VIỆN ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM
CNĐT: TS. TẠ DOÃN TRỊNH
8919
3.1.3. Mô hình của Hàn Quốc 19
3.1.4. Mô hình của Philipine 20
3.2. Mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc 21
3.3. Lựa chọn mô hình cho Việt Nam 26
3.3.1. Phân tích điểm mạnh và điểm yếu của các mô hình đánh giá 26
3.3.2. Các lý do lựa chọn mô hình của Trung Quốc 27
3.3.3. Hiện trạng tổ chức thực hiện đánh giá KH&CN ở Việt Nam 28
3.4. Đề xuất các giải pháp cần thiết, các chính sách, quy định thích hợp để áp
dụng thành công mô hình tổ chức đã lựa chọn 33
3.4.1. Các giải pháp cần thiết 33
3.4.2. Đề xuất các chính sách, quy định thích hợp để phát triển mạng lưới
đánh giá 35
CHƯƠNG 4. XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ Ở
VIỆT NAM 35
4.1. Khung pháp lý cho đánh giá KH&CN ở một số nước trên thế giới 35
4.1.1. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Mỹ 35
4.1.2. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Canada 39
4.1.3. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Nhật Bản 39
4.1.4. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Hàn Quốc 42
ii
4.1.5. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Thái Lan 45
4.1.6. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Indonesia 46
4.2. Sự thay đổi chính sách quản lý KH&CN qua các thời kỳ và khung pháp lý
cho đánh giá KH&CN của Trung Quốc 47
4.2.1. Sù thay ®æi chÝnh s¸ch vÒ KH&CN cña Trung Quèc 47
4.2.2. Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Trung Quốc 50
4.3. Xây dựng khung pháp lý cho hoạt động đánh giá tại Việt Nam 53
4.3.1. Hiện trạng luật pháp về đánh giá ở Việt Nam trong 10 năm cuối 53
4.3.2. Phân tích so sánh khung pháp lý về đánh giá ở Việt Nam với các nước
Tên viết tắt Tên tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
KH&CN - Khoa học và công nghệ
CGCN - Chuyển giao công nghệ
SHTT - Sở hữu trí tuệ
KHTN - Khoa học tự nhiên
SXTN - Sản xuất thử nghiệm
CSDL - Cơ sở dữ liệu
GPRA Government performance and
results Act
Đạo luật về kết quả và thực hiện của
chính phủ
NSTC National S&T committee Hội đồng KH&CN quốc gia Hàn Quốc
PEML Performance evaluation and
management law
Luật Quản lý và đánh giá thực hiện
OECD Organization for economic
cooperation and development
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
R&D Research and development Nghiên cứu và phát triển
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH
Stt
Họ tên Cơ quan
1
TS. Tạ Doãn Trịnh Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ
2
TS. Vũ Hồng Diệp Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ
3
CN Nguyễn Thị Thu Oanh Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ
Theo đề án, thì cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ cha phù
hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và cơ chế kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa. Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học và công nghệ đáp ứng yêu
cầu phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm và nhu cầu
phát triển kinh tế, xã hội. Các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nớc cha
đợc thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác
quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo
và sản xuất, kinh doanh.
Cụng tỏc ỏnh giỏ, mt mt xớch quan trng trong chu trỡnh qun lý
KH&CN, cng c cp trong ỏn. ỏn ch rừ, mt trong nhng nguyờn
nhõn l do chỳng ta cha xõy dng c cỏc tiờu chớ c th ỏnh giỏ cht lng
v hiu qu ca hot ng khoa hc v cụng ngh núi chung v cỏc t chc khoa
hc v cụng ngh núi riờng. ỏn nhn mnh vic Nh nc phi quy nh ch
t ỏnh giỏ v ỏnh giỏ nh k bờn ngoi i vi cỏc t chc khoa hc v cụng
ngh cú s dng kinh phớ t ngõn sỏch nh nc theo cỏc tiờu chun phự hp vi
chun mc quc t nõng cao hiu qu s dng kinh phớ u t.
Trc nhu cu cn cú mt c quan ỏnh giỏ khoa hc v cụng ngh c lp
thc hin vic ỏnh giỏ cỏc hot ng khoa hc v cụng ngh, cỏc t chc khoa
2
học và công nghệ với mục tiêu nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động và quản lý, đồng thời bảo đảm tính khách quan trong việc đánh giá, Trung
tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN được thành lập năm 2006. Là một cơ quan mới
thành lập, cơ cấu tổ chức chưa hoàn thiện, phần lớn cán bộ chưa được đào tạo về
công tác đánh giá, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN hiện đang gặp rất nhiều
khó khăn về cập nhật kiến thức trong lĩnh vực đánh giá KH&CN cũng như triển
khai thực tế. Đồng thời hoạt động đánh giá của Việt Nam còn đang rất lúng túng
trong việc lựa chọn mô hình thích hợp và các điều kiện để triển khai thành công.
Để giải quyết khó khăn nêu trên, con đường ngắn nhất là phát triển hợp tác
quốc tế, tranh thủ kinh nghiệm của các nước đi trước nhằm tăng cường năng lực
lực cho nghiên cứu và phát triển. Sau một thời gian cải tổ, các công ty của châu Âu
và châu Á trở lại thành các đối thủ cạnh tranh với các công ty của Mỹ, lợi nhuận
đem lại cũng như ngân sách đầu tư cho R&D vì thế giảm mạnh. Nhiều công ty
hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao phải tìm kiếm lợi nhuân ngắn hạn nên
đã không thể có đủ kinh phí đầu tư lớn cho nghiên cứu cơ bản. Như vậy, vào giữa
những năm 70 và 80 hỗ trợ cho R&D từ khối công nghiệp bị cắt giảm mạnh. Cùng
với sự rút bớt tài trợ từ ngân sách công ty, thời kỳ sau chiến tranh và suốt thời kỳ
chiến tranh lạnh, chính quyền liên bang Mỹ đã trở thành người tài trợ chính cho
nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Sự chuyển đổi này cũng diễn ra trễ
hơn tại châu Âu và châu Á. Một lý do cơ bản cho sự tăng đầu tư công cho nghiên
cứu cơ bản và ứng dụng là xung đột về an ninh quốc gia với mục tiêu chiến thắng
trong cuộc chạy đua về công nghệ giữa hai khối tư bản và xã hội chủ nghĩa. Song,
vào cuối những năm 1980 và đầu 1990, ưu tiên của chính phủ thay đổi dưới áp lực
ngày càng gia tăng về việc giảm can thiệp trực tiếp và duy trì nguyên tắc tài chính.
Do vậy, bộ máy chính quyền cố gắng nhỏ gọn, R&D phải đối mặt với cạnh tranh
về tài trợ từ các nguồn khác. Giai đoạn này đòi hỏi hoạt động R&D phải có tính
giải trình và có hiệu quả. Do vậy, kết quả hoạt động R&D cần phải được nhận biết
4
trong cộng đồng nghiên cứu trước yêu cầu của các đối tác bên ngoài (như đội ngũ
lãnh đạo công ty, Quốc hội, hoặc các tổ chức công khác) (Athar Osama, 2006).
Tại Mỹ, từ năm 1993 cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá KH&CN được
triển khai dưới sự chỉ đạo của Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ
Quốc gia. Chính phủ Mỹ đã thông qua đạo luật về kết quả và hoạt động của chính
phủ – GPRA (Goverment Performance and Result Act). Đến năm 2002, chính phủ
Mỹ cho ra đời bộ Công cụ đánh giá xếp hạng Chương trình – PART (Program
Assessment Rating Tool) làm căn cứ để đánh giá 4 yếu tố của Chương trình: hình
thành và thiết kế mục tiêu; lập kế hoạch chiến lược; tổ chức quản lý chương trình;
tính giải trình và kết quả của chương trình. Trên cơ sở đó, mỗi bộ, ngành đều xây
dựng cho mình các tiêu chí rõ ràng khi đầu tư cho nghiên cứu triển khai R&D.
các nhiệm vụ phục vụ công cộng, thúc đẩy các nghiên cứu phục vụ mục đích tư
nhân. Công tác đánh giá của cả hai hiệp hội này đều được chính Hiệp hội tự tổ
chức thực hiện.
Tại Hàn Quốc, Công tác đánh giá phục vụ điều phối các chương trình
KH&CN quốc gia được Viện Đánh giá và Lập kế họach KH&CN (KISTEP) đảm
trách nhằm cung cấp tư liệu cần thiết cho Văn phòng Khoa học, Công nghệ và Đổi
mới (OSTI) thực hiện việc điều phối ngân sách KH&CN quốc gia hàng năm. Việc
đánh giá cụ thể các chương trình KH&CN quốc gia được giao cho các viện đánh
giá và lập kế hoạch chuyên ngành thuộc các bộ, ngành đảm nhận. Ví dụ: tại Bộ
Công nghiệp, Thương mại và Năng lượng Hàn Quốc (MOCIE) có Viện ITEP đảm
nhiệm việc đánh giá các chương trình của MOCIE nhằm trợ giúp Bộ MOCIE
hướng các đầu tư của mình vào các mục tiêu ưu tiên phù hợp với nhu cầu phát
triển đất nước.
Trung Quốc, một nước có thể chế chính trị tương tự như Việt Nam và
trình độ phát triển KH&CN không quá cao so với trình độ phát triển của Việt Nam
đã thành lập Trung tâm Đánh giá Quốc gia (NCSTE) trực thuộc Bộ KH&CN vào
năm 1997 và 22 trung tâm đánh giá cấp tỉnh.trực thuộc các sở KH&CN chịu sự chỉ
đạo nghiệp vụ của Bộ KH&CN. Ngoài ra, tại mỗi bộ, ngành và các tổ chức nghiên
cứu lớn như Viện Khoa học Trung quốc (CAS), Quỹ KHTN Quốc gia đều có các
6
đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực mình đảm
nhận. Tại Viện Khoa học Trung quốc, từ những năm 1990 đã thành lập Trung tâm
Đánh giá, một trong những đơn vị hàng đầu của Trung Quốc về nghiên cứu lý
thuyết và ứng dụng trong lĩnh vực đánh giá, phân loại tổ chức KH&CN và các
nghiên cứu về nguồn nhân lực. Hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc trải
qua hơn 10 năm kinh nghiệm đã đạt được những thành tích đáng kể. Các đánh giá
KH&CN ở Trung Quốc tập trung vào phân bổ nguồn lực công trong KH&CN với
mục tiêu nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và nâng cao chất lượng dịch vụ công của
Chính phủ.
ra. Đây cũng là điểm rất khác biệt trong hoạt động quản lý các chương trình
nghiên cứu của nước ta với nhiều nước khác trên thế giới và là một trong những
nguyên nhân làm cho hoạt động đánh giá chưa thực sự là công cụ hay chức năng
thiết yếu của chu trình quản lý KH&CN.
Trong những năm 2004-2005, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng
của công tác đánh giá, Bộ KH&CN đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, học
tập kinh nghiệm của Hàn Quốc trong xây dựng phương pháp và tiêu chí đánh giá
KH&CN. Nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Xây dựng phương pháp, tiêu
chí đánh giá chương trình, đề tài khoa học và công nghệ tại Việt Nam” do Viện
Ứng dụng phối hợp với Viện Lập kế hoạch và đánh giá KH&CN Hàn Quốc –
KISTEP thực hiện trong thời gian này. Dự án này đã tạo ra sự chuyển biến trong
nhận thức từ đánh giá đề tài, dự án cụ thể sang đánh giá chương trình theo mục
tiêu. Kết quả của nhiệm vụ là phía đối tác Hàn Quốc đã chuyển giao kinh nghiệm
về quản lý và đánh giá R&D của Hàn Quốc và thực hiện đánh giá thử nghiệm sử
dụng mô hình của Hàn Quốc đối với 01 chương trình và 02 đề tài của Việt Nam.
Kết quả cuối cùng của dự án là đã đề xuất các định hướng chính sách cho công tác
quản lý R&D của Việt Nam trong tương lai.
8
1.2.2. Các nghiên cứu về đánh giá tổ chức KH&CN
Ngoài đối tượng đánh giá là chương trình và đề tài, nhiều quốc gia trên thế
giới đã thực hiện việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu. Kết quả đánh giá tổ chức
nghiên cứu thường được sử dụng làm căn cứ để xem xét tính hợp lý trong đầu tư
(nhân lực, vật lực, tài lực) cho tổ chức đó hay để phát triển một lĩnh vực nghiên
cứu nhất định. Đối với nước ta, đây là những vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Mới đây,
trong nhiều hội nghị, hội thảo, các nhà quản lý thường nhắc đến việc đánh giá hiệu
quả đầu tư cho KH&CN ở qui mô viện nghiên cứu hay qui mô một ngành, một
lĩnh vực. Như vậy, nhu cầu cho đánh giá tổ chức nghiên cứu đã xuất hiện ở Việt
Nam và việc nghiên cứu các mô hình đánh giá tổ chức nghiên cứu đã trở lên cấp
thiết.
Trên thế giới, việc đánh giá kết quả của một đối tượng nhất định, trước hết
phải căn cứ vào mục tiêu đặt ra cho đối tượng đó, tức là mức độ hoàn thành mục
tiêu cũng như sự đúng đắn của mục tiêu đó. Với quan niệm như vậy, nhiều nước
đã chú ý đến nội dung đánh giá xác định nhu cầu đầu vào cho KH&CN và gắn kết
quả xác định nhu cầu đầu vào với việc đặt yêu cầu cho sản phẩm đầu ra. Đồng thời,
trong quá trình tổ chức thực hiện, không thể bỏ qua chức năng theo dõi, giám sát
và đánh giá giữa kỳ để cung cấp các thông tin cần thiết cho quá trình quản lý. Vì
vậy, việc thiết kế các tiêu chí đánh giá đều được dự kiến sẵn ngay từ khi lập kế
hoạch và chuẩn bị ra quyết định đầu tư.
Ở nước ta, phương thức lập kế hoạch và quản lý dựa trên kết quả đầu ra
cũng bắt đầu được giới thiệu. Với sự trợ giúp của cộng đồng Quốc tế, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã hình thành khung đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã
hội, đánh giá chương trình, dự án ODA và ban hành thành các quyết định hành
chính để chính thức áp dụng [1].
Điều quan trọng thu nhận được từ thực hiện các dự án nói trên là cần phải
hình thành một tổ chức đánh giá độc lập, chuyên nghiệp làm cầu nối quan trọng
giữa các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà tài trợ. Từ nhu cầu thực tiễn
trên, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN thuộc Bộ KH&CN được thành lập tháng
11/2005, chính thức hoạt động từ tháng 3/2006 có các chức năng chính như sau:
- Nghiên cứu chuyên môn, nghiệp vụ về đánh giá KH&CN;
10
- Tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho việc đánh giá nhiệm vụ
KH&CN, tổ chức KH&CN và nhân lực KH&CN;
- Triển khai các hoạt động hỗ trợ cho quá trình chuẩn bị xây dựng kế
hoạch KH&CN quốc gia, phục vụ công tác quản lý nhà nước và các hoạt động
KH&CN khác.
Với các chức năng như vậy, nhiệm vụ của Trung tâm được đặt ra là hỗ trợ
hiệu quả công tác quản lý KH&CN thông qua công tác đánh giá và mục tiêu là làm
thế nào để hoạt động đánh giá KH&CN được triển khai đồng bộ và trở thành qui
Việt Nam nên có nhiều bài học kinh nghiệm sát thực với điều kiện thực tế của
Việt Nam hiện nay, kể cả về tính chất nghiên cứu và trình độ KH&CN.
+ Nền KH&CN phát triển mạnh góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế,
đưa Trung Quốc từ quốc gia lạc hậu trở thành quốc gia có vị trí quan trọng trên
trường quốc tế. Trong đó, công tác đánh giá của Trung Quốc được cho là công
cụ hữu hiệu trong việc hỗ trợ quản lý KH&CN.
+ Mô hình mạng lưới đánh giá của Trung Quốc khá hoàn thiện với các chức năng
nhiệm vụ của từng thành viên rõ ràng, tách biệt, đảm bảo hoạt động có hiệu
quả.
Trung Quốc đã thành lập Trung tâm Đánh giá Quốc gia (NCSTE) trực
thuộc Bộ KH&CN vào năm 1997 và 22 trung tâm đánh giá cấp tỉnh.trực thuộc các
sở KH&CN chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ KH&CN. Ngoài ra, tại mỗi bộ,
ngành và các tổ chức nghiên cứu lớn như Viện Khoa học Trung quốc (CAS), Quỹ
KHTN Quốc gia đều có các đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá hoạt động KH&CN
thuộc lĩnh vực mình đảm nhận.
Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc được thành lập với chức năng
nhiệm vụ gần với Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN và đã rất thành công với 10
năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá: hơn 1000 đề tài, dự án, hơn 100 trung
tâm kỹ thuật, đào tạo hơn 600 chuyên gia đánh giá; liên kết với gần 90 tổ chức
đánh giá trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Viện Chính sách và Quản lý thuộc
Viện Khoa học Trung Quốc với hơn 20 năm kinh nghiệm có thế mạnh về đánh giá
12
và phân loại các tổ chức nghiên cứu khoa học cho 89 viện nghiên cứu trực thuộc
Viện Khoa học Trung Quốc định kỳ 2 năm một lần.
Tại Viện Khoa học Trung quốc, từ những năm 1990 đã thành lập Trung
tâm Đánh giá, một trong những đơn vị hàng đầu của Trung Quốc về nghiên cứu lý
thuyết và ứng dụng trong lĩnh vực đánh giá, phân loại tổ chức KH&CN và các
nghiên cứu về nguồn nhân lực. Hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc trải
qua hơn 10 năm kinh nghiệm đã đạt được những thành tích đáng kể. Các đánh giá
Do đối tác NCSTE có thế mạnh về đánh giá chương trình nhà nước (ví dụ
chương trình 863), Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN chủ trương mời chuyên
gia Trung Quốc sang Việt Nam đào tạo về lý thuyết đánh giá và hướng dẫn thực
hành đánh giá 01 chương trình KH&CN của Việt Nam, đồng thời cử cán bộ Việt
Nam sang Trung Quốc tham gia học thập kinh nghiệm và thực hành đánh giá
chương trình tại NCSTE.
Trong khi đó, đối tác IPM có thế mạnh về đánh giá tổ chức KH&CN sẽ hỗ
trợ Việt Nam đào tạo 4-6 chuyên gia về đánh giá tổ chức bằng khoá học lý thuyết
và thực hành tại Trung Quốc.
Song song với việc chuyển giao kinh nghiệm đánh giá chương trình và
đánh giá tổ chức, các đối tác Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm tư vấn cho Việt Nam
về mô hình tổ chức đánh giá và khung pháp lý cho hoạt động đánh giá. Kết quả
mong đợi của dự án là xây dựng được mô hình tổ chức và khung pháp lý cần thiết
cho hoạt động đánh giá của Việt Nam; đào tạo được đội ngũ cán bộ Việt Nam về
đánh giá chương trình và tổ chức nắm vững nghiệp vụ để có thể chuyển giao tri
thức, từng bước hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động đánh giá ở Việt Nam.
2.3. Cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu
Trong việc thực hiện dự án với Trung Quốc, nền tảng của hợp tác là phía Trung
Quốc cung cấp dịch vụ tư vấn, phía Việt Nam tiếp thu tri thức, tổ chức thu thập
số liệu, khảo sát thực tế và chuẩn bị các hội thảo, các buổi tiếp xúc để chuyên gia
hai nước trao đổi kết quả tiến tới việc cùng thiết kế hệ thống tổ chức, xây dựng
khung pháp lý và thực hiện đánh giá. Cách tiếp cận này dựa trên phương pháp vừa
học vừa làm sẽ giúp cho việc đào tạo đạt hiệu quả cao.
14
Có thể chia việc hợp tác nghiên cứu với các đối tác Trung Quốc thành 3 giai
đoạn sau:
a) Giai đoạn 1
Trong thời gian đầu của dự án, theo hướng dẫn của phía Trung Quốc, Việt
Nam sẽ làm song song các phần việc là:
Nam chịu trách nhiệm tổ chức điều tra thu thập bổ sung thêm các thông tin
phục vụ đánh giá.
+ Hai bên phối hợp phân tích số liệu, tổ chức các hội đồng đánh giá tại Việt Nam
và NCSTE giúp VISTEC hoàn thành báo cáo đánh giá.
+ Phía Việt Nam chủ động lựa chọn phương án xây dựng mô hình tổ chức đánh
giá và soạn thảo các quy định về đánh giá trình cơ quan có thẩm quyền.
+ Tổ chức hội thảo và khuyến nghị kế hoạch triển khai hoạt động đánh giá ở Việt
Nam.
2.4. Các nội dung nghiên cứu cụ thể
a) Nội dung 1: Xây dựng mô hình triển khai công tác đánh giá KH&CN của
Việt Nam
+ Phân tích, so sánh các mô hình cơ cấu tổ chức đánh giá KH&CN của một số
nước trên thế giới để lựa chọn mô hình thích hợp tổ chức trỉển khai công tác
đánh giá KH&CN ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu các yếu tố dẫn đến thành công của mô hình và đề xuất các điều
kiện để triển khai mô hình tổ chức đánh giá KH&CN (phối hợp với chuyên gia
Trung Quốc).
+ Xây dựng cấu trúc mô hình thể chế đảm bảo vận hành có hiệu quả hoạt động
đánh giá KH&CN ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp thích hợp để triển khai
mô hình tổ chức được lựa chọn.
b) Nội dung 2: Xây dựng khung pháp lý cho công tác đánh giá KH&CN của
Việt Nam
+ Phân tích hiện trạng các chính sách, qui định và các điều luật liên quan đến
đánh giá KH&CN, chỉ rõ những thuận lợi khó khăn, bất cập trong khung
pháp lý để đề xuất giải pháp hoàn thiện.
16
+ Đề xuất khung chính sách, danh mục và nội dung cơ bản của các văn bản
qui phạm pháp luật về đánh giá KH&CN (phối hợp với chuyên gia Trung
Quốc).
đồng Tư vấn để đánh giá kết quả theo Luật về Thực hiện và Kết quả của Chính
phủ (GPRA). Hội đồng Tư vấn gồm 20 thành viên chịu trách nhiệm xem xét về sự
đầu tư của quỹ trong nghiên cứu và đào tạo nhằm xác định các thành quả quan
trọng mà Quỹ đã đạt được đáp ứng với các mục tiêu chiến lược về phát minh, đào
tạo, và hạ tầng nghiên cứu. Hội đồng sử dụng tiêu chí đánh giá, chỉ số kết quả để
đánh giá kết quả của các chương trình mà Quỹ đã tài trợ và đệ trình báo cáo hàng
năm cho Ban Giám đốc về kết quả đánh giá theo từng mục tiêu chiến lược.
Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ (NIST – National Institute of Standards and
Technology) chịu trách nhiệm đánh giá chương trình Công nghệ tiên tiến (ATP -
Advanced Technology Program) hỗ trợ R&D trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(SMEs) và các chương trình về đổi mới công nghệ . NIST thành lập Văn phòng
Đánh giá kinh tế chịu trách nhiệm đo lường sự thành công của Chương trình ATP
thông qua các dự án đánh giá về lập kế hoạch, triển khai và thực hiện chương trình
ATP. Văn phòng Đánh giá đã xây dựng Tài liệu “Công cụ đánh giá đầu tư công
cho R&D” (A Toolkit for Evaluating Public R&D Investment) để hướng dẫn cho
các chuyên gia đánh giá thuộc NIST. Tài liệu này cung cấp khung đánh giá, các
phương pháp, kỹ thuật, công cụ, nguyên tắc và các thông tin về đánh giá và là tài
liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý chương trình công nghệ của Chính phủ.
18
Bộ Năng lượng – Department of Energy (DOE) đánh giá hoạt động R&D
và các chương trình Phát triển công nghệ về năng lượng. Văn phòng Hiệu quả
năng lượng và năng lượng tái sinh (EERE – Office of Energy Efficiency and
Renewable Energy) chịu trách nhiệm quản lý 10 chương trình của Bộ Năng lượng.
Văn phòng đã xây dựng các tài liệu về “Quản lý các chương trình chung – Nghiên
cứu về đánh giá”, “Phương pháp đánh giá các chương trình R&D” để hướng dẫn
và cung cấp các thông tin cần thiết về đánh giá như: Lập kế hoạch đánh giá, thiết
kế đánh giá, quản lý quá trình đánh giá, phổ biến và sử dụng kết quả.
Nhằm tích hợp thông tin về kết quả vào quá trình phân bổ ngân sách, năm
2001, Văn phòng Tổng thống đã công bố “Chương trình Quản lý của Tổng thống –
tổ chức chuyên về kiểm toán, thuế, và dịch vụ tư vấn), Tổ chức Tư vấn FORUM
Đánh giá KH&CN trong phạm vi chính quyền liên bang trở nên phổ biến
vào đầu những năm 80. Có 4 tổ chức chính quản lý và điều phối các hoạt động
KH&CN ở Canada :
- Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada – National Research Council of
Canada
- Hội đồng Nghiên cứu Khoa học tự nhiên và Kỹ thuật Canada – Natural
Science and Engineering Research Council of Canada
- Cơ quan Tài nguyên thiên nhiên Canad – Natural Resouces Canada
- Hội đồng Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn – The Social Sciences
and Humanities Research Council
Căn cứ “Chính sách và Tiêu chuẩn đánh giá của Chính phủ” do Ủy ban
Ngân sách ban hành, các tổ chức trên đã thành lập bộ phận đánh giá chuyên nghiệp
thực hiện đánh giá các viện nghiên cứu, chương trình và các sáng kiến thuộc tổ
chức mình. Các đánh giá đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc lập kế
hoạch, quản lý hoạt động và rủi ro.
3.1.3. Mô hình của Hàn Quốc
Mô hình đánh giá KH&CN của Hàn Quốc là sự kết hợp giữa mô hình tập
trung và phân tán, có cơ quan chuyên trách thuộc chính phủ.
20
Căn cứ “Luật đặc biệt về Khoa học và Đổi mới công nghệ” (ban hành tháng
hai, năm 1998) và “Luật về việc Thành lập, Hoạt động và Phát triển các Viện
Nghiên cứu Chính phủ” (ban hành tháng 1 năm 1999), các hoạt động đánh giá
KH&CN tại Hàn Quốc bao gồm 3 loại hình :
Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá tất cả các chương trình R&D do nhà
nước cấp kinh phí và một số dự án đặc biệt trong trường hợp cần thiết;
Ba Hội đồng nghiên cứu (trực thuộc Thủ tướng) thực hiện đánh giá các viện
nghiên cứu Chính phủ.
Các cơ quan quản lý và đánh giá thuộc các Bộ, ngành như : Viện Lập Kế
chính phủ. Hoạt động đánh giá tại Trung Quốc vẫn chủ yếu do nhà nước tài trợ và
chính phủ có vai trò quyết định trong việc đánh giá tất cả các loại hoạt động phát
triển quốc gia. Những đánh giá do các tổ chức phi chính phủ thực hiện không gây
được ảnh hưởng đối với cách đánh giá hiện nay.
Hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc gồm 3 cấp: cấp quốc gia, cấp
bộ, ngành và cấp địa phương (h×nh 3.1).
Hình 3.1. Mô hình mạng lưới đánh giá ở Trung Quốc