TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH CƠ BẢN VÀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
TRONG KINH DOANH TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Huyền Trang
Lớp : Anh 1 - TCNH - TCQT
Khóa : 45
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trần Thị Lƣơng Bình
2.4 Chỉ báo chi tiêu dùng 12
2.4.1 Doanh số bán lẻ 12
2.4.2 Chỉ số cảm tính của người tiêu dùng 13
2.4.3 Xây dựng nhà mới 13
2.4.4 Sản xuất công nghiệp 14
2.5. Các chỉ báo quan trọng nhất 14
II. Phân tích kĩ thuật 15
1. Khái niệm và đặc điểm của phân tích kĩ thuật 15
1.1 Khái niệm 15
1.2 Đặc điểm của phân tích cơ bản 15
1.3 Ưu điểm và nhược điểm của phân tích kĩ thuật 17
2. Các loại biểu đồ 17
2.1 Biểu đồ tuyến (line charts) 17
2.2 Biểu đồ thanh phương Tây (Western bar charts) 17
3. Các mẫu hình cơ bản trong phân tích kĩ thuật. 20
4. Các Lý thuyết cơ bản và công cụ sử dụng trong phân tích kĩ thuật
24
4.1 Lý thuyết Dow 24
4.2 FIBONACCI 25
4.3 Mức sàn, mức trần, đường xu hướng và kênh xu hướng. 27
4.3.1 Mức sàn (support) và mức trần (resistance) 27
4.3.2 Đường xu hướng 27
4.3.3 Kênh xu hướng 28
4.4 Đường trung bình động 28
4.5 Đường Bollinger Bands 29
4.6 MACD 30
4.7 PARABOLIC SAR 31
4.8 STOCHASTICS 31
4.9 Chỉ số sức mạnh tương đối ( Relative strength index- RSI) 32
III. Những đặc điểm cơ bản của kinh doanh trên thị trường ngoại hối.
đô la hoá: 88
2.5 Chuyển biện pháp kết hối sang công cụ tỷ giá thị trường 88
2.6 Hoàn thiện và mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ. 89
2.7 Hình thành các công ty môi giới ngoại hối 90
II. Điều kiện áp dụng hiệu quả phương pháp phân tích cơ bản và phân
tích kĩ thuật cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tại Việt Nam 91
1. Hoàn thiện môi trường pháp lí 91
2. Kiểm soát tỷ giá thị trường theo hướng phù hợp với cung-cầu
ngoại tệ: 95
3. Nâng cấp hệ thống thông tin 95
4. Đầu tư phát triển con người 96
Kết Luận 98
Danh mục tài liệu tham khảo 99
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Biểu đồ thanh 18
Hình 1.2 Biểu đồ hình nến 18
Hình 1.3 Mẫu hình hai đỉnh 21
Hình 1.4 Mẫu hình hai đáy 22
Hình 1.5 Mẫu hình Vai- đầu - vai 22
Hình 1.6 Mẫu hình Vai- đầu- vai đảo ngược 23
Hình 1.7 Các mức giới hạn của Fibonacci hồi truy. 26
Hình 1.8 Fibonacci mở rộng 27
Hình 1.9 Bolinger band, đường trung bình động- MA và đường trung
bình hội tụ phân kì-MACD 30
Hình 1.10 PARABOLIC SAR, STOCHASTICS, RSI-chỉ số sức mạnh
tương đối 32
Hình 2.1 Khối lượng giao dịch của đồng USD 39
Hình 2.2 Diễn biến tỷ giá USD/JPY tháng 4/2007 đến tháng 2/2010 trên
thị trường ngoại hối Mĩ 44
Hình 2.3: Các mốc biến động tỉ giá USD/JPY từ 2007 đến 2010 46
Dòng vốn quốc tế
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
PPI
Chỉ số giá sản xuất
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GNP
Tổng sản phẩm quốc dân
NH
Ngân hàng
NH NN
Ngân hàng nhà nước
TCTD
Tổ chức tín dụng
TTNTLNH
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
AUD
Đô la Úc
EUR
Đồng Euro
JPY
Đồng Yên Nhật
USD
Đô la Mĩ
VND
Việt Nam đồng
1
Lời mở đầu
- Đưa ra những điều kiện nhằm áp dụng hiệu quả hai phương pháp phân
tích trên vào thị trường ngoại hối Việt Nam.
Thực hiện mục đích trên khóa luận có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phân tích các chỉ báo kinh tế cơ bản áp dụng cho việc nghiên cứu nền
kinh tế trong phân tích cơ bản, phân tích các công cụ sử dụng trong phân tích
kỹ thuật thường sử dụng cho kinh doanh trên thị trường ngoại hối.
- Phân tích ứng dụng của những chỉ báo kinh tế cơ bản và các công cụ kĩ
thuật vào phân tích biến động của thị trường ngoại hối Mĩ cho cặp tiền tệ
USD và JPY.
- Phân tích đặc điểm của thị trường ngoại hối Việt Nam và đưa ra những
điều kiện để ứng dụng hiệu quả hai phương pháp trên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu ý nghĩa các chỉ báo của phương pháp phân tích cơ bản và
tác dụng của các cộng cụ sử dụng trong phân tích cơ bản
- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận giới hạn trong việc phân tích biến
động tỷ giá USD/JPY trong tháng 1 năm 2010 dựa trên các thông tin kinh tế
vĩ mô và mô hình phân tích kĩ thuật.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tài liệ trong và ngoài nước để phân tích, tổng hợp thông tin
kinh tế chung của hai nước Nhật Bản và Hoa Kì
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:
Phương pháp diễn giải và qui nạp, phương pháp thống kê, so sánh để khái
quát, hệ thống và khẳng định các kết quả nghiên cứu.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
khóa luận bao gồm 3 chương:
3
- Chương 1: Cơ sở lí luận về phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật
trong kinh doanh ngoại hối 4
Chương I: Cơ sở lí luận về phân tích cơ bản và phân tích kĩ
thuật trong kinh doanh ngoại hối
I. Tổng quan về phân tích cơ bản
1. Khái niệm chung và đặc điểm của phân tích cơ bản:
1.1 Khái niệm.
Phân tích cơ bản là một phương pháp xem xét thị trường thông qua
những yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị có ảnh hưởng đến cung và cầu của một
đồng tiền nhất định. Nói một cách khác là chúng ta phải đánh giá nền kinh tế
của quốc gia nào hoạt động tốt và nền kinh tế nào bị giảm sút.
1.2 Đặc điểm của phân tích cơ bản.
a, Phân tích cơ bản chú ý đến các yếu tố tác động đến cung cầu tiền tệ
trên thị trường: lãi suất, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu, đầu
tư…
Khi nói về phân tích cơ bản người ta muốn nói đến việc nghiên cứu các
nhân tố cốt lõi ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia. Nó là việc dự
đoán những biến động của giá cả và xu hướng thị trường bằng cách phân tích
các chỉ báo kinh tế, chính sách nhà nước và các yếu tố xã hội khác trong
phạm vi một chu kì kinh doanh. Các nhà phân tích cơ bản phải nghiên cứu các
dấu hiệu khác nhau từ biến động giá trên biểu đồ, thông tin kinh tế công bố
thường xuyên và các sự kiện chính trị, xã hội hàng ngày có tác động đến thị
trường tiền tệ. Ví dụ, khi phân tích một dự báo của một nhà kinh tế học về sự
tăng trưởng GDP hoặc báo cáo về tình trạng thất nghiệp, chúng ta sẽ có một
cái nhìn tương đối về sức khoẻ của nền kinh tế đó. Các yếu tố cơ bản này
cũng có những tăng giảm thường xuyên trong cả ngắn hạn và dài hạn. Khi đi
công nghiệp.
6
Không như những thông tin kinh tế, các tin tức về chính trị thì có thể
được công bố vào bất kì thời điểm nào và chắc chắn là chúng có ảnh hưởng
lớn đến thị trường ngoại hối nhưng chỉ trong ngắn hạn. Ở Mĩ các cuộc bầu cử
diễn ra 4 năm 1 lần và các ứng cử viên đã được thông báo trước công chúng,
chính vì vậy mà thị trường ngoại hối ở đây được xem là ổn định nhất. Ở các
quốc gia khác, ví dụ như Italia, bộ máy chính phủ không ổn định và thời gian
bầu cử nghị viện có thể diễn ra bất cứ lúc nào, khiến chúng ta không thể đoán
trước được.
Những yếu tố tài chính được xác định và dự đoán dựa trên thực tế. Việc
cắt giảm lãi suất của ngân hàng trung ương ở Mĩ, Ngân hàng Trung ương
Châu Âu và Ngân hàng Nhật Bản vẫn có thể dự đoán được mặc dù những
thông tin này luôn được giữ bí mật. Trong khi những thay đổi về lãi suất gần
như không thể biết trước thì chúng ta vẫn có thể biết được thời gian diễn ra
những cuộc họp mặt của các quan chức ngân hàng trung ương thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng.
Để hệ thống lại các chỉ báo thường được sử dụng trong phân tích cơ
bản, ta sẽ tìm hiểu các nhóm chỉ báo chính sau:
2.1 Những chỉ báo kinh tế
Những chỉ báo kinh tế cho tới nay đã cung cấp phần lớn thông tin của
tất cả các yếu tố cơ bản được sử dụng để phân tích trong kinh doanh trên thị
trường ngoại hối. Không giống như tài chính, chính trị và các nhân tố gây ra
khủng hoảng, các nhân tố kinh tế diễn ra đều đặn và ở những thời điểm cụ thể
và thường xuyên hơn. Điều quan trọng là chúng ta phải hiểu được các thông
tin kinh tế này và đưa các quyết định giao dịch chính xác. Tuy nhiên nắm bắt
được thông tin thôi là chưa đủ, muốn có được lợi nhuận chúng ta cần phải đưa
ra những dự báo chuẩn xác về xu hướng biến động.
Những thông tin kinh tế thông thường được đăng tải hàng tháng ngoại
8
2.1.3 Chi tiêu dùng của người dân
Chỉ tiêu chi tiêu dùng thường được đánh giá trên góc độ tâm lí tự nhiên,
nó cho biết sự tự tin của người tiêu dùng hơn là lượng tiêu dùng thực tế. Chi
tiêu dùng do từng cá nhân dựa vào mức thu nhập thực tế và thu nhập khả
dụng của bản thân mà ra quyết định chi tiêu cho hợp lí.
2.1.4 Chi tiêu công của chính phủ
Chi tiêu công là một chỉ tiêu rất quan trọng trong đó nó chiếm tỉ lệ đáng
kể và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, nhưng nó cũng có ảnh hưởng trên cả
các khía cạnh khác như chính trị, xã hội. Do là một hình thức chi tiêu đặc biệt
như tiêu dùng trong quân đội, chi đầu tư cơ sở hạ tầng quốc gia…, nó giúp
giảm tỉ lệ thất nghiệp và tăng tổng thu nhập quốc nội và khuyến khích chi tiêu
đầu tư.
2.2 Những chỉ báo về lạm phát
Tỉ lệ lạm phát là sự gia tăng của giá cả chung và việc ước tính mức độ
tăng của nó là một nhiệm vụ quan trọng trong kinh tế vĩ mô. Các nhà giao
dịch thường chú ý chỉ số lạm phát bởi vì một trong những cách để đối phó với
tình trạng này chính phủ có thể tăng lãi suất danh nghĩa, từ đó sẽ dẫn tới sự
thay đổi giá đồng nội tệ, giá trị của lãi suất thực tế và tổng thu nhập quốc dân,
tổng thu nhập quốc nội thực tế. Đây là những con số quan trọng nhất đối với
các nhà quản lí tiền tệ và giao dịch tiền tệ, nó cho phép họ có thể so sánh một
cách chính xác thị thường giá cả thế giới. Thông thường các nhà giao dịch
thường sử dụng 9 công cụ chỉ báo kinh tế sau:
- Chỉ số giá sản xuất PPI
- Chỉ số quản lí tiêu dùng (purchasing managers’ index PMI)
- Chỉ số giá tiêu dùng CPI
- Hàng hoá bền (Durable goods)
- Chỉ số điều chỉnh GNP
quản lí nguồn cung cấp công bố hàng tháng một chỉ số tổng hợp về tình trạng
10
sản xuất quốc gia dựa trên những đơn đặt hàng mới, sức sản xuất, thời gian
giao hàng, lô hàng giao trễ, tồn kho, giá cả, thuê mướn nhân công, đơn hàng
xuất khẩu và nhập khẩu. Mức đo trung bình của chỉ số này là 50, nếu nó lớn
hơn 50 thì có nghĩa là nền kinh tế đang có xu hướng mở rộng phát triển hơn,
và nếu nhỏ hơn 50 thì nền kinh tế đó đang co lại và đây là một tín hiệu xấu.
2.2.3 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được hình thành từ các thông tin chi tiêu của
hàng nghìn hộ gia đình trên toàn quốc. Thông tin được thu thập thông qua
phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của các đối tượng lựa chọn để nghiên cứu. Rổ
hàng hoá dịch vụ được sử dụng để tính bao gồm hơn 200 danh mục, thuộc 8
nhóm: thực phẩm và đồ uống, nhà đất, may mặc, vận tải, chăm sóc sức khoẻ,
giải trí, giáo dục và truyền thông, và một số loại hàng hoá dịch vụ khác. Giá
cả của khoảng 800.000 hàng hoá dịch vụ trong rổ tính được thu thập hàng
tháng từ hàng ngàn các cửa hàng bán lẻ, các nhà cung cấp dịch vụ, các công
ty cho thuê nhà đất và các phòng khám sức khoẻ.
Cả hai chỉ số CPI và PPI đều giúp nhà đầu tư trong việc quyết định
quốc gia này có đang trong tình trạng lạm phát hay không và chúng đều được
tính toán và thông báo hàng tháng.
2.2.4 Hàng hoá bền–Durable good
Đơn đặt hàng lâu bền đo lường đơn đặt hàng mới của các nhà sản xuất
trong nước. Đó là những loại hàng hoá của các nhà máy công nghiệp nặng có
thể được giao ngay hoặc giao trong tương lai. Hàng hóa bền được định nghĩa
là hàng hóa có thời gian sử dụng lớn hơn 3 năm.
Những đơn đặt hàng lâu bền gia tăng dẫn tới nhu cầu về vốn tăng, và
kéo theo lãi suất tăng lên. Khi điều này xảy ra, đồng USD sẽ tăng giá và các
loại tiền tệ trên thị trường lên quan tới đồng USD sẽ giảm giá trị.
1980
12
2.2.8 Chỉ số giá công nghiệp JoC
Chỉ số JoC được sử dụng để nhận biết dấu hiệu của lạm phát trước cả
những chỉ số giá khác. Chỉ số giá JoC bao gồm giá của 18 loại nguyên liệu
công nghiệp và gia công giai đoạn đầu của sản xuất, xây dựng và sản xuất
năng lượng.
2.3 Những chỉ báo về việc làm
Tỉ lệ thất nghiệp là chỉ báo kinh tế quan trọng trong thị trường ngoại
hối do tầm quan trọng của nó trong việc dự đoán tình hình các khu vực kinh
tế. Tỉ lệ việc làm có thể phản ánh sự ổn định xã hội và tính lành mạnh của nền
kinh tế. Khi tỉ lệ thất nghiệp tăng, nó sẽ kéo theo nhiều hệ quả xấu tất yếu của
sự dư thừa nhân công lao động như tệ nạn xã hội, tội phạm trộm cắp…
Trên thị trường ngoại hối, những chỉ thị tiêu chuẩn được các nhà giao
dịch nghiên cứu là tỉ lệ thất nghiệp, mức lương trong lĩnh vực sản xuất, trong
lĩnh vực phi nông nghiệp, thu nhập trung bình Nói chung, dữ liệu quan trọng
nhất là lương chi trả trong ngành sản xuất và phi nông nghiệp, tiếp sau đó là tỉ
lệ thất nghiệp.
Những thông số này được công bố rộng rãi hàng tháng bởi cục thống kê
lao động.
2.4 Chỉ báo chi tiêu dùng
2.4.1 Doanh số bán lẻ
Chỉ số bán lẻ là một chỉ báo kinh tế quan trọng bởi vì nó phản ánh nhu
cầu và sự lạc quan của người tiêu dùng. Ở Mĩ chỉ báo này được chú ý hơn ở
các nước khác ví dụ như Nhật Bản, bởi vì sự phát triển của nền kinh tế Mĩ bị
ảnh hưởng bởi tiêu dùng nhiều hơn so với các nước khác.
Doanh số bán lẻ cao là tín hiệu tốt cho ngành sản xuất. Các tháng có
doanh số bán lẻ cao trong năm là 9,11 và 12. Tháng 9 là tháng mà mọi người
bắt đầu đi học hoặc là trở lại với công việc. Tháng 11 và 12 là tháng mua sắm
14
và nhu cầu vốn tín dụng tăng lên. Kết quả là lãi suất tăng kéo theo đồng USD tăng
giá. Báo cáo xây dựng của tháng này thường được công bố vào khoảng giữa tháng
tiếp theo.
2.4.4 Sản xuất công nghiệp
Là một thước đo sự thay đổi trong sản xuất của các nhà máy, hầm mỏ và
công ty trong nước. Chỉ số này đo lường năng lực sản xuất của rất nhiều nhà
máy và các hầm mỏ thông qua cách sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên
sẵn có (thường được gọi là chỉ số năng lực sản xuất- Capacity utilization)
Chỉ số năng lực sản xuất là một khái niệm kinh tế học, nó đề cập đến
mức độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của một doanh nghiệp hay một quốc
gia. Vì thế nó cho thấy mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra thực tế và sản
lượng tiềm năng nếu ta sử dụng tối đa các nguồn lực.
Khu vực sản xuất chiếm ¼ nền kinh tế, do vậy khi chỉ số sản xuất công
nghiệp giảm cho thấy sự tăng trưởng chậm chạp của nền kinh tế. Lúc đó,
Ngân hàng trung ương sẽ giảm mức lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế, điều này
kéo theo sự giảm giá của đồng USD.
2.5. Các chỉ báo quan trọng nhất
Là những yếu tố kinh tế thay đổi trước khi nền kinh tế bắt đầu theo một
hướng hay dạng mẫu thị trường. Chỉ thị hướng dẫn được dùng để tiên đoán
những sự thay đổi sẽ xảy ra trong nền kinh tế. Nó bao gồm những chỉ báo
kinh tế sau:
- Số ngày làm việc trung bình trong tuần của công nhân trong ngành sản
xuất
- Số người bị thất nghiệp hàng tuần
- Những đơn đặt hàng hàng tiêu dùng và nguyên liệu (được điều chỉnh
theo chỉ số lạm phát)
- Doanh số bán hàng
- Hợp đồng và đơn đặt hàng nhà máy và trang thiết bị
16
nhà giao dịch trên thị trường ở thời điểm đó. Tóm lại, giá cả không chỉ là hàm
số của cung và cầu nó còn chịu sự tác động của cảm xúc, lòng tham, sự sợ
hãi, hoảng loạn, kích động, phấn chấn và gọi chung là tâm lí của con người.
b. Chỉ căn cứ vào thông tin có trong giá cả để lý giải về các biểu hiện
của thị trường và hình thành dự báo giá trong tương lai.
Các nhà giao dịch bằng phân tích kĩ thuật đều cho rằng tất cả các yếu tố
cơ bản đều đã được thể hiện trong giá. Họ dường như không quan tâm tới tầm
ảnh hưởng của một trận thiên tai, hay những con số lạm phát đó có thể gây ra
đột biến về giá bằng việc những biến động của giá đó có phù hợp với một
mẫu hình thị trường hay xu hướng không. Và hơn thế nữa mẫu hình thị
trường đó có thể dùng để tiên đoán những giá cả trong tương lai sẽ biến động
như thế nào.
c. Nhấn mạnh sự điều chỉnh theo thị trường: xác định thời điểm thị
trường thay đổi.
Bằng cách xem biểu đồ ta có thể nhận diện xu hướng và mẫu hình có thể
giúp ta tìm thấy cơ hội giao dịch tốt nhất. Điều quan trọng nhất trong phân
tích kĩ thuật là dự báo xu hướng. Có thể nói rằng: “xu hướng là bạn của nhà
phân tích” bởi vì khi dự đoán được xu hướng biến động giá cả chúng ta có thể
tạo ra lợi nhuận bằng cách giao dịch dựa trên xu hướng đó. Phân tích kĩ thuật
có thể giúp ta nhận diện được xu hướng một cách sớm nhất và đưa ra những
quyết định giao dịch sinh lời.
d. Tập trung nhiều vào sự biến động trong ngắn hạn của thị trường.
Phân tích kĩ thuật có thể giúp ta nhận diện được xu hướng trong tương lai
dựa trên việc phân tích các mẫu hình cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên,
đặc điểm của thị trường ngoại hối là thị trường biến đổi liên tục trong một
khoảng thời gian ngắn, các nhà giao dịch luôn tập trung phân tích tận dụng cả
những biến động ngắn để nắm được thời cơ giao dịch tốt nhất.