Bài giảng TỔN THƯƠNG PHÓNG XẠ CẤP DO CHIẾU NGOÀI TOÀN THÂN - Pdf 13

Bài giảng
TỔN THƯƠNG PHÓNG XẠ CẤP DO CHIẾU NGOÀI TOÀN THÂN
PGS.TS Hoàng Công Minh
1. Phân loại tổn thương phóng xạ cấp
Trong các tài liệu được công bố có nhiều cách phân loại tổn thương phóng
xạ cấp. Phân tích những tài liệu sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ ở Hiroshima và
Nagazaki (Oterson và Uorren, 1960 ) cũng như vụ thử vũ khí khinh khí ở Bikini
(Kronkait và CS, 1960) cho phép đưa ra những dạng cơ bản của tổn thương
phóng xạ trong các vụ nổ hạt nhân.
Bảng 1: Phân loại tổn thương phóng xạ trong các vụ nổ hạt nhân
Yếu tố bức xạ xuyên và các dạng tổn thương
Bức xạ từ phản ứng phân
hạch
Bức xạ trong lúc
chất phóng xạ rơi
Bức xạ trong vùng bị
nhiễm chất phóng xạ
1. Tổn thương đơn thuần
do tia gamma hoặc do kết
hợp tia gamma và dòng
nơtron
- Phản ứng phóng xạ cấp
- Tổn thương phóng xạ
cấp
- Tổn thương phóng xạ tối
cấp
- Tổn thương phóng xạ tại
chỗ
1. Tổn thương da do
bụi phóng xạ bám
vào da.

2.1 Phản ứng phóng xạ cấp
Là mức độ nhẹ nhất của tổn thương phóng xạ. Phản ứng phóng xạ cấp
xuất hiện khi bị chiếu ở liều 0,5 - 1,0 Gy. Đặc điểm là rối loạn chức năng trong
toàn cơ thể và giảm bạch cầu ở mức độ nhẹ. Tiên lượng bệnh luôn luôn tốt. Khả
năng lao động chiến đấu bảo đảm hoàn toàn.
2.2 Tổn thương phóng xạ cấp thể tủy xương (thể điển hình)
Khi bị chiếu ngoài toàn thân với liều 1 - 10 Gy trong cơ thể xuất hiện tổn
thương phóng xạ cấp. Tổn thương hệ tạo máu là nét đặc biệt của tổn thương
phóng xạ cấp, cho phép ta xác định nó như là "hội chứng tuỷ xương". Diễn biến
tổn thương phóng xạ cấp có thể chia làm 4 thời kỳ: thời kỳ phản ứng đầu tiên,
thời kỳ tiềm (hay khoẻ giả tạo), thời kỳ toàn phát, thời kỳ hồi phục (trong trường
hợp khỏi bệnh ).
2.2.1 Thời kỳ phản ứng đầu tiên
Ngay sau khi bị chiếu từ vài phút đến vài giờ xuất hiện các triệu chứng:
- Buồn nôn, nôn
- Mệt mỏi toàn thân
- Đau đầu, chóng mặt
- ăn không ngon
- Tăng nhiệt độ cơ thể.
- Trong máu tăng bạch cầu trung tính, số lượng lympho bắt đầu giảm.
Tuỳ theo liều chiếu thời kỳ này có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày.
Do những rối loạn kể trên ở liều chiếu 2 - 6 Gy làm mất sức lao động,
chiến đấu 50%. Số người bị chiếu ở liều trên 6 Gy con số này là 100%.
2.2.2 Thời kỳ tiềm (hay khoẻ giả tạo)
Sau thời kỳ phản ứng đầu tiên các triệu chứng ban đầu dần dần biến mất.
Tình trạng cơ thể khá dần lên. Bệnh nhân cảm thấy trong người dễ chịu. Thời kỳ
này chẩn đoán bệnh có thể nhờ các xét nghiệm trong đó có xét nghiệm máu.
Trong máu có những biến đổi rõ rệt: số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi
giảm, số lượng lympho tiếp tục giảm. Ngoài ra xuất hiện bạch cầu có nhân nhiều
nhánh, nhân tách ra nhiều mảnh, nhân teo, có hạt độc trong bạch cầu trung tính.

Biểu hiện: Tăng nhiệt độ cơ thể (đến 39 - 40
0
C), mệt mỏi toàn thân, đau
đầu, mệt mỏi,
Nguyên nhân: Do rối loạn trao đổi chất ở tế bào, một số lượng lớn tế bào
bị chết và tăng hoạt động của vi khuẩn trong cơ thể dẫn tới hội chứng nhiễm độc
toàn thân. Gan không có khả năng lọc hết số lượng chất độc có trong máu. Xuất
hiện độc tố trong máu là một trong những yếu tố gây rối loạn nặng thêm chức
năng của các hệ thống, cơ quan, ngăn cản quá trình hồi phục. Xuất hiện các chất
Pirogenan nội sinh và độc tố vi khuẩn dẫn tới làm tăng nhiệt độ cơ thể.
* Hội chứng chảy máu:
Biểu hiện: Xuất huyết và chảy máu ở nhiều nơi (đường tiêu hóa, đường
tiết niệu, dưới da, não, cơ tim, mạc treo, ). Các triệu chứng này xuất hiện
khoảng một tuần sau khi chiếu xạ, rõ nhất hội chứng này ở tuần thứ 2 và thứ 3.
Nguyên nhân: Có hội chứng này là do giảm tiểu cầu ở máu ngoại vi, tăng
tính thấm và giảm độ bền vững thành mạch, giảm chức năng hệ đông máu. Yếu
tố gây xuất huyết và chảy máu là tác động cơ học lên thành mạch trong quá trình
vận động của cơ thể.
3
* Hội chứng rối loạn tiêu hóa:
Biểu hiện: Chán ăn, nôn, đau bụng, đi lỏng thường xuyên kèm lẫn máu
trong phân.
Nguyên nhân: Tổn thương niêm mạc, các tổ chức lympho ruột, xuất huyết
ở niêm mạc ruột và mạc treo dẫn tới hình thành hội chứng rối loạn đường ruột.
Bệnh nhân gầy yếu do rối loạn quá trình hấp thu ở đường tiêu hoá cũng như mất
nước.
* Hội chứng rối loạn miễn dịch và biến chứng nhiễm khuẩn:
Biểu hiện: Viêm họng, viêm phổi, viêm ruột, xuất hiện ổ apxe, vết thương
lên mủ, nhiễm trùng máu,
Nguyên nhân: Giảm bạch cầu, hệ thống miễn dịch. Ở thời kỳ toàn phát, hệ

- Tổn thương phóng xạ cấp mức độ nhẹ: ĐT khỏi sau 1 - 1,5 tháng.
- Mức độ vừa: 2 - 2,5 tháng.
- Mức độ nặng 2,5 - 3 tháng.
Tổn thương phóng xạ cấp mức độ vừa và nhẹ được điều trị tốt thường
không gây tử vong, mức độ nặng có thể tử vong 50% bệnh nhân. Mức độ rất
nặng thì tử vong có thể tới 100%.
Tổn thương phóng xạ cấp do tác dụng của nơtron có một số đặc điểm:
những biểu hiện của thời kỳ phản ứng đầu tiên nặng hơn và thời kỳ tiềm ngắn
lại. Các hội chứng đường ruột, loạn dưỡng, suy nhược ở thời kỳ toàn phát trầm
trọng hơn. Trong khi đó các hội chứng về máu, chảy máu, rối loạn miễn dịch,
biến chứng nhiễm khuẩn biểu hiện ít hơn. Quá trình hồi phục chậm, thường để
lại những hậu quả gần và hậu quả lâu dài.
Có những nét đặc biệt trên là do bức xạ nơtron có khả năng ion hoá mạnh
hơn nhưng khả năng đâm xuyên kém hơn so với bức xạ gamma, do đó các cơ
quan và tổ chức bị tổn thương không đều nhau. Cơ quan và tổ chức nào của
phần cơ thể hướng về phía nguồn nơtron thì bị tổn thương nặng, còn phần đối
diện bị nhẹ hơn.
2.3. Tổn thương phóng xạ tối cấp
Đối với tổn thương phóng xạ tối cấp có những đặc điểm sau: tiến triển
bệnh nhanh, ngày càng nặng thêm, thời kỳ phản ứng đầu tiên xuất hiện sớm và
biểu hiện mạnh mẽ, hầu như không có thời kỳ tiềm, thời kỳ toàn phát diễn biến
rất nặng nề. Kết cục bệnh nhân tử vong.
Tuỳ theo liều chiếu tổn thương phóng xạ tối cấp gồm : thể ruột, thể nhiễm
độc và thể não.
2.3.1. Thể ruột ( Hội chứng đường tiêu hoá )
Diễn biến bệnh lý chủ yếu xảy ra ở đường tiêu hoá. Biểu hiện nôn không
ngừng, chán ăn, đi lỏng nặng, chảy máu đường tiêu hoá.
Khi bị chiếu với liều 15 - 20 Gy xuất hiện hội chứng khoang miệng: các
tổ chức lympho ở miệng, họng bị tổn thương nặng nề. Đau ở miệng, họng nên
bệnh nhân không thể ăn uống được làm cho bệnh lý càng trầm trọng hơn. Tổn

3. CHẨN ĐOÁN SỚM TỔN THƯƠNG PHÓNG XẠ
Hiện nay chẩn đoán sớm là dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp về điều kiện
bị chiếu, liều chiếu ( chỉ số đo liều cá nhân và liều sinh học ), xét nghiệm và
những biểu hiện sớm của tổn thương phóng xạ.
Để chẩn đoán kịp thời cần dựa vào những triệu chứng sớm của cơ thể sau
khi bị chiếu ở mức độ khác nhau.
Bảng 2: Những phản ứng sớm của tổn thương phóng xạ ở các mức độ khác nhau
Triệu chứng
Mức độ tổn thương phóng xạ
I II II IV
Dấu hiệu chính:
Nôn
Không hoặc
sau 3 giờ
Sau 0,5 - 3
giờ, nhiều
lần
Sau 0,5 - 3
giờ, nhiều
lần
Sau 10 - 30
phút liên tục
nhiều lần
Yếu toàn thân Không hoặc
nhẹ
Nhẹ Rõ rệt Rất yếu
Đau đầu Không hoặc
nhẹ
Nhẹ - liên
tục

dùng các thuốc kích thích thần kinh trung ương như phenilalkylamin và những
thuốc tương tự. Nếu có biểu hiện truỵ tim mạch thì dùng thuốc trợ tim, co mạch.
Phải có biện pháp chống mất nước và chất điện giải khi nôn nhiều.
4.2 Điều trị tổn thương cơ quan tạo máu
Cơ sở của việc điều trị tổn thương cơ quan tạo máu là truyền máu với mục
tiêu duy trì thành phần tế bào máu ở ngoại vi gần với bình thường cho tới khi
phục hồi sự tạo máu của chính cơ thể. ở liều thấp hơn liều chết tuyệt đối để đảm
bảo điều đó cần truyền đủ số máu và các thành phần riêng rẽ của máu.
Tăng quá trình hồi phục cơ quan tạo máu bằng cách sử dụng các thuốc có
chứa sắt, các loại vitamin, các thuốc tham gia trao đổi chất.
4.3 Điều trị hội chứng chảy máu
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới chảy máu trong bệnh phóng xạ là tăng tính
thấm thành mạch và giảm tiểu cầu trong máu ngoại vi. Vì vậy điều trị hội chứng
này nhằm vào tăng độ bền vững thành mạch và tăng tiểu cầu trong máu bằng
cách truyền dung dịch tiểu cầu, dùng các loại vitamin và các thuốc ức chế
Phibrinoliza. Khi có chảy máu các niêm mạc ngoài thì sử dụng phương tiện cầm
máu tại chỗ.
7
4.4 Điều trị hội chứng đường ruột
Điều trị hội chứng đường ruột cần phải phục hồi chức năng, hình thái
niêm mạc ruột và ổn định vi khuẩn đường ruột. Để tạo điều kiện phục hồi niêm
mạc ruột dùng chế độ ăn kiêng (về cơ học và hoá học). Trong trường hợp nặng
thỉnh thoảng chuyển sang nuôi dưỡng bằng đường truyền tĩnh mạch. Để kích
thích sự tái tạo tổ chức ở niêm mạc ruột, dùng các thuốc tăng phục hồi tổn
thương và ổn định trao đổi chất bên trong tế bào. Dùng thuốc kháng sinh để diệt
khuẩn. Phải có biện pháp chống mất nước và chất điện giải.
4.5 Phòng và điều trị biến chứng nhiễm khuẩn
Chống biến chứng nhiễm khuẩn trong tổn thương phóng xạ dựa trên hai
hướng chính: tác dụng lên vi khuẩn và tăng đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Cần
phải giữ bệnh nhân ở điều kiện vô khuẩn và dùng thuốc kháng sinh. Khi đã có

2. Các giai đoạn tổn thương phóng xạ cấp thể tủy xương? Phân tích các hội
chứng thời kỳ toàn phát?
3. Trình bày cách chẩn đoán và nguyên tắc điều trị tổn thương phóng xạ
cấp?
Tài liệu tham khảo:
* Tài liệu chính:
Độc học và phóng xạ quân sự. NXB Quân đội nhân dân, 2003.
* Tài liệu tham khảo khác:
- Tổn thương do vũ khí hoá học, vũ khí hạt nhân và biện pháp phòng
chống. Học viện quân y; 1993.
- Tổn thương do vũ khí hoá học và biện pháp phòng chống. Học viện
quân y; 1978.
- Tổn thương do vũ khí hạt nhân và biện pháp phòng chống. Học viện
quân y; 1981.
Ngày 06 tháng 8 năm 2010
Người biên soạn
PGS.TS Hoàng Công Minh
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status