cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
Lời mở đầu
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện nay là quá trình toàn
cầu hoá đang diễn ra ngày một sâu rộng. Là một bộ phận của nền kinh tế thế
giới, Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó. Chỉ bằng cách tích cực tham gia
vào quá trình phân công lao động quốc tế, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, Việt Nam mới có thể đạt đợc những mục tiêu phát triển ổn định và bền
vững. Tuy nhiên, trong lộ trình hội nhập của mình, Việt Nam chắc chắn sẽ gặp
nhiều thách thức. Nền kinh tế Việt Nam đã, đang và sẽ chịu tác động nhất định
từ môi trờng bên ngoài mà trớc tiên là những biến đổi tình hình kinh tế khu vực.
Chính vì vậy, việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới WTO có ảnh
hởng nhất định tới kinh tế Việt Nam.
Với tiềm lực kinh tế và chính trị của mình, việc Trung Quốc gia nhập
WTO ở chừng mực nào đó có tác động tới hệ thống kinh tế chính trị và thơng
mại toàn cầu, làm thay đổi cán cân buôn bán thế giới cũng nh luồng đầu t trực
tiếp nớc ngoài. Đối với Việt Nam nớc láng giềng gần gũi và có nhiều nét tơng
đồng về lịch sử, văn hoá, xã hôi và kinh tế, việc Trung Quốc gia nhập WTO có
thể sẽ là một nhân tố làm thay đổi quan hệ kinh tế-thơng mại giữa hai nớc cũng
nh cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Những tác động này sẽ ảnh hởng trực tiếp tới
các doanh nghiệp vừa và nhỏ của nớc ta, thành phần kinh tế đợc coi là sẽ phải
chịu nhiều tác động nhất từ quá trình hội nhập kinh tế.
Trên cơ sở đó, đề án môn học Bàn về những cơ hội và thách thức của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi
Trung Quốc gia nhập WTO đợc hình thành.
Với vốn kiến thức còn hạn chế và năng lực có hạn, ngời viết hi vọng rằng
những nội dung đã đợc trình bày trong đề án này sẽ giúp ích cho sự phát triển
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong qua trình hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới. Ngời viết chân thành cảm ơn PGS. TS Vũ Minh Trai đã hớng
dẫn thực hiện đề tài này.
Phần I : Hội nhập và các nhân tố ảnh hởng tới hội nhập quốc tế
1.1 Khái niệm về hội nhập
cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các quốc gia ngoài
liên minh.
Thứ ba, hình thành thị trờng chung, đây là một liên minh quốc tế ở mức
độ cao hơn liên minh thuế quan, tức là ngoài việc áp dụng các biện pháp tơng
tự nh liên minh thuế quan trong trao đổi thơng mại, hình thức liên minh này
còn cho phép t bản và lực lợng lao động tự do di chuyển giữa các nớc thành
viên thông qua từng bớc hình thành thị trờng thống nhất ( nh các quốc gia
trong cộng đồng kinh tế Châu Âu EEC từ năm 1992 ) thể hiện qua : một là,
hình thành liên minh tiền tệ, đây là một liên minh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ.
Theo thoả thuận này các nớc thành viên phải phối hợp các chính sách tiền tệ
với nhau và cùng thực hiện một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối,
thống nhất đồng tiền dự trữ và đồng tiền chung. Hai là, hình thành liên minh
kinh tế, đây là một liên minh quốc tế với mức độ cao hơn về sự tự do di
2
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
chuyển hàng hóa, dịch vụ, t bản và lực lợng lao động giữa các nớc. Đồng thời
áp dụng biểu thuế quan chung cho tất cả các quốc gia không phải là thành
viên và thống nhất chính sách tài chính, tiền tệ ( Liên minh Châu Âu EU từ
năm 1994).
1.3 Những lợi ích kinh tế chủ yếu thu đợc từ hội nhập
Sự hội nhập vào nền kinh tế các nớc trong khu vực đa lại những lợi ích
kinh tế khác nhau cho cả ngời sản xuất và ngời tiêu dùng trong các nớc thành
viên. Một quốc gia nào đó gia nhập hiệp hội các nớc thực hiện u đãi mậu dịch th-
ờng đa lại những kết quả chủ yếu sau :
Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch mới giữa các quốc gia thành viên, mở
rộng hơn nữa khả năng xuất nhập khẩu hàng hóa của các nớc trong liên minh với
các nớc và các khu vực kinh tế khác trên thế giới. Chính vì thế mà tiềm năng
kinh tế của các nớc thành viên đợc khai thác một cách có hiệu quả. Hơn nữa, hội
nhập kinh tế còn làm tăng thêm phúc lợi thông qua việc thay thế các ngành, trớc
hết là công nghiệp của nớc chủ nhà có chi phí cao ( lãng phí nguồn lực) bằng
+ Tự do hoá thơng mại gây ra áp lực lớn đối với mỗi quốc gia trong liên
minh, trong các ngành sản xuất hàng nhập khẩu, buộc các ngành này phải phấn
đấu giảm giá hoặc giữ giá ở mức tơng đối thấp. Muốn vậy, các ngành này phải
nhanh tróng thay đổi công nghệ, áp dụng rộng rãi những kinh nghiệm quản lý,
những thành tựu mới và hiện đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.
+ Trong điều kiện hội nhập, các quốc gia thành viên đang có xu hớng tập
trung đầu t phát triển các ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu có hiệu quả nhất và
phát huy tối u những lợi thế về nguồn lực của mình. Điều đó sẽ cho phép mỗi
quốc gia thành viên nâng cao hiệu quả xuất khẩu theo quy mô và do đó thúc đẩy
tăng trởng sản xuất, góp phần tích luỹ vốn và tái sản xuất mở rộng không ngừng.
+ Tăng cờng xuất khẩu góp phần tạo lập cá cân thanh toán theo hớng tích
cực, tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia đây là đIều kiện quan trọng để giảm lãi
xuất cho vay khuyến khích ngời sản xuất kinh doanh vay vốn để mở rộng sản
xuất kinh doanh, thúc đẩy tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tếtiếp đến
việc tăng hiệu quả sản xuất nhờ nâng cao năng xuất cận biên của hai yếu tố
sản xuất cho phép mỗi quốc gia thành viên không cần thay đổi cơ cấu vật chất
của sản xuất, thậm chí không tăng thêm chi phí sản xuất mà vẫn đạt hiệu quả
kinh tế cao.
1.4 Một số nguyên tắc chung khi tham gia hội nhập quốc tế
Tham gia hội nhập kinh tế, mỗi quôc gia phải tuân theo những luật chơi
chung, ngững nguyên tắc chung đợc qui định cho tất cả các quốc gia trong
khối. Một trong số những nguyên tắc chung có tính chất bắt buộc, đó là :
Nguyên tắc tối huệ quốc, dành cho mọi thành viên sự đối xử thuận lợi
nhất đã dành cho bất cứ bạn hàng nào, rà soát lại các hiệp định thơng mại song
phơng để bảo đảm tính nhất quán của chúng với quy chế tối huệ quốc.
Nguyên tác đối xử quốc gia, áp dụng chế độ ứng xử nh nhau đối với sản
phẩm, dịch vụ và công dân trong nớc và nớc ngoài.
Nguyên tắc hạn chế sử dụng các công cụ thơng mại phi thuế quan, hạn
chế sử dụng hạn ngạch rào cản kỹ thuật đối với thơng mại nhằm mục đích bảo
hộ, trừ trờng hợp đặc biệt. Bằng cách loại bỏ dần hạn chế về số lợng đối với
8 Việt Nam 49 39 48 53
Nguồn : Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).
Theo số liệu trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, sắt thép đang tồn kho
250.000 tấn - chiếm 18% sản lợng, phân bón 260.000 tấn - chiếm 35% sản lợng,
xi măng 254.000 tấn. Nguyên nhân tồn kho chủ yếu do hàng hoá của ta nói
chung sức cạnh tranh yếu, giá cả cao hơn hàng ngoại nhập cùng loại, mặc dù
nhiều mặt hàng đang đợc bảo hộ. Nh ta thấy thì sức cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam đang giảm sút vì nhiều nguyên nhân mà nếu nh chúng ta không tìm hiểu và
đa ra biện pháp khắc phục kịp thời thì chúng ta sẽ tụt hậu mãi mãi.
5
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
Nguyên nhân đầu tiên là do giá thành sản phẩm cao, trớc khi giảm thuế thì
một số mặt hàng của Việt Nam đã thua ở thị trờng trong nớc do giá bán của sản
phẩm còn cao hơn hoặc có thấp hơn thì thấp hơn rất ít giá bán của hàng nhập
khẩu sau khi đã đánh thuế. Ví dụ nh đầu năm 2001, giá bán máy giặt cỡ 4
kilôgam sản xuất trong nớc là 3,7 triệu đồng trong khi hàng nhập khẩu kể cả thuế
là 3,8 triệu ; tủ lạnh cỡ 150 lít giá hàng trong nớc là 4.31 triệu đồng và hàng nhập
là 4,85 triệu.
Nguyên nhân thứ hai là do khả năng thâm nhập vào thị trờng các nớc của
các Smes Việt Nam quá yếu. Năm 2000, nhóm hàng nông lâm thuỷ sản và các
nguyên liệu thô chiếm tới 70% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang các nớc
ASEAN. Đồng thời chất lợng và mẫu mã sản phẩm cũng là một vấn đề. Công
nghệ sản xuất lạc hậu nên năng suất chất lợng cha cao, cũng vì thế các doanh
nghiệp Việt Nam cha có đợc sự quan tâm đúng đắn tới mẫu mã sản phẩm mà
đây lại là một chiến lợc quan trọng của Marketing. Mẫu mã, bao bì sản phẩm của
hàng Việt Nam cha thu hút đợc sự chú ý mua sắm của khách hàng lại chậm đổi
mới. Hàng thủ công mĩ nghệ của Việt Nam chẳng hạn, hàng xuất khẩu năm 2000
đến hơn 300 triệu USD và có rất nhiều khách từ Hồng Công, Nhật Bản rất thích
nhng đến năm sau khi họ trở lại thì họ không kí những hợp đồng giống nh năm
trớc nữa vì hàng không thay đổi mẫu mã nên họ không quan tâm và không mua
của Nhà nớc đã và đang bộc lộ những điểm yếu của mình, nhiều doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, theo báo cáo của Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại
doanh nghiệp thì năm 1998 chỉ có 37% số doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn có hiệu
quả, số còn lại thua lỗ nặng. Đến cuối năm 1999, chỉ có 20% số doanh nghiệp
Nhà nớc kinh doanh có hiệu quả. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn giảm dần : năm 1995
là 19,1%, năm 1997 là 10,6%, năm 1998 là 8%. Năm 1998, công nghiệp Nhà n-
ớc chiếm 47,4% vốn, 28,5% lao động và sản xuất ra 48% tổng giá trị sản xuất
toàn ngành nhng chỉ đóng góp 40,7% thu ngân sách trong lĩnh vực công nghiệp.
Ngoài ra còn nhiều vấn đề khác nữa nh năng lực quản lý của doanh nghiệp, thu
hút vốn đầu t thấp, hiệu quả sản xuất kém, sức cạnh tranh của hàng hoá không
cao
Thứ ba, quan trọng nhất là vấn đề bảo hộ . Đây chính là yếu tố làm mất đi
sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam , tạo nên sức ỳ trong hội nhập. Hơn nữa
Nhà nớc ta còn chậm trong vấn đề phổ biến kiến thức hội nhập cho doanh
nghiệp, cha công bố rộng rãi lịch trình cắt giảm thuế để các doanh nghiệp có khả
năng chuẩn bị tốt, nâng cao sức cạnh tranh. Còn thiếu các văn bản hớng dẫn chi
tiết tới các Bộ, ngành liên quan. Tất cả điều này thể hiện năng lực yếu kém trong
quản lý, bộ máy quản lý hoạt động thiếu đồng bộ, không thống nhất.
Thứ t, khó khăn về cơ sở hạ tầng kĩ thuật. Các xí nghiệp công nghiệp chủ
lực của Nhà nớc chủ yếu kế thừa từ thời Pháp thuộc, ít đợc sửa chữa, công nghệ
sản xuất còn lạc hậu. Hơn nữa lại phân bố không đều, không tận dụng đợc nguồn
lực. Có thể lấy ví dụ ngay trên địa bàn Hà Nội tập trung rất nhiều cơ sở sản xuất
công nghiệp nhng hiệu quả sản xuất không cao. Các nhà máy chính trên địa bàn
7
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
nh nhà máy cơ khí chính xác, nhà máy cơ khí Trần Hng Đạo đã từng hng thịnh
thời kì Pháp thuộc và trong thời bao cấp thì hiện nay sản xuất yếu, cầm chừng vì
không phát huy đợc hiệu quả trong thời kì mới, công nghệ sản xuất thì vẫn nh xa
không thay đổi là mấy vì thiếu vốn đầu t. Một số nơi nhờ có vốn đầu t nớc ngoài
mà chúng ta đã xây mới đợc một số khu công nghiệp trọng điểm nhng hiệu quả
phát triển đầy đủ, các ngành Công nghiệp chủ yếu là công nghiệp nhẹ và khai
8
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
khoáng xuất khẩu sản phẩm thô, hàm lợng kĩ thuật trong sản phẩm không cao.
Công nghiệp nhẹ với các mặt hàng chủ lục và có u thế trong xuất khẩu là hàng
may mặc,đồ da giày, thực phẩm Còn công nghiệp khai khoáng thì trình độ
công nghệ thấp dẫn đến sự khai thác không hợp lý và lãng phí các nguồn lực.
Khả năng chế biến nguyên liệu thô khai thác đợc gần nh là không có. Các mỏ
dầu khí của ta ở thềm lục địa có trữ lợng lớn đã đợc Nga hỗ trợ ban đầu rất nhiều
trong việc khai thác nhng chúng ta cũng mới chỉ dừng ở việc xuất khẩu dầu thô
với giá rẻ. Hay trong xuất khẩu cà phê cũng vậy, Việt Nam chỉ dừng ở việc xuất
khẩu cà phê hạt chứ cha có đủ trình độ sản xuất cà phê bột, nh vậy chúng ta xuất
khẩu cà phê hàng năm vào hàng cao trên thế giới nhng lại phải nhập khẩu àa phê
bột từ nớc ngoài với giá cao. Nh vậy vấn đề tiềm ẩn trong hội nhập kinh tế AFTA
là liệu các nớc kém phát triển có trở thành nhà cung cấp nguyên liệu thô nh thời
kì thuộc địa hay không? Không những thế việc phân bố các khu công nghiệp
cũng còn nhiều điều bất hợp lý cần phải xem xét và điều chỉnh lại.
Thứ bảy, nhận thức của các nhà quản lý doanh nghiệp về vấn đề hội nhập
còn hạn chế. Phần lớn, các doanh nghiệp cha chuẩn bị chu đáo cho quá trình hội
nhập, cha đa ra đợc các chính sách, chiến lợc thích ứng để tham gia AFTA hay
WTO Khảo sát 66 doanh nghiệp của Báo Sài Gòn Tiếp Thị mới đây cũng cho
thấy : chỉ có hơn 1/2 doanh nghiệp có các cuộc họp chính thức bàn luận về AFTA
; hơn 1/2 doanh nghiệp có giao nhiệm vụ chính thức cho các cá nhân hay bộ
phận trong công ty nghiên cứu về AFTA. Ngành dệt, da, may, tuy có nhiều doanh
nghiệp nghiên cứu về AFTA sớm nhất, nhng có gần 1/3 tổng số doanh nghiệp
cho biết cha xác định đợc chính sách và biện pháp đối với AFTA.
Tuy nhiên có một số các doanh nghiệp thành công và đã chuẩn bị đầy đủ
cho hội nhập . Đó là số doanh nghiệp tìm cách đơng đầu hội nhập từ rất sớm và
đến nay thì khá bình tĩnh, tự tin, điển hình là Vinamilk. Ngay từ những năm cuối
1999 - 2000, Vinamilk đã có ý thức đa các sản phẩm sữa, bột dinh dỡng vào
t nhân
Theo cấp quản lý, có doanh nghiệp trung ơng, doanh nghiệp địa phơng.
Theo qui mô, trình độ sản xuất kinh doanh, có doanh nghiệp quy mô lớn,
doanh nghiệp quy mô vừa, doanh nghiệp quy mô nhỏ. Ngoài ra, còn các cơ sở
sản xuất kinh doanh không chính thức thành lập doanh nghiệp thuộc loại doanh
nghiệp siêu nhỏ.
Theo tính chất hoạt động, tức là theo yêu cầu xã hội và cơ chế thị trờng, có
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá công cộng, không nhằm mục tiêu lợi nhuận là
hàng đầu nh công ty môi trờng đô thị, công ty công viên và có những doanh
nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận tối đa.
Việc phân loại các loại hình doanh nghiệp chỉ mang tính chất tơng đối vì
trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính
chất tổng hợp, đa ngành hoặc có sự đan xen nhiều chủ sở hữu về t liệu sản xuất.
2.2 Các tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thuật ngữ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nớc phơng Tây gọi là
SME (Small and Medium Enterprise), có nghĩa là các cơ sở sản xuất kinh doanh
có qui mô tơng đối nhỏ. Nhng nếu muốn nói một cách chính xác rằng qui mô
không lớn lắm đến đâu hoặc qui mô nh thế nào thì gọi là nhỏ cần phải dựa vào
những tiêu thức để xem xét. Việc xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của một nớc
11
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
thờng đợc cân nhắc đối với từng giai đoạn phát triển kinh tế, tình hình làm việc
nói chung trong cả nớc và tính chất nền kinh tế hiện hành của nớc đó. Việc xác
định các doanh ngiệp vừa và nhỏ không có tính chất cố định mà có xu hớng thay
đổi theo tính chất những hoạt động của nó, mục đích của việc xác định và mức
độ phát triển doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn đợc sử dụng để xác định doanh nhgiệp vừa và nhỏ là :
Thứ nhất, tổng vốn đầu t đợc huy động vào sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố
định, giá trị bằng tiền của sản phẩm bán hoặc dịch vụ, lợi nhuận, vốn bình quân
cho một lao động, doanh thu Để tiện cho việc so sánh quốc tế ngời ta thờng qui
( tỷ đồng )
Thành phố Hồ Chí Minh Loại vừa > 1 > 100 > 10
Loại nhỏ < 1 < 100 < 10
12
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
Ngân hàng công thơng
Việt Nam
Loại vừa và
nhỏ
< 18 < 500 < 20
Đồng Nai Loại vừa - - < 100
Loại nhỏ - -
Các chuyên gia kinh tế Loại vừa > 0,3 > 50 -
Loại nhỏ 0,1 0,3 5 - 50 -
(-) Không có số liệu
Nguồn : Thông t Liên bộ Bộ lao động Th ơng binh và xã hội
Tham luận Hội thảo khoa học về doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.3 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân
2.3.1 SMEs tạo công ăn việc làm cho ngời lao động
Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn đóng
vai trò quan trọng hơn các doanh nghiệp lớn, đặc biệt trong thời kì suy thoái kinh
tế. Lịch sử phát triển kinh tế của các nớc công nghiệp phát triển cũng nh thời kỳ
đầu đổi mới của Việt Nam đã chỉ ra rằng : khi nền kinh tế suy thoái, các doanh
nghiệp lớn phải giảm lao động để giảm chi phí sản xuát tới mức có thể tồn tại và
phát triển đợc , vì cầu của thị trờng thấp hơn cung của thị trờng. Nhng đối với các
doanh ngiệp vừa và nhỏ do đặc tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với sự
thay đổi của thị trờng nên nó vẫn có thể hoạt động đợc, đặc biệt là các doanh
nghiệp nhỏ. Do đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ không những không giảm lao động
mà vẫn có thể thu hút thêm lao động
Hội đồng doanh nghiệp nhỏ thế giới cho rằng : doanh nghiệp vừa và nhỏ
ngàn tỷ đồng nhàn rỗi khác phục vụ cho nhu cầu ngắn hạn về vốn của doanh
nghiệp.
Thứ hai, Về lao động, doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng nhằm vào mục tiêu
sản xuất kinh doanh phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, sử dụng nhiều lao
động, ít vốn. Do đó, phần lớn lao động trong khu vực này không đòi hỏi phải có
trình độ cao, phải đào tạo nhiều thời gian và chi phí tốn kém, chỉ cần bồi dỡng
hoặc đào tạo ngắn ngày là ngời lao động có thể tham gia sản xuất trong doanh
nghiệp.
Thứ ba, Về mặt kỹ thuật, doanh nghiệp Smes thờng lựa chọn kỹ thuật phù
hợp với trình độ lao động và khả năng về vốn, họ kết hợp kỹ thuật thủ công với
kỹ thuật mà quảng đại quần chúng lao động có thể nhanh tróng tiếp thu và làm
chủ trong sản xuất. Họ ít sử dụng những thiết bị tiên tiến hiện đại đòi hỏi vốn
lớn, đào tạo sử dụng lâu, tốn kém kinh phí. Do đó, phần lớn các trang thiết bị của
các Smes là sản phẩm trong nớc.
Thứ t, Về nguyên vật liệu, doanh nghiệp Smes với nguồn vốn ít, lao động
thủ công là chủ yếu, do vậy nguồn nguyên liệu đợc sử dụng chủ yếu là tại chỗ,
thuộc phạm vi địa phơng, dễ khai thác, sử dụng, qua đó cũng tạo điều kiện giải
quyết việc làm trong khu vực, rất ít doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập
ngoại. Cuộc khảo sát 1000 doanh nghiệp nhỏ cho thấy 80% nguồn nguyên vật
liệu cung ứng cho các doanh nghiệp là ở tại địa phơng.
14
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
2.3.4 SMEs có tác dụng quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Quá trình phát triển doanh nghiệp Smes cũng là quá trình cải tiến máy
móc thiết và thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất và chất lợng sản phẩm để đáp
nhu cầu thị trờng, đến một mức độ nào đó nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công
nghệ, làm cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc diễn ra không chỉ
ở chiều sâu mà cả ở chiều rộng.
Doanh nghiệp Smes phát triển làm cho công nghiệp và dịch vụ phát triển
Thứ t, Không có hoặc ít có xung đột giữa nguời lao động và ngời sử dụng
lao động. Do qui mô vừa và nhỏ, sự ngăn cách giữa ngời lao động và ngời sử
dụng lao động không lớn, và bản thân ngời chủ, ngời sử dụng lao động luôn sát
với công việc của ngời lao động, do vậy nếu có xung đột, mâu thuẫn cũng dễ
dàng giải quyết.
Thứ năm, Có thể phát huy tiềm lực của thị trờng trong nớc. Sự phát triển
của các Smes ở giai đoạn đầu là phơng thức tốt để sản xuất thay thế nhập khẩu.
Các nớc đang phát triển nh nớc ta, chỉ cần lựa chọn một số mặt hàng để sản xuất
thay thế nhập khẩu với mức chi phí và vốn đầu t thấp, kỹ thuật không phức tạp,
sản phẩm phù hợp với sức mua của ngời dân, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và
sức mua của thị trờng.
Thứ sáu, Về tiềm năng phát triển. Qua thực tế sản xuất kinh doanh, mạng
lới các Smes trên khắp mọi miền của đất nớc đã đào tạo, sàng lọc các nhà doanh
nghiệp, và là nơi đào tạo hữu hiệu nhất. Mặt khác, quá trình phát triển của Smes
là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm mở mang thị trờng,để phát triển thành doanh
nghiệp lớn. Các Smes có một lợi thế là mới phát triển, quy mô nhỏ bé, tồn tại
trong mọi thành phần kinh tế và đang trong quá trình chuyển hoá, do đó có nhiều
thuận lợi để phát triển, nó cha chịu ảnh hởng lớn của độc quyền và cạnh tranh
quyết liệt với nhau cho nên nhu cầu của thị trờng còn rộng lớn.
Do đó, nếu tận dụng hết khả năng của mình thì chắc chắn các Smes Việt
Nam sẽ là một lực lợng nòng cốt cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong
quá trình hội nhập nhiều khó khăn và thử thách.
2.4.2 Những hạn chế
Sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp Smes đạt hiệu quả thấp diễn ra
có tính chất phổ biến trong tất cả các ngành, các loại hình sở hữu, nguyên nhân
chính là do giá cả, chất lợng sản phẩm không đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng
trong và ngoài nớc. Loại trừ các yếu tố bên ngoài nh buôn lậu tràn lan, sự độc
quyền có ảnh hởng đến giá cả, chất lợng sản phẩm không đáp ứng đợc yêu cầu
của thị trờng trong và ngoài nớc của các Smes, thì các yếu tố của môi trờng kinh
đầu t và xuất khẩu. Chính vì vậy, trở thành thành viên của WTO, thị trờng Trung
Quốc sẽ mở rộng hàng hoá của các nớc thành viên khác, đồng thời hàng hoá của
nớc này sẽ tự do thâm nhập vào thị trờng thế giới, dẫn đến những biến đổi đáng
kể đến cán cân buôn bán thế giới cũng nh luồng FDI.
Trớc hết, Trung Quốc gia nhập WTO sẽ ảnh hởng tới kinh tế các đối tác
chủ yếu của Trung Quốc nh các nớc OECD, ASEAN, NIE châu á và một số nớc
thuộc APEC. Các nghiên cứu khác nhau đêu cho thấy nền kinh tế đa số các nớc
này đều chịu tác động tích cực và khai thác tốt hơn những lợi thế so sánh của
mình ở những mức độ khác nhau. GDP của các nớc OECD sẽ tăng thêm từ 0,01
đến 0,006% nhờ quá trình tự do hoá thơng mại với Trung Quốc. Riêng Mỹ, GDP
giảm với mức 0,04% đến 0,02% do thâm hụt thơng mại. Bù lại Mỹ tăng xuất
khẩu nông sản vào thị trờng Trung Quốc. Kết quả điều tra phản ứng của các
doanh nghiệp đối với việc Trung Quốc gia nhập WTO ở 12 nớc Châu á của tổ
chức nghiên cứu rủi ro về kinh tế và chính trị (PERC) tại Singapore cho thấy mức
độ tác động khác nhau : 92,3% doanh nghiệp ở hàn Quốc và 85,7% ở Nhật Bản
cho rằng Trung Quốc gia nhập WTO có tác động tích cực trong khi con số này là
66,7% ở Thái Lan, 40% ở Singapore và chỉ có 5,7% ở Việt Nam, trong số này đa
số là các doanh nghiệp Smes.
Đối với các nớc ASEAN, việc Trung Quốc gia nhập WTO ảnh hởng ít
nhiều tới nền kinh tế khu vực. Theo nghiên cứu của Ban th ký ASEAN có thể
GDP của đa số các nớc đều tăng do xuất khẩu nông sản vào thị trờng Trung Quốc
và gia tăng xuất khẩu một số mặt hàng mà Trung Quốc mất dần lợi thế cạnh
tranh ở những thị trờng khác. Về lý thuyết, ASEAN có ít lý do để lo ngại về xuất
khẩu khi cạnh tranh trực tiếp với hàng Trung Quốc cùng chủng loại (dệt may, dày
dép) trên cùng thị trờng xuất khẩu (Mỹ, EU và Bắc á). Tuy nhiên, một so sánh
18
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
về 10 sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của ASEAN và Trung Quốc cho thấy rằng
hàng xuất khẩu của Trung Quốc nhìn chung có tính cạnh tranh cao hơn so với
hàng Philippin, Thái Lan và Việt Nam nhng lại ít cạnh tranh hơn so với hàng
khẩu cao su sang Trung Quốc, các Smes phait cạnh tranh với Thái Lan, Đài Loan
và Malaysia. Thao tổng công ty cao su Việt Nam( chiếm khoảng 50% sản lợng
và 65% khối lợng xuất khẩu). Tuy nhiên chất lợng cao su còn kém vì sản xuất
theo tiêu chuẩn SVR của liên Xô trớc đây, trong khi Thái Lan, Đài Loan và
19
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
Malaysia sản xuất theo tiêu chuẩn ISS của Mỹ. Rõ ràng, ngành cao su cũng đang
đứng trớc khó khăn cần phải vợt qua là phải giảm giá thành, nâng cao chất lợng
sản phẩm để tăng tính cạnh tranh trên thị trờng Trung Quốc. Đối với các mặt
hàng còn lại nh may mặc, giày dép, linh kiện điện tử và máy tính nguyên chiếc, tỉ
trọng trong cơ cấu xuất sang Trung Quốc không cao. Xét trong bối cảnh hiện
nay, hàng Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt để dành dật thị phần trên thị trờng
Trung Quốc.
Bảng 3 : Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng Trung Quốc
Đơn vị tính :%
1999 2000 2001
( Sáu tháng đầu năm )
A. Hàng nguyên vật liệu
và thực phẩm sơ chế
61,9 75,6 83,6
1. Dầu thô
38,6 48,8 52,7
2. Hải sản
6 14,5 15,9
3. Rau quả
4,2 7,8 9,8
4. Cao su
6 4,3 2,8
5. Hạt đIều
6,3 - 1,7
Thứ ba, tác động tới thị trờng nội địa của các Smes.Hàng hoá của Trung
Quốc nhập khẩu vào Việt Nam sẽ tăng bởi hai lý do. Một là, do đợc hởng u đãi,
một bộ phận hàng hoá của Trung Quốc sẽ có sức cạnh tranh lớn nhờ giá rẻ, chất
lợng cao, mẫu mã đẹp, hợp túi tiền và hợp thị hiếu của đa số dân c Việt Nam
(hàng dệt may, giầy dép là ví dụ ). Hai là, do nghĩa vụ thực hiện những cam kết
cắt giảm thuế quan và phi thuế quan, một bộ phận hàng hoá khác sẽ gặp nhiều
khó khăn trên thị trờng Trung Quốc , có nguy cơ trở nên thừa ế, ứ đọng và khi đó
thị trờng Việt Nam sẽ trở thành mục tiêu xâm nhập của những loại hàng này.
Trong số đó, các mặt hàng xe máy, trang thiết bị máy móc, t liệu phục vụ sản
xuất nông nghiệp, rau quả, đồ chơi
Thứ t, tác động tới nguồn đầu t nớc ngoài vào Việt Nam, do đó làm ảnh h-
ởng đến đối tác làm ăn của các Smes. Hơn hai mơi năm qua, nhờ thực hiện chính
sách cải cách mở cửa mà Trung Quốc đã trở thành quốc gia lớn nhất trong số các
nớc đang phát triển trong việc thu hút FDI : FDI vào Trung Quốc tăng khá đều
đặn và đạt kỷ lục vào năm 2001 với con số 46.877 triệu USD. Trong khi đó FDI
vào Việt Nam rất thất thờng, đỉnh điểm vào năm 1996 với 8.640 triệu USD từ đó
giảm dần cho đến năm 2000, năm 2001 dù có tăng so với năm 2000 song chỉ ở
mức khiêm tốn là 2.346 triệu USD.
Bảng 4 : Luồng vốn FDI vào Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 1997 2001
Đơn vị : Triệu USD
Năm Việt Nam (vốn đăng ký) Trung Quốc ( vốn thực hiện )
1987 1992 976,8 4.652
1993 2.589 27.515
1994 3.746 33.787
1995 6.607 35.489
1996 8.640 40.180
1997 4.649 44.236
21
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
1998 3.897 44.460
đãi lớn và ngừng sản xuất những mặt hàng không đủ sức cạnh tranh. Sức ép đòi
hỏi các Smes phải đuổi kịp và vợt các doanh nghiệp từ Trung Quốc và các nớc
trong khối ASEAN về chất lợng mẫu mã, giá cả hàng hoá trong vòng 5-8 năm,
nếu không sẽ phá sản và trao thị trờng Việt Nam cho các đối thủ cạnh tranh này.
Thứ hai, Các Smes có thể hạ gía thành sản phẩm do mua đợc những
nguyên vật liệu đầu vào rẻ hơn. Đây là cơ hội không dễ có đợc đối với bất cứ một
doanh nghiệp nào. Những khó khăn do khan hiếm nguyên nhiên vật liệu cho sản
22
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
xuất sẽ bị loai bỏ khi tham gia hội nhập. Nếu các Smes tận dụng tốt cơ hội này,
cùng với sự nhanh nhạy của mình, họ có thể vơn lên tồn tại và đứng vững trớc
những khó khăn mà hội nhập kinh tế mang lại.
Thứ ba, doanh nghiệp Smes sẽ trải qua quá trình sàng lọc tự nhiên thông
qua cạnh tranh quốc tế. Những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ (đặc biệt là những
doanh nghiệp Smes thuộc sở hữu của Nhà Nớc) sẽ bị thay thế bởi những doanh
nghiệp nớc ngoài hay trong nớc có đủ khả năng. Và một hệ quả tất yếu là nền
sản xuất trong nớc sẽ hiệu quả hơn đối với các điều kiện quốc tế thay đổi.
Việc hội nhập vào nềm kinh tế các nớc trong khu vực, hình thành các dạng
liên kết kinh tế quốc tế luôn đa lại cho mỗi quốc gia thành viên những thuận lợi
và những khó khăn, những lợi ích kinh tế khác nhau. Vì vậy, mỗi quốc gia cần
tính toán, cân nhắc, lựa chọn để đa ra các quyết định thích hợp trong quá trình
hội nhập nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong khi cân nhắc và đa ra quyết định
chống các quan điểm hội nhập quá nhanh hoặc hội nhập từ từ . Tiến trình hội
nhập của mỗi quốc gia ra sao, đIều đó dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ, toàn diện
tình hình trong và ngoài nớc để có những quyết định đúng đắn và kịp thời.
3.3 Một vài kiến nghị
Rõ ràng hội nhập vào nên kinh tế khu vực và thế giới một mặt tạo ra những
thách thức đối với nền kinh tế của Việt Nam, một mặt lại tạo ra những cơ hội
kinh doanh to lớn. Điều quan trọng là chúng ta phải nhận biết những yếu kém
của mình, khắc phục những nhợc điểm đồng thời tận dụng tối đa hội nhập kinh
tranh của hàng xuất Việt Nam không chỉ sang thị trờng Trung Quốc mà còn sang
các thị trờng khác nữa, đặc biệt là các thị trờng có những hàng rào kỹ thuật khắt
khe nh Mỹ và EU. Chính vì vậy, cần huy động sự nỗ lực từ chính bản thân các
doanh nghiệp, phát huy tối đa vai trò của các hội, hiệp hội. Hiệp hội sẽ là cầu
nối quan trọng giữa Chính phủ và doanh nghiệp để cùng tìm ra những giải pháp
cụ thể nâng cao sức cạnh tranh trong nội bộ từng ngành. Bản thân các Smes cũng
nên chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía Chính phủ mỗi khi gặp khó khăn.
Tránh để tình trạng khi có sự can thiệp của Chính phủ rồi thì đã quá muộn, doanh
nghiệp đã thất bại hoặc phá sản .
Các doanh nghiệp Smes cũng cần xem xét, đánh giá quy tắc 6M đợc thực
hiện nh thế nào trong doanh ngiệp mình, đó là : lao động (Manpower), nguyên
vật liệu (Material), máy móc thiết bị (Machinery), tổ chức quản lý
(Managerment), vốn (Money), hoạt động marketing ( Marketing). Đây là sáu yếu
tố quan trọng bậc nhất, sự thành bại trong quá trình hội nhập của các Smes tuỳ
thuộc vào khả năng thực hiện từng yếu tố này tốt đến đâu. Trong thời gian qua,
chúng ta đã nói nhiều đến trình độ quản lý yếu kém, máy móc thiết bị, công
nghệ lạc hậu, tình trạng thiếu vốn( 5M đầu tiên) của các Smes và dờng nh các
Smes cũng phần nào khắc phục những hạn chế các yếu tố đó. Tuy nhiên, hoạt
động Marketing( chữ M cuối cùng) thì dờng nh cha đợc hầu hết các Smes quan
tâm thoả đáng. Vậy nên, giải pháp đa ra là, các Smes cần xây dựng chiến lợc tiếp
cận thị trờng hợp lý bằng cách tăng cờng hoạt động Marketing (tìm hiểu thị tr-
ờng, nắm bắt thông tin chính xác, đặt văn phòng đại diện, tham gia các hội trợ
giới thiệu sản phẩm ở quy mô phù hợp với khả năng, kiên trì giới thiệu sản phẩm,
tích cực quảng cáo) xây dựng những kế hoạch ngắn hạn, trung hạn cho từng
24
cơ hội và thách thức của các Smes Việt Nam trong quá trình hội nhập sau khi Trung Quốc ra nhập WTO
mặt hàng ở từng thị trờng cụ thể, đặc biệt tránh đối đầu trực tiếp với những mặt
hàng của Trung Quốc có sức cạnh tranh lớn hơn.
Giải pháp tiếp theo là cần tận dụng tối đa nguồn lực trong nớc, sản xuất
kinh doanh tiết kiệm, tránh lãng phí, mục tiêu nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ
Thơng mại và Công nghiệp.
Thứ t, Nhà nớc cần phải đối sử bình đẳng với các thành phần trong nền
kinh tế, không phân biệt kinh tế t nhân, kinh tế tập thể và quy mô của các thành
25