ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHOA: KINH TẾ
Bài tiểu luận nhóm 10:
NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỰC
TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TRONG DNNN
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2009.
2
THÀNH VIÊN NHÓM 6
:
1:
2:
3:
4:
5:
THÀNH VIÊN NHÓM 10:
1:
2:
3:
4:
5:
MỤC LỤC
Chương I : cơ sở lý luận
I. Vốn và nguồn vốn trong doanh nghiệp
1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn
2. Bản chất, vai trò của của nguồn vốn
3. Nguồn vốn trong doanh nghiệp
3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu
3.2 Nguồn vốn nợ
II – doanh nghiệp Nhà nước
doanh nghiệp là sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, làm thế nào huy động nguồn
ngân quỹ với chi phí thấp và phương tiện thanh toán nhanh nhất….Vấn đề này
đối với các doanh nghiệp nhà nước lại càng khó khăn hơn khi mà việc huy động
và sử dụng vốn vẫn mang tính bao cấp. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển
xứng đáng với vai trò đầu tàu của nền kinh tế, các DNNN phải sử dụng hợp lí
nguồn lực sẵn có, cải tiến máy móc thiết bị để không ngừng nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành….Và trên hết là việc huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, nhóm sinh viên đầu tư xin nghiên cứu
đề tài:
“ Nguồn vốn của trong doanh nghiệp và thực trạng sử dụng vốn đầu tư phát
triển trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay”.
4
Chương I : CỞ SỞ LÝ LUẬN
I. Vốn và nguồn vốn trong doanh nghiệp
1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn
Vốn(C) là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.
Các nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động
và tất cả các tài sản vật chất khác.
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới
dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu
tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội.
2. Bản chất, vai trò của của nguồn vốn đầu tư
2.1. Bản chất của nguồn vốn
Xét về bản chất ,nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay
tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất
xã hội .Điều này được kinh tế học cổ điển ,kinh tế học chính trị Mac –Lênin và
khu vực.
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của Mác, con
đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản
xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và trong tiêu dùng. Hay nói cách
khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự
gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được nhà kinh tế
học hiện đại chứng minh. John Maynard keynes đã chứng minh được rằng: Đầu
tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông
cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng,
tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
vậy Đầu tư = Tiết kiệm
Hay: I = S
Theo Keynes, sự cân bằng trên xuất phát từ mối quan hệ của các giao dịch
giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là người tiêu dùng.
6
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng.
Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân
và tiết kiệm của chính phủ.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế
không phải bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn
hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước
khác để thực hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể ít hơn
nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong
trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài
khoản vãng lai CA = S – I
CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội bộ
Yêu cầu khách quan của tích luỹ vốn đã được Mac khẳng định do những
nguyên nhân sau :”Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa thì quy mô tối thiểu mà một tư bản cá biệt phải có để có thể kinh doanh
trong điều kiện bình thường cũng tăng lên.”
Từ đó Mac khẳng định :” Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản nếu muốn
duy trì tư bản củ mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng thêm mẫi lên và
không thể nào tiếp tục làm cho tư bản đó ngày càng tăng lên được nếu không có
sự tích luỹ ngày càng nhiều thêm”. Mac còn chỉ ra rằng những nhân tố quy định
quy mô của tích luỹ : khối lượng giá trị thặng dư (lơị nhuận) năng suất lao động
xã hội và quy mô vốn ban đầu (lượng tư bản ứng trước)
Như vậy, cùng với lao động, vốn (tư bản) là một trong các yếu tố đầu vào
sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ.Công nghệ sản xuất hiện có quyết định mức sản
lượng được sản xuất ra từ một lượng tư bản và lao động nhất định. Hàm này cho
biết các nhân tố sản xuất quyết định mức sản lượng được sản xuất ra như thế
nào. Nếu kí hiệu Y là sản lượng thì ta có hàm sản xuất như sau:
Y = F(K,L)
Phương trình này nói rằng sản lượng là một hàm của khối lượng tư bản và
lao động. Tức là hàng hoá, dịch vụ được tạo ra phu thuộc vào lượng tư bản sẵn
có. Nhiều tư bản cho phép sản xuất nhiều sản phẩm hơn.
* Vốn là yếu tố quan trọng đồi với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế
• Trên thị trường vốn
Ta có đẳng nhất thức nền kinh tế quốc dân như sau:
8
Y – C – G = I
Dưới hình thức này, đồng nhất thức của tài khoản kinh tế quốc dân phản
ánh tiết kiệm bằng đầu tư. Chúng ta có thể tách tiết kiệm quốc dân thành hai
phần, nhằm phân biệt tiết kiệm của hộ gia đình và tiết kiệm của chính phủ:
(Y-C-T)+(T-G)=I
Trong đó T là thuế
Biểu thức (Y-C-T) là tiết kiệm tư nhân.
Mửc tăng GDP =
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.
3. Nguồn vốn trong doanh nghiệp
1. Nguồn vốn chủ sở hữu
a. Vốn ban đầu:
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có
một số vốn ban đầu nhất định, do các cổ đông_ chủ sở hữu góp. Khi nói đến
nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức
sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình
thức tạo vốn của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của
nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước chính là nhà nước. Hiện
nay, cơ chế quản lí tài chính nói chung và quản lí vốn của doanh nghiệp nhà
nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.
Đối với doanh nghiệp. Chẳng hạn với công ty cổ phần, vốn do các cổ
đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi một cổ đông
đóng góp là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên
giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số
dạng tương đối khác nhau do đó, cách thức huy động vốn của các công ty này
cũng khác nhau.
10
b. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái
đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. giúp doanh nghiệp giảm
đước chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài.
Để có được lợi nhuận để lại thì trước tiên doanh nghiệp phải đang hoạt
động, có lợi nhuận và được phép tiếp tục đầu tư. Đối với doanh nghiệp nhà nước
việc tái đầu tư còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của nhà nước.
Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố
3.1. Nguồn vốn nợ:
a) Phát hành trái phiếu công ty.
Đối với các công ty nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn thì không được phép phát hành cổ phiếu mà chỉ có thể phát hnàh trái
phiếu. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
• Phân loại:
Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụng
nhiều nhất, phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi xuất được
ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó. Tính
hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào những yếu tố sau:
Lãi suất của trái phiếu.
Kỳ hạn của trái phiếu.
Uy tín của doanh nghiệp.
Trái phiếu có lãi suất thay đổi: thực ra lãi suất của loại trái phiếu này phụ
thuộc vào nguồn lãi suất quan trọng khác. Trong điều kiện có mức lạm phát khá
cao và lãi suất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu
việt của loại trái phiếu này. Tuy nhiên loại trái phiếu này có một vài nhược điểm
là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều
này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính; việc quản lý trái
phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo điều
chỉnh lãi suất.
Trái phiếu có thể thu hồi: tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời
gian nào đó. Loại trái phiếu này phải được quy định ngay từ đầu để khách hàng
12
biết. Loại trái phiếu này có những ưu điểm như: có thể sử dụng như một cách
điều chỉnh lượng vốn sử dụng, khi không cần thiết doanh nghiệp có thể mua lại
các trái phiếu đó và thay bằng nguồn tài chính khác.
Chứng khoán có thể chuyển đổi: cho phép doanh nghiệp, người đầu tư có
thể lựa chọn cách đầu tư có lợi và thích hợp. Có một số hình thức chuyển đổi
chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có
bảo đảm tín dụng, phổ biến nhất là bằng tài sản thế chấp.
3. Sự kiểm soát của ngân hàng: không gây ra vấn đề gì quá lớn cho
doanh nghiệp, tuy nhiên trong một số trường hợp điều đó cũng làm
cho DN có cảm giác bị kiểm soát.
4. Lãi suất vốn vay: Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải
gánh chịu chi phí vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.
Sử dụng vốn vay phải đảm bảo hợp lí, đúng mục đích, quản lí sử
dụng đúng quỹ tiền mặt, kì trả nợ và kì thu tiền, kế hoạch sản xuất
kinh doanh phải được bám sát thực tế…. nếu không vốn vay sẽ trở
thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp.
c. Nguồn vốn tín dụng thương mại
Tín do dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được
biểu hiện dưới các hình thức mua bán chịu hàng hoá. Tín dụng thương mại xuất
hiện là do sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng. Do đặc tính thời vụ trong sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm khiến các doanh nghiệp phải mua bán chịu hàng hóa. .
Hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn
của các doanh nghiệp tạm thời thiếu, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu
thụ được hàng hoá của mình. Mặt khác, sự tồn tại của hình thức tín dụng này
giúp cho các doanh nghiệp khai thác được vốn nhằm đáp ứng kịp thời hoạt động
sản xuất kinh doanh.
● Hạn chế
Hạn chế về quy mô tín dụng: Tín dụng thương mại là do các doanh nghiệp
cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ. Nếu người đi
vay có nhu cầu cao hơn thì người cho vay không thể đáp ứng đươc.
Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kì sản xuất của
các doanh nghiệp có thể không phù hợp với nhau, vì vậy mà khi thời hạn
14
mà người cho vay muốn cung cấp và người đi vay có nhu cầu không phù
hợp nhau thì tín dụng này không thể xảy ra.
Thứ nhất: Số lượng nhiều ,dàn trải, trong khi quy mô vốn không lớn,
công nghệ lạc hậu .
Thứ hai: Chưa giải quyết tốt vấn đề sở hữu, đại diện sở hữu nhà nước
trong doanh nghiệp, cơ chế quản lí của cơ quan nhà nước đối với hoạt
động trong doanh nghiệp chậm đổi mới .
Bên cạnh đó , tình trạng kém năng động , trông chờ ỷ lại Nhà nước là
nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém hiệu quả trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của DNNN.
2. Vốn đầu tư phát triển trong DNNN
2.1 . Khái niệm
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những
16
tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kỹ năng …),
gia tăng năng lực sản xuất, tạo việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Từ đó có thể nêu ra khái niệm về đầu tư phát triển của DNNN như sau:
Đầu tư phát triển của DNNN là hoạt động chi dùng vốn cùng các nguồn lực
khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản ( tài sản
vật chất hữu hình và tài sản vô hình ) của DNNN, tạo thêm việc làm và nâng cao
đời sống của mỗi thành viên trong đơn vị.
2.2 . Nội dung của vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Tùy vào các cách thức đánh giá khác nhau mà ta có thể phân loại vốn đầu
tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước thành các dạng sau:
2.2.1 Theo mục đích sử dụng
a. Vốn đầu tư cơ bản của là số vốn đầu tư để tạo ra tài sản cố định. Nó bao gồm
vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ. Vốn đầu tư
xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với
nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng
lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế.
Về thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí
đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực;
2.2.2 Theo nguồn gốc sở hữu về vốn
a. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước hình thành cơ bản hình
thành từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên đó không phải là nguồn vốn chủ sở hữu
duy nhất trong doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao gồm vốn góp liên doanh,
liên kết đóng góp cổ phần của nhiều thành phần kinh tế khác.
b. Vốn nợ
Vốn nợ của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ việc phát hành trái
phiếu doanh nghiệp và từ vay tín dụng thương mại. Về cơ bản nguồn gốc huy
động vốn của doanh nghiệp nhà nước không có nhiều khác biệt với doanh
nghiệp không thuộc nhà nước, nhưng doanh nghiệp nhà nước có những lợi thế
nhất định về khả năng huy động cũng như những lợi thế về thủ tục trong huy
động vốn nợ.
18
Chương II. Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng
vốn của DNNN Việt Nam hiện nay.
I. Theo mục đích sử dụng.
1. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là một phần rất quan trọng trong chiến lược kinh
doanh và phát triển của doanh nghiệp vì vậy 1 phần lớn vốn đầu tư của doanh
nghiệp nhà nước được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ bản. Cụ thể từ năm
2001đến năm 2005 tổng lượng vốn sử dụng trên 85600 tỷ đồng, bình quân hàng
năm bằng 125%, riêng năm 2006 đạt trên 30000 tỷ đồng bằng 137,8% so với
năm 2005.
2. Vốn lưu động bổ sung
Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 lượng hàng tồn trữ tại các
doanh nghiệp nhà nước là tương đối lớn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn
vốn của doanh nghiệp khoảng từ 20% đến 25% và đang có su hướng giảm đần
qua các năm . Đây là một tín hiệu tốt, nó thể hiện tình hình sản xuất kinh doanh
Việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác đang dần trở thành 1
su hướng mới trong chiến lược phát triển của các doanh nghiệp nhà nước. Hiện
nay 1 bộ phận lớn các doanh nghiệp thực hiện liên doanh liên kết tạo thành
những tập đoàn lớn mạnh như tập đoàn Bảo Việt, Tập đoàn pertronimex V.V…
Ngoài ra 1 xu hướng khác đang hình thành và ngày càng phát triển mạnh
mẽ đó là đầu tư ra nước ngoài. Đây là một hướng đi mới là một tín hiệu tốt cho
nền kinh tế Việt Nam, nó khẳng định các doanh nghiệp nhà nước đang ngày
càng lớn mạnh đủ tiềm lực kinh tế để kinh doanh ở những thị trường mới, không
chỉ quẩn quanh ở “ao làng” nữa.
II. Theo nguồn gốc sở hữu vốn
1 Thực trạng huy động vốn chủ sở hữu ở các doanh nghiệp nhà nước hiện
nay.
a)Vốn ngân sách nhà nước
Đây là nguồn vốn lớn và chiếm tỷ trọng thường xuyên của doanh nghiệp
nhà nước. Có nguồn vốn ngân sách vừa là một thế mạnh nhưng cũng tạo không
ít hạn chế trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp
20
Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN) vì là người cấp vốn đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung cho doanh
nghiệp. Như vậy, cho dù theo quy định của pháp luật, DNNN có quyền sử dụng,
định đoạt vốn và tài sản trong kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, nhưng vai trò chủ
sở hữu đối với các tài sản trong doanh nghiệp vẫn thuộc về Nhà nước.
Việc xác định chủ sở hữu đối với tài sản trong DNNN liên quan trực tiếp
đến nguyên tắc phân chia, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn do Nhà
nước cấp và từ vốn của bản thân doanh nghiệp tự đầu tư, nhất là xác định tỷ lệ
lợi nhuận mà doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp vào ngân sách Nhà nước (NSNN).
Do đó, khi chưa có quy định cụ thể, rõ ràng làm căn cứ để phân định tài sản
thuộc về sở hữu Nhà nước và tài sản thuộc sở hữu của tập thể người lao động
trong doanh nghiệp để xác định phạm vi trách nhiệm đối với từng tài sản đó, thì
các nguyên tắc để bảo đảm quyền tự chủ về tài chính trong kinh doanh, bảo toàn
đáng chú ý là do có nhiều cơ quan quản lý, đại diện chủ sở hữu nên khi doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, vi phạm pháp luật thì việc xác định trách
nhiệm cũng rất khó khăn.
b) Vốn góp liên doanh, liên kết, vốn cổ phần hóa
Sau hơn 15 năm (1998-2008) thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu các
DNNN cho thấy: CPH đã tạo ra cho DN có nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà
nước, người lao động trong DN, cổ đông ngoài DN; trong đó, người lao động
trong DN trở thành người chủ thực sự trong phần góp vốn của mình.
Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện cổ phần hóa DNNN
tại phiên họp thứ 43 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/9/2006 đã chỉ rõ:
Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng DNNN được cổ phần hoá
tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn khá chậm. Tính đến
31/12/2005, cả nước mới cổ phần hoá được 2.935 DNNN. Số doanh nghiệp
được cổ phần hoá tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốn trong
các DNNN. Nếu trừ đi phần vốn Nhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh
nghiệp cổ phần hoá, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ còn khoảng 6%. So với mục tiêu
của Nghị quyết TW 9 (khoá IX) thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có qui
mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Theo kế hoạch cổ
phần hóa DNNN tại báo cáo này, đến năm 2008 sẽ cổ phần hóa toàn bộ 5 Ngân
hàng thương mại Nhà nước.
Cùng với việc cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Chính
phủ đã quyết tâm từ nay đến 2010 cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp, tập
22
trung nhiều nhất vào 2 năm 2007-2008. Sau 2010, cả nước còn khoảng 550
DNNN, trong đó có 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh quốc
phòng, sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ thiết yết.
2. Thực trạng sử dụng vốn nợ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2007, tổng vốn chủ sở hữu của 70
tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 323 nghìn tỷ đồng, nhưng số vốn huy động
của các doanh nghiệp này đã lên tới hơn 448 nghìn tỷ đồng, gấp 1,4 lần vốn chủ
hiểm 570 tỷ đồng, quỹ đầu tư 29 tỷ đồng; Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ VN
đầu tư 1.894 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực ngân hàng 344 tỷ đồng, bảo hiểm 1.462
tỷ đồng (Bảo Việt), quỹ đầu tư 88 tỷ đồng
Với tình hình thị trường chứng khoán đi xuống tới 50%, bất động sản
đóng băng, kinh doanh ngân hàng ngày càng khó khăn, khả năng trả nợ ngân
hàng của các tổng công ty lớn là câu hỏi lớn.
Nhiều doanh nghiệp sử dụng vốn vay để đầu tư chéo, mua cổ phiếu của
ngân hàng, mua của nhau và của các công ty mới thành lập trong các lĩnh vực
nóng. Khi mà cổ phiếu IPO cũng như trên sàn niêm yết đều giảm mạnh, sẽ tạo ra
thua lỗ dây chuyền giữa các công ty với nhau. Thua lỗ tài chính chắc chắn nhiều,
không biết liệu doanh nghiệp lấy tiền ở đâu ra để trả vốn vay.
Trong khi nền kinh tế gặp không ít khó khăn, lạm phát tăng, lãi suất vay
ngân hàng tăng. Doanh nghiệp không có đủ lợi nhuận để vừa trả lãi ngân hàng
cho số vốn đi vay, vừa phải bù vào phần vốn đã mất do đầu tư nhiều vào chứng
khoán và bất động sản.
III. Nguyên nhân làm giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư
phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
1. Tầm vĩ mô:
Thứ nhất, công tác quy hoạch đầu tư chưa được chú trọng và còn bất hợp
lý. Quá trình xây dựng kế hoạch phát triển ngành vùng còn chưa căn cứ vào thực
tế cung cầu thị trường, điều này dẫn đến hoạt động đầu tư chồng chéo, thất thoát
nhiều, hiệu quả đầu tư giảm.
Thứ hai, cơ chế quản lý vốn trong doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất
cập,chưa thích ứng với cơ chế thị trường.Thể hiện:Một là, vai trò chủ sở hữu về
vốn, tài sản của nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước không rõ ràng và còn
nhiều chồng chéo, chế độ đại diện chủ sở hữu gián tiếp nhiều khi gây khó khăn
cho hoạt động của doanh nghiệp,làm giảm tính năng động của kinh tế nhà
24
nước.Hai là,nhà nước vừa làm chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, vừa chủ
sỏ hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nên vừa can thiệp quá sâu vào tình
25
Chương III . Một số giải pháp về huy động và sử dụng vốn
đầu tư phát triển trong các DNNN hiện nay.
I. Về mặt vĩ mô .
Thứ nhất : Hoàn thiện cơ chế quản lí hoạt động đầu tư DNNN
Trước hết, nhà nước cần tăng cường quyền tự chủ cho các DNNN, để các
DNNN tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo toàn và
phát triển vốn DN tự huy động, tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ, khoản thua
lỗ. Nhà nước chỉ hỗ trợ về tài chính cho những trường hợp thua lỗ vì nguyên
nhân khách quan. Đối với những trường hợp nhất thiết phải bảo hộ thì phải có
thời hạn rõ ràng và điều kiện, nhằm nâng cao hiệu quả thực sự cho các DN.
Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đổi mơí, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh
doanh của khu vực DNNN, trọng tâm là cổ phần hoá mạnh hơn nữa, đẩy nhanh
tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các DNNN cổ phần hoá, kể cả một số tổng
công ty và các DN lớn trong các ngành mà Nhà nước không nắm giữ 100℅ vốn.
Cần khẩn trương xoá bỏ tình trạng đặc quyền kinh doanh của DNNN phù
hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước có cơ chế kiểm soát, điều
tiết hoạt động đối với các doanh nghiệp có thị phần lớn, có thể khống chế thị
trường, trước hết là thị trường các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu đối với an sinh xã
hội.
Thứ hai : Xây dựng chiến lược, chủ trương đầu tư hợp lí, phù hợp với
mục tiêu và định hướng phát triển của đất nước.
Chiến lược là cơ sở quan trọng để lập các quy hoạch và kế hoạch, đặc biệt
là các quy hoạch và kế hoạch đầu tư của DNNN. Chiến lược đúng, chủ trương
đầu tư đúng là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của
ngành và DN. Ngược lại, chủ trương đầu tư sai sẽ không có hiệu quả đầu tư
hoặc hiệu quả đầu tư rất thấp kém.
Trong thời gian tới, nhà nước phải hạn chế đầu tư vào những lĩnh vực đã
bão hoà như sắt thép, xi măng, mía đường và sớm sửa đổi quy chế đấu thầu theo
hướng tăng thêm quyền quyết định và trách nhiệm đầu tư cho DN. Khuyến