm nay của kết quả tiêu thụ sản phẩm với
các giá trị thực hiện năm nay của trung bình ngành để biết được doanh
nghiệp của mình đang ở mức độ nào so với trung bình của ngành?
- So sánh các giá trị thực hiện năm nay của kết quả tiêu thụ sản phẩm với
các giá trị thực hiện năm nay của đối thủ dẫn đầu hay đối thủ cạnh