Khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng thuật ngữ 'vấn đề dân tộc' - Pdf 13

Viện Dân tộc

Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện chuyên đề:

Khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng
thuật ngữ "vấn đề dân tộc" Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Nhiên

8623

Hà nội - 2010

hiện nay với rất nhiều vấn đề được đặt ra đối với sự phát triển của các dân tộc
thiểu số.
2. Mục tiêu
2

Thông qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn nội dung của vấn đề dân tộc
nói chung và của Việt Nam nói riêng đưa ra được nội hàm của vấn đề dân tộc là
gì và cách sử dụng thuật ngữ vấn đề dân tộc trong từng trường hợp cụ thể.
3. Phạm vi
Chuyên đề tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò, nội dung và ý nghĩa của
vấn đề dân tộc trong quá trình phát triển trong các giai đoạn từ năm 1946 trở lạ
i
đây
4. Đối tượng nghiên cứu
- Các khái niệm, quan niệm về dân tộc, vấn đề dân tộc theo quan điểm
của Mác – lê Nin; của Hồ Chí Minh và trong các văn kiện đại hội, nghị quyết,
chỉ thị, chiến lược phát triển kinh tế xã hội…
- Nội dung của vấn đề dân tộc trong các giai đoạn lịch sử từ 1946 trở lại
đây
5. Nội dung
Chuyên đề tập trung nghiên cứu m
ột số nội dung chính:
- Khái niệm, quan niệm, vị trí, vai trò của dân tộc, vấn đề dân tộc trong
tiến trình phát triển của đất nước từ năm 1946 trở lại đây.
- Vấn đề dân tộc trong mối quan hệ chung của phát triển kinh tế, xã hội,
văn hoá, an ninh, quốc phòng…
- Đưa ra nhận xét về cách sử dụng thuật ngữ “vấn đề dân tộc” hiện nay;
- Những kiến nghị cho việc sử
dụng thuật ngữ “vấn đề dân tộc” cho đúng
và chính xác trong từng trường hợp.

trung ương 7 khóa IX
2. Một số vấn
đề cần quan tâm về vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay
2.1. Về quan điểm
4

2.2. Về kinh tế - xã hội
2.3. Về An ninh – Quốc phòng
2.4. Về Văn hóa
2.5. Về Môi trường
2.5.Vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác dân tộc
2.6. Hệ thống chính trị cơ sở
III. Một số vấn đề khi sử dụng thuật ngữ “Vấn đề dân tộc”
1. Đề xuất việc sử dụng khái niệm thuật ngữ “vấn đề dân tộc”
2. Kiến nghị
8. Kinh phí thực hiệ
n chuyên đề
3.000.000đ (Ba triệu đồng chẵn – Kinh phí nghiên cứu khoa học cấp Viện
năm 2010)
kinh tế và tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”
Theo quan niệm dân tộc theo Stalin như vậy thì có thể thấy rằng khi nói
về dân tộc cần có các điểm cần phải chú ý đó là: Thứ nhất, dân tộc chỉ có thể
hình thành được khi nó bao gồm đủ 4 đặc trưng có thể nói trên. Thứ hai, dân
tộc được hình thành trong thời đại tư bản chủ nghĩa. Nếu đúng như định nghĩa

1
PGS,TS. Lê Ngọc Thắng, Một số vấn đề về dân tộc và phát triển, tr15, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005
6

trên thì một số dân tộc trên thế giới như Do Thái không phải là một dân tộc, vì
không có cộng đồng lãnh thổ và kinh tế, vì trước đây họ rải rác khắp nơi trên thế
giới. Nhưng trên thực tế họ là một dân tộc. Cũng như vậy, chiếu theo định nghĩa
của Stalin thì ở nước ta, hoàn cảnh các dân tộc cư trú xen kẽ và phân tán cao độ
thì danh mục các dân tộc nước ta làm sao lên đến con số 54.
Và hạn chế
của định nghĩa của Stalin về dân tộc đó là Stalin không đề cập
đến những đặc điểm khác của dân tộc như quan hệ chính trị, nhà nước dân tộc,
luật pháp, lợi ích. Ông cũng cho rằng dân tộc là một phạm trù lịch sử gắn liền
với chủ nghĩa tư bản đang lên, còn trước khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện không
thể có dân tộc. Đây đượ
c xem là một quan niệm phi lịch sử, không đúng với
thực tế lịch sử.
Đối với Việt Nam trong khi giới khoa học còn bị ràng buộc bởi định
nghĩa của Stalin về dân tộc thì năm 1946 đồng chí Lê Duẩn đã đưa ra quan
điểm cho rằng ở Việt Nam dân tộc được hình thành từ khi lập nước chứ không
phải khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam.
Vậy n
ội hàm cụ thể của thuật ngữ dân tộc là gì? Đã có rất nhiều ý kiến
khác nhau và hiện nay nhiều người cho rằng, tộc người (dân tộc) là một nhóm

bàn luận tiếp. Cũng như vậy, vấn đề dân tộc cũng luôn gắn liền với tiền trình
lịch sử, ở mỗi thời kỳ thì vấn đề dân tộc được đặ
t ra với những nội dung khác
nhau đáp ứng với từng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia.
2.1. Theo quan điểm của Mác – Lênin
Vấn đề dân tộc bao giờ cũng được nhận thức và giải quyết theo lập
trường của một giai cấp nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin
chỉ trên lập trường của giai cấp vô sản, cách mạng vô sản mới giải quyế
t đúng
đắn vấn đề dân tộc. Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, Mác-Ăngghen đã đề cập
mối quan hệ dân tộc và giai cấp: cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ
ách thống trị của giai cấp tư sản, ở giai đoạn đầu của nó là mang tính chất dân
tộc. Mác kêu gọi “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính
quyền, phải t
ự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành giai cấp
dân tộc, không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”. Cũng theo Mác –
Ăngghen, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi ích dân tộc- lợi ích của

2
GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Chủ biên, “Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay “, NXB Chính trị Quốc gia, tr35
8

mình với các lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Chỉ có xoá bỏ áp
bức, bóc lột giai cấp thì mới xoá bỏ áp bức dân tộc, đem lại độc lập thật sự cho
dân tộc mình và cho dân tộc khác.
GS,TS. Hoàng Chí Bảo đã đúc kết lại những luận điểm cơ bản của Mác
và Ăng ghen về vấn đề dân tộc như sau
3
:

vấn đề dân tộc chỉ là thứ yếu so với vấn đề giai cấp.
Thời đại Lênin, khi chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới,
cách mạng giải phóng dân tộc trở thành bộ phận c
ủa cách mạng vô sản, Lênin
mới phát triển vấn đề dân tộc thành học thuyết về cách mạng thuộc địa. Lênin
cho rằng cách mạng vô sản ở chính quốc không thể giành thắng lợi nếu không
liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Khẩu hiệu
của Mác được bổ sung: “vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết
lại.” Lênin đã th
ực sự “đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng
trong các nước thuộc địa.” Lênin đã chọn lọc, kế thừa, bổ sung những quan
niệm nêu trên của Mác và Ăngghen, phát triển thành những quan niệm mang
tính hệ thống của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc,
công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc trong những điều kiện lị
ch
sử mới Trong các tác phẩm của mình Lênin đã luận chứng một cách khoa học
cho những luận điểm có tính chất cương lĩnh của Đảng mác xít về vấn đề dân
tộc, về quyền bình đẳng của các dân tộc và về quyền tự quyết của các dân tộc
thiểu số; về quyền tự quyết của các dân tộc, kể cả quyền phân lập về mặt nhà
nướ
c; về ngôn ngữ và quyền bình đẳng về ngôn ngữ
Vấn đề dân tộc được Lênin đề cập tới với những giác độ như: bình đẳng
dân tộc thể hiện ở bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; quyền dân tộc
tự quyết thể hiện ở quyền phân lập và thành lập quốc gia riêng biệt nhưng cũng
khẳng định rằng, quyền tự quyết hoàn toàn không có ngh
ĩa là nhất thiết phải
tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện.
Theo quan điểm của Lênin thì đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân
tộc chính là điều kiện giải quyết tốt các quan hệ dân tộc, thực hiện quyền bình
đẳng và quyền dân tộc tự quyết trên thực tế.

phải cương quyết giành cho được độc l
ập.”
Độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân – tư tưởng đó của Hồ Chí Minh
đã trở thành mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó được
11

quán triệt trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam và nó được thể hiện nổi
bật trong các thời điểm có tính bước ngoặt lịch sử.
Năm 1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng
không quân và hải quân, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5
năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việ
t Nam quyết không sợ!
Không có gì quý hơn độc lập tự do.”
Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của
đồng bào là lẽ sống của mình. Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con
người và độc lập là điều kiện tiên quyết để mang lại hạnh phúc cho mọi người
dân của đất nước mình. Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều ki
ện để dân tộc
Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới và các
dân tộc trong nước ta được chung sống bên nhau một cách bình đẳng, hoà thuận
và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Thứ hai, sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội, xoá
bỏ nghèo nàn và lạc hậ
u, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi
người, mọi dân tộc.
Giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở
cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp
cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi có độc lập,

nặng nề nên Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân
đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc,
già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần
được xoá bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần
ngày càng tốt, đó là chủ ngh
ĩa xã hội.”
Thứ ba, phải thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh luôn luôn đấu tranh phê phán những biểu hiện tư tưởng dân
tộc lớn, xem thường dân tộc nhỏ hoặc dân tộc hẹp hòi, cục bộ, tự ti dân tộc.
Khẳng định công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc
đa số trên
đất nước ta. Người nói “Các dân tộc xóa bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến
13

gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ
Bên cạnh việc lên án thủ đoạn đê hèn của bọn thực dân, phong kiến dùng
chính sách “chia để trị” nhằm chia rẽ các dân tộc Việt Nam và để kìm hãm các
dân tộc trong vòng nghèo nàn và dốt nát, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính ưu việt của
chế độ mới để nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề
dân tộc ở Việt Nam: “Chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: Các dân tộc đều bình đẳng và phải
đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi
phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt.”
Hồ Chí Minh chẳng những là người quan tâm đến đoàn kết dân tộc, mà
chính Người là hiện thân của sự đoàn kết đó, là người trực ti
ếp tổ chức khối đại
đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện gây chia rẽ,
hiềm khích, kỳ thị dân tộc để thực hiện tình đoàn kết trong đại gia đình các dân

“Người Pháp ở Pháp đối với ta rất thân thiện, thì người Việt ở Việt đối
với người Pháp cũng nên thân thiện. Đối với quân đội Pháp ta ph
ải lịch sự. Đối
với kiều dân Pháp ta phải ôn hoà. Để tỏ cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc
văn minh. Để cho số người Pháp ủng hộ ta càng thêm đông, sức ủng hộ càng
thêm mạnh. Để cho những kẻ thù khiêu khích muốn chia rẽ, không có thể và
không có cớ mà chia rẽ. Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng ta
chóng thành công.”
Đối với người Hoa sống ở Việt Nam, Hồ Chí Minh c
ũng thể hiện quan
điểm trước sau như một là đoàn kết, thân thiện và bảo vệ tài sản, tính mạng
cũng như quyền làm ăn chính đáng của họ trên đất nước Việt Nam, như công
dân Việt Nam. Theo Người, chẳng phải hôm qua hôm nay người Hoa kiều mới
đến Đông Dương. Họ đã ở đây, họ đã luôn giữ một địa vị rất quan trọng trong
đời số
ng kinh tế của Đông Dương. Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung
đột giữa người Việt Nam với người Hoa trên đất nước Việt Nam.
Xuất phát từ quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc và hai nước anh em, trong
thư, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước
ta đối với bà con Hoa Kiều đang làm ăn, sinh sống ở Việt Nam: “Chính phủ
nhân dân lâm thời Vi
ệt Nam đã lập tức tuyên bố xoá bỏ mọi luật pháp của Pháp
trước đây áp đặt lên Hoa kiều, xác định chính sách cơ bản là bảo đảm tự do,
15

hoan nghênh Hoa kiều cùng nhân dân Việt Nam chung sức xây dựng nước Việt
Nam mới.
Mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì
giải quyết với nhau theo nguyên tắc hợp pháp lý với thái độ kính trọng nhường
nhịn lẫn nhau, không được vì những việc tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây

hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm cho Đảng ta giải quyết thắng
lợi vấn đề dân tộc trong một quốc gia Việt Nam đa dân tộc.
3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
Chặng đường lịch sử hơn 70 năm qua kể từ ngày ra đời đến nay, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin và nhữ
ng quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và giải
quyết vấn đề dân tộc đề ra chính sách dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt
Nam. Chính sách đó vừa phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt
Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tiến bộ của nhân loại, nên nó đã được
cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam đón nhận với niềm ph
ấn khởi và đầy tin tưởng,
cũng bởi lẽ đó mà cách mạng Việt Nam có được sức mạnh to lớn để hoàn thành
thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Trước khi đi sâu về quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộ
c
tôi xin trích tham luận của đồng chí Cư Hòa Vần tại đại hội đại biểu lần thứ X
của Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: "Có thể khẳng định rằng chỉ có Đảng
Cộng sản Việt Nam mới là người đem đến cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
quyền chí bình đẳng như ngày nay. Các dân tộc trong cộng đồng đại gia đình
các dân tộc Việt Nam từ chỗ
bị áp bức, bóc lột dưới sự đô hộ của thực dân đế
quốc đã trở thành những thành viên làm chủ đất nước Việt Nam độc lập thống
nhất. Khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường mạnh mẽ hơn bất
cứ lúc nào. Đồng bào các dân tộc đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Bác Hồ và
Đảng Cộng sản Việ
t Nam, mãi mãi theo lời dạy của Bác Hồ là "dân tộc Việt
Nam là một, đất nước Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song
chân lý đó không bao giờ thay đổi", " Đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Dao,

n đề dân tộc có vị trí chiến lược của cách mạng trên nền tảng tư
tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc.Trong từng giai đoạn cách mạng, vấn đề dân tộc được nhận thức và giải
quyết theo các quan điểm cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra. Từ Đại
hội I đến Đại hội l
ần thứ X của Đảng, vấn đề dân tộc luôn được quan tâm và
không thể thiếu trong định hướng quan điểm, đường lối giải quyết vấn đề dân
tộc.

4
Tham luận của đồng chí Cư Hòa Vần đại biểu Đảng bộ khối 1 các cơ quan Trung ương, tại Đại hội
đại biểu lần thứ 9 Đảng Cộng sản Việt Nam
18

Đại hôi I (tháng 3 năm 1935), Đảng đã thông qua nghị quyết về công tác
dân tộc thiểu số. Nghị quyết đã "xác định “cho các dân tộc thiểu số được quyền
tự quyết” và “lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất
lớn”; chống địa phương chủ nghĩa, chống miệt thị dân tộc mà không thấu rõ tinh
thần quốc tế…. Nghị quyết cũ
ng đề ra cho Trung ương và các xứ ủy (trong
những tỉnh có dân tộc thiểu số) phải cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu
và chỉ đạo công tác vận động các dân tộc thiểu số. Chính những yếu tố nêu trên
của sự đoàn kết toàn bộ các dân tộc đã góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi
của cách mạng tháng 8 năm 1945 lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Đến đại hội II c
ủa Đảng năm 1951 đã nêu rõ : “Các dân tộc sống trên đất
Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để
kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành
động gây hận thù, chia rẽ các dân tộc. Giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến bộ về
mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”. Cụ thể hóa Ngh

tộc, nhất là ở vùng cao, vùng biên giới”
7

Đại hội VI là đại hội của việc khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện,
bắt đầu đổi mới trong tư duy, đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Trong đó vấn đề dân tộc
cũng được đề ra theo tinh thần đổi mới với những quan điể
m “Sự tăng cường
tính cồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng,
tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong
bản sắc của mỗi dân tộc. Tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài
và là một lĩnh vực nhạy cảm. Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có
thái độ trân trọng đối với những gì liên quan đến lợ
i ích của mỗi dân tộc, tỉnh
cảm dân tộc của mỗi người. Chống thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân
tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi”
8
. Đồng thời đại hội
VI cũng đã đưa ra những nội dung của chính sách dân tộc đó là phát triển kinh
tế, xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy
đủ chính sách dân tộc, phát triển tốt mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc
trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể; kết hợp
phát tri
ển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống
con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ.

6
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.605
7
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982, t.I, tr.133

sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng
lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
10

Đại hội X (4/2006): “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí
chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia
đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

9
Đảng Cộng sản Việt nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb.Sự
thật, Hà Nội, 1991, tr.16
10
Đảng Cộng sản Việt nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb.Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.13

21

cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh
tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình
độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền
thống tốt đẹp của các dân tộc…”
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VẤN ĐỀ DÂN T
ỘC TRONG TIẾN
TRÌNH PHÁT TRIỂN CUẢ ĐẤT NƯỚC TỪ NĂM 1946 TRỞ LẠI ĐÂY
1. Nhận thức hệ quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc trong nghị
Quyết trung ương 7 khóa IX
Sở dĩ chuyên đề muốn đề cập sâu về nghị Quyết trung ương 7 Khóa IX về
vấn đề dân tộc bởi lẽ đây được xem là nghị quyết mà hệ quan điểm c
ủa Đảng

toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống
chính trị.
2. Một số v
ấn đề cần quan tâm về vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay
Qua những phân tích trên có thể đưa ra một số vấn đề cần quan tâm khi
giải quyết vấn đề dân tộc trong quốc gia đa dân tộc như nước ta hiện nay.
2.1. Về quan điểm
Lấy quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc là tư tưởng chủ
đạo xuyên suốt khi xem xét, đề ra các giải pháp
mang tính chiến lược đối với vấn đề dân tộc ở nước ta trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng”, phải luôn “lấy dân làm gốc” trong mọi hoạt động, với phương
châm “dân biết, dân làm, dân kiểm tra”; thực hiện chính sách “an dân”; mỗi
công trình, mỗi việc làm đều phải thực sự xu
ất phát từ quan điểm “do dân, vì
dân”, vì sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, củng cố quốc phòng-an
ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, giải quyết vấn đề dân tộc, trên thực tế, không dừng lại ở những
vấn đề chung, ở bình diện vĩ mô mà còn phải đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể ở
cơ sở, ở bình diện vi mô củ
a nó, đó là đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu
23

số tại các thôn làng, ấp bản, phum sóc trên tất cả các vùng, miền, địa phương
trong cả nước.
2.2. Phát triển kinh tế - xã hội
Đối với tình hình hiện nay thì giải quyết nhiệm vụ cấp bách, bức xúc
trước mắt trong lĩnh vực kinh tế, đồng thời có chương trình, kế hoạch lâu dài
phát triển kinh tế vùng và miền núi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế -

hoá – xã hội còn nhiều hạn chế.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống
đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn.
Cần giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như tình trạng thiếu lương
thực, thi
ếu nước sinh hoạt, xóa nhà tạm bợ, tư liệu sinh hoạt và tư liệu sản xuất,
giải quyết cơ bản cơ sở hạ tầng cho đồng bào (giao thông, điện sinh hoạt)
Giải quyết tốt tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tình trạng tranh chấp
đất đai. Vấn đề về đất đai được xem là một trong những vấn đề nổi cộ
m nhất đã
trực tiếp gây ra những điểm nóng chính trị - xã hội trong thời gian vừa qua. Bản
thân mục đích của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là đúng
đắn, nhưng khi thực hiện, chúng ta thiếu triển khai cụ thể, không tính đến thực
tế khách quan, có phần nóng vội, đơn giản, vì vậy có những biểu hiện áp đặt đối
với đồng bào các dân tộc. Do vậy, chúng ta đã không nắm b
ắt được chính xác
những xu hướng phát triển của vùng dân tộc và miền núi, không ứng phó kịp
thời với những diễn biến xảy ra, vẫn tiếp tục đầu tư tiền của vào vùng này như
thời bao cấp, nhưng thực tế sự đầu tư đó đã không đem lại hiệu qủa như mong
muốn. Cụ thế, vùng miền núi phía Bắc đã mất rừng, mất đấ
t canh tác, không
thực hiện được việc định cư, di dân ồ ạt vào khu vực Tây Nguyên, và lại gây
nên hiện tượng cuộc sống của đồng bào ở khu vực Tây Nguyên bị đảo lộn. Cần
nhìn nhận lại rằng, chính những sai sót và sơ hở trong chính sách và pháp luật
về đất đai đã dẫn đến những tranh chấp căng thẳng và gay gắt, là nguyên nhân
phát sinh mâu thuẫn dân tộc. Do đó, cần có quy hoạch, bố trí, sắp xế
p lại dân
cư, giải quyết tốt vấn đề du canh du cư và di cư tự do theo mục tiêu của các
chương trình, chính sách đề ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status