Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Em xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy, cô giáo
trong Tổ Bộ môn Giáo dục công dân, khoa Lý luận Chính trị - Giáo dục Công
dân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy và hướng dẫn em hoàn
thành chương trình học tập và thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Th.S Hoàng Thị Thuận.
Cô đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, động viên em trong suốt quá trình thực hiện.
Em cũng xin gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình, tới
những người bạn luôn động viên, khích lệ em.
Em xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Nga
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Từ, ngữ đầy đủ
1 GDCD Giáo dục công dân
2 GV Giáo viên
3 HS Học sinh
4 PP Phương pháp
5 PPDH Phương pháp dạy học
6 PPĐV Phương pháp đóng vai
7 THPT Trung học phổ thông
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
trong việc hình thành nhân cách tốt đẹp, giúp các em có được lối sống lành
mạnh phù hợp với chuẩn mực của xã hội, đặc biệt là việc thực hiện pháp luật.
Thực tế cho thấy, số HS vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao
thông, trộm cắp, cướp giật, đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Chẳng
hạn, thực trạng HS vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông năm 2012
cho thấy, hầu như 100% HS phổ thông điều khiển mô tô, xe gắn máy không
có giấy phép lái xe; 95% HS và sinh viên điều khiển phương tiện sai kỹ thuật;
ngoài ra những đối tượng này còn vi phạm một số lỗi điển hình như: trở quá
số người quy định, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng mô
tô, xe gắn máy, lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ cho phép, vượt đèn đỏ.
Để khắc phục tình trạng trên, việc giáo dục pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan
trọng, nhằm nâng cao ý thức chấp hành đúng pháp luật của HS hiện nay. Vì
vậy, cần phải đưa giáo dục pháp luật vào trong chương trình dạy học, trong đó
môn GDCD là môn học có thể truyền tải một cách đầy đủ, hiệu quả và cụ thể
nội dung giáo dục pháp luật cho HS.
Cho đến nay nhiều người vẫn cho rằng môn GDCD là một môn học
khô khan, kiến thức lý luận trừu tượng, do đó khó dạy, khó học và khó ứng
dụng các PPDH tích cực, hiện đại. Nhưng thực tế, nhìn vào nội dung chương
trình của môn GDCD thì đây lại là môn học có ưu thế nhất trong việc ứng
dụng các PPDH (cả truyền thống và hiện đại). Mỗi PPDH đều có những đặc
trưng riêng, ưu thế riêng và do đó không thể so sánh, đánh giá PPDH này tốt
hơn PPDH khác. Vấn đề quan trọng là người giáo viên (GV) phải biết sử
dụng phương pháp (PP) nào sao cho phù hợp, tối ưu với bài giảng, tiết giảng,
đơn vị kiến thức dựa trên nền kiến thức, năng lực của bản thân và khả năng
nhận thức, tham gia vào quá trình dạy học của HS.
Môn GDCD lớp 12 là môn học hay, nó cung cấp cho người học các tri
thức về pháp luật. Qua đó, giúp các em xây dựng ý thức pháp luật để điều
chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp. Trong chương trình GDCD lớp 12,
2
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
biến, nhưng cho đến nay mới có rất ít những công trình nghiên cứu lý luận về
PPDH và chủ yếu nghiên cứu thông qua hình thức đóng vai.
Một số công trình tiêu biểu ở Việt Nam có đề cập đến PPĐV là:
Các loại sách và sách tham khảo gồm có:
Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT, Đinh
Văn Đức - Dương Thị Thúy Nga (đồng chủ biên), 2011, NXB. Đại học Sư
phạm nêu lên các vấn đề: lý luận về PPDH môn GDCD, và các PPDH môn
GDCD ở trường THPT, trong đó có đề cập tới PPĐV.
Dạy và học môn GDCD ở trường THPT, Những vấn đề lí luận và thực
tiễn của tác giả Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên, 2007, NXB. Đại học
Sư phạm, đã trình bày những vấn đề lí luận chung về dạy và học môn
GDCD, đổi mới PP và vận dụng PPDH tích cực, thiết kế một bài giảng cụ
thể trong chương trình GDCD ở trường THPT, trong đó có phần sử dụng
PPĐV trong giảng dạy pháp luật, chương trình GDCD lớp 12.
Dạy học và PPDH trong nhà trường, Phan Trọng Ngọ, NXB. Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2005 cũng nói về những vấn đề lí luận chung về dạy học và
PPDH trong nhà trường; các PPDH tích cực; các hình thức, các nguyên tắc
dạy học và PPDH trong nhà trường;
Giáo trình Giáo dục học, Tập 1, Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), NXB.
Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 thì trình bày về các vấn đề chung của giáo
dục, lí luận dạy học (bao gồm: quá trình dạy học, tính quy luật và nguyên tắc
dạy học, nội dung dạy học, PPDH, phương tiện dạy học, ) và kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập.
Các luận án, luận văn gồm có:
Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học phần "Công dân với đạo
đức" môn GDCD ở trường THPT Đoàn Thị Điểm - Hà Nội, Lê Thi Biên;
Phát huy tính tích cực học tập môn GDCD phần công dân với pháp luật ở
trường THPT Lạc Thuỷ B, tỉnh Hòa Bình, Bùi Thị Ngọc; Vận dụng phương
pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học ở Đại học Hải Phòng, Đinh Thị
4
5
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
môn GDCD nói riêng và chất lượng giáo dục các bộ môn khoa học khác
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu lý luận chung về PPĐV như: Quan niệm về
PPĐV, các kiểu dạy học theo hình thức đóng vai, quy trình vận dụng PPĐV,
…
Thứ hai, tìm hiểu thực trạng vận dụng PPĐV và vận dụng PPĐV vào
giảng dạy một số bài cụ thể trong chương trình GDCD, phần “Công dân với
pháp luật” ở trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc vận
dụng PPĐV vào dạy học môn GDCD, phần “Công dân với pháp luật”.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát PPĐV trong dạy học
Vận dụng PPĐV vào dạy hoc môn GDCD và dạy học phần “Công dân
với pháp luật” ở trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc vận dụng PPĐV trong dạy học môn GDCD phần
“Công dân với pháp luật” lớp 12.
Nghiên cứu thực nghiệm ở trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài, trong
quá trình thực hiện khoá luận, tôi sử dụng các PP nghiên cứu sau:
PP nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp;
phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp lịch sử, lôgic; để xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài.
PP nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra, phương pháp khảo sát,
phương pháp quan sát, phương pháp thống kê,… nhằm thu thập thông tin về
Thuật ngữ “đóng vai” hiện nay không còn xa lạ với chúng ta và trên
thực tế nó được ứng dụng, thể hiện rất phổ biến. Tuy nhiên, có nhiều quan
điểm, cách tiếp cận khác nhau về PPĐV.
Dựa trên cách quan niệm dạy học đóng vai là dạy học bằng hình thức
đóng kịch, nhiều tác giả đã đưa ra định nghĩa về PPĐV như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê: “Đóng vai là thể hiện
nhân vật trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói
năng như thật” [30, tr.337].
Còn tác giả Phan Trọng Ngọ, trong cuốn “Dạy học và PPDH trong nhà
trường”, NXB. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 đã khẳng định: “PP đóng kịch
trong dạy học là GV cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo
các vai diễn. Qua đó họ học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành
8
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
động cũng như các kỹ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản” [27,
tr.283].
Trong giáo trình “Giáo dục học tập 1” do PGS.TS Trần Thị Tuyết
Oanh (chủ biên) NXB. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 cho rằng: "Đóng kịch
là PPDH, trong đó GV tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch
bản và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp HS hiểu sâu sắc nội dung học tập"
[29, tr.227].
Các tác giả trên đều nhấn mạnh PPĐV là PPDH trong đó GV hình
thành kịch bản có nội dung học tập, yêu cầu người học đóng các vai diễn sẵn
có. Bản chất của nó là sự gia công sư phạm của GV, chế biến nội dung dạy
học thành kịch bản phù hợp để người học sử dụng kịch bản đó và nhập vai.
Dưới góc độ, coi PPĐV là PPDH thực hành, các tác giả đã từng bước
chỉ ra nội hàm của PPĐV:
Trong tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo
khoa lớp 10 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006, có viết: “Đóng vai là PP tổ
chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong
PPĐV là PPDH thông qua hình thức đóng kịch, diễn xuất - sự nhập
tâm, hoá thân của HS vào những nhân vật cụ thể và thể hiện thái độ, tư
tưởng, hành vi ứng xử của những nhân vật đó, trên cơ sở đó giúp HS thực
hành, trải nghiệm và rút ra những bài học nhận thức và kỹ năng sống phù
hợp, tích cực.
Định nghĩa trên khẳng định rằng, trọng tâm hay bản chất của PPĐV
chính là việc ứng dụng các giá trị của nghệ thuật đóng kịch vào dạy học,
nhưng không bó hẹp ở khuôn khổ của hình thức đóng kịch - một loại hình
nghệ thuật. Việc đóng vai của HS, không nhất thiết phải là sự thể hiện các vai
diễn của nhiều người có sự đối thoại hay ngôn ngữ biểu diễn, mà có khi chỉ là
những lời độc thoại kết hợp hành vi - ngôn ngữ không dùng lời nói để thể
hiện (chẳng hạn HS đóng vai chính khách, nhà hoạt động chính trị - xã hội,
nhà quản lý, lãnh đạo…thuyết trình, diễn thuyết, hùng biện, biện hộ về một
10
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
nội dung hay vấn đề nào đó); cũng có thể HS đóng vai GV để điều hành, “làm
thử” tổ chức một hoạt động, một nội dung học tập nào đó.
Như vậy, dạy học thông qua đóng vai là một PPDH giúp HS tích cực
tham gia, sáng tạo, thể hiện bản thân, hoà nhập vào quá trình dạy học, vào
môi trường học tập linh hoạt, năng động. Đóng vai, phân tích tình huống,
cách ứng xử, giải quyết vấn đề, truyền tải thông tin, thông điệp về kiến thức,
thái độ, kỹ năng sẽ tác động sâu sắc tới suy nghĩ và hành động của cả người
dạy và người học. Song, để ứng dụng và phát huy giá trị, hiệu quả của PPĐV,
đòi hỏi phải có những yêu cầu nhất định đối với nhà trường, GV và HS.
1.2. Phân loại PPĐV trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
PPĐV có nhiều kiểu và hình thức tổ chức vận dụng dạy học khác nhau.
Nhưng căn cứ vào nội dung kiến thức của bộ môn GDCD, của từng bài, và
mức độ nhận thức, khả năng xây dựng kịch bản của HS, có thể kết hợp những
kiểu dạy học đem lại hiệu quả cao bằng PPĐV. Việc phân loại hình thức đóng
vai được dựa trên những tiêu chí hay cách tiếp cận khác nhau:
phát triển từ những kiến thức đã biết suy luận mở rộng ra nội dung kiến thức
và những cách ứng xử mới. Hình thức này tạo cho HS những hứng thú bởi
phải tìm tòi, khám phá để vượt qua những cái đã biết. Phương châm của hình
thức này là nếu chúng ta làm những cái đã biết thì chúng ta sẽ thu được những
cái đã có, nếu chúng ta làm những cái chưa biết thì chúng ta sẽ thu được
những cái chưa có.
Ba là, đóng vai liên hệ - ứng dụng là hình thức đóng vai trong đó nội
dung kịch bản được xây dựng chủ yếu dựa trên những tình huống, những
hành vi ứng xử diễn ra phổ biến trong cuộc sống nhưng được hình tượng hoá,
kịch bản hoá và thể hiện thông qua các vai diễn qua đó giúp HS rút ra những
bài học nhận thức, điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân khi gặp phải
những vấn đề, tình huống tương tự.
Thứ ba, dựa trên tiêu chí sự tương tác giữa HS với HS, HS với GV
trong quá trình thực hiện
12
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
Một là, đóng vai độc lập là hình thức đóng vai trong đó việc xây dựng
kịch bản và thể hiện vai diễn chủ yếu được thể hiện bởi một cá nhân. Hình
thức này thường được áp dụng đối với những vai diễn có diễn biến tư tưởng,
tâm lý phức tạp. Nội dung hay những tình huống có vấn đề là sự đấu tranh
diễn ra trong bản thân một nhân vật (đấu tranh tư tưởng, nội tâm). Hình thức
này ít được ứng dụng nhưng có lợi thế về sự chuẩn bị, thể hiện bởi nó được
thực hiện bởi một HS, độc lập, chủ động, sáng tạo về tư duy, xây dựng hướng
kịch bản, lời thoại.
Hai là, đóng vai theo nhóm là hình thức đóng vai bao gồm các hoạt
động chuẩn bị, xây dựng kịch bản, thể hiện kịch bản dựa trên sự tương tác của
nhóm HS. Đây là hình thức đóng vai diễn ra phổ biến nhất, nó kết hợp linh
hoạt PP làm việc theo nhóm và PPĐV do đó phát huy được sức mạnh chung
của tinh thần nhóm, vì vậy hiệu quả mang lại rất cao.
Thứ tư, dựa vào nội dung bài học
thiệu bài mới, củng cố, hệ thống hoá và hướng dẫn, giao nhiệm vụ học tập ở
nhà cho HS; mặt khác nhấn mạnh vào quy trình hoạt động dạy và học của GV
và HS trải qua các bước từ khi chuẩn bị cho đến khi hoàn tất việc đóng vai,
thể hiện vai diễn theo nội dung và tiến hành các hoạt động học tập, nhận thức
trên lớp.
Trong khóa luận của mình, tác giả tập trung phân tích quy trình sử dụng
PPĐV trong dạy học môn GDCD, nhằm làm cơ sở cho phần thực nghiệm.
Thông thường, trong dạy học môn GDCD, GV phổ biến sử dụng hai kiểu dạy
học bằng PPĐV trực tiếp và PPĐV có sự chuẩn bị trước ở nhà với quy trình
hoạt động được mô tả chi tiết như sau:
Thứ nhất, quy trình dạy học đóng vai trực tiếp diễn ra trong cùng một
tiết học. Quy trình này được bắt đầu từ khi chọn nội dung kiến thức, định hình
kịch bản, lời thoại, phân vai chuẩn bị, thể hiện vai diễn, kịch bản cho đến khi
thảo luận đóng góp ý kiến, nhận xét, kết luận, rút ra bài học nhận thức, kỹ
năng diễn ra trong cùng một tiết học. Quy trình bao gồm 5 bước:
14
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
Bước 1, GV căn cứ vào nội dung kiến thức của bài, giới thiệu tình
huống, chia nhóm và giao tình huống đóng vai cho từng nhóm, quy định rõ
thời gian chuẩn bị “kịch bản” và thời gian thể hiện sự đóng vai theo kịch bản
của từng nhóm.
Bước 2, các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đảm
nhiệm sắm vai, thành viên nhóm chuẩn bị nhanh việc thể hiện các vai được
phân công và phối hợp với các vai diễn khác trong nhóm để hình thành kịch
bản - diễn xuất.
Bước 3, các nhóm được phân công lên đóng vai - thể hiện các vai diễn
theo bối cảnh và nội dung kịch bản (có thể có những sáng tạo linh hoạt cả về
lời thoại và cách thức, hành vi thể hiện).
Bước 4, nhận xét, đánh giá - cả lớp cùng quan sát, thảo luận, đánh giá
về các vai diễn họ vừa quan sát được và đưa ra các câu hỏi phản biện, tranh
học mới bắt đầu, theo thứ tự được phân công hoặc theo tự nguyện, xung
phong, các nhóm sẽ lần lượt lên thể hiện kịch bản đóng vai.
Bước 5, thảo luận, nhận xét, kết luận và rút ra bài học nhận thức.
Trong quy trình dạy học đóng vai, mỗi bước đều có vị trí, vai trò nhất
định. Nếu như các bước 1, 2, 3 có ý nghĩa tiên quyết đến thành công của việc
thể hiện vai diễn, kịch bản, đảm bảo phản ánh hay bộc lộ nội dung, chủ đề,
chủ điểm học tập; bước 4 thể hiện và khẳng định bản lĩnh, năng lực của HS
trong tình huống có vấn đề - bối cảnh học tập; thì bước 5 có ý nghĩa như một
sự tổng hợp thành quả đạt được của cả tiến trình dạy học bằng hình thức đóng
vai. Đây là bước quan trọng nhất của quy trình thực hiện PPĐV, nó thể hiện
sự chú tâm quan sát, lắng nghe và tham gia vào hoạt động dạy học, đánh giá
và tiếp nhận, vận dụng kiến thức, kỹ năng của cả GV và HS. Sau khi các
nhóm thể hiện kịch bản, dưới sự định hướng của GV, HS nêu ý kiến nhận xét
về sự thể hiện của các vai diễn, nội dung thông điệp truyền tải, ý nghĩa kịch
bản; HS nêu các câu hỏi phản biện hoặc mở rộng vấn đề, cùng tranh luận, lý
giải với những kỳ vọng mở, suy luận; GV kết luận và cùng thống nhất với HS
về các bài học nhận thức, kỹ năng cần thực hành, rèn luyện từ tình huống
đóng vai.
16
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
1.4. Ưu điểm và hạn chế của PPĐV
1.4.1. Ưu điểm
Thứ nhất, HS được rèn luyện, thực hành kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn. Học phải đi
đôi với hành, nếu chỉ học lý thuyết mà không được trải nghiệm qua các tình
huống thực tế thì HS rất dễ bị rơi vào trạng thái hụt hẫng, chán trường. Nhưng
khi được rèn luyện, thực hành HS sẽ hình thành được những kỹ năng, những
kinh nghiệm giúp các em vượt qua được khó khăn, thử thách.
Thứ hai, PP này gây chú ý và hứng thú cho HS. Với PPĐV, HS được
trực tiếp khám phá, tìm tòi tri thức nên các em sẽ cảm thấy hào hứng hơn
hình thức dạy học đóng vai, HS là người chủ động tìm tòi, lĩnh hội tri thức,
đồng thời còn khơi dậy ở các em sự sáng tạo và tài năng vốn có của mình.
Thứ sáu, đóng vai giúp HS khắc phục được tính nhút nhát, e ngại, dụt
dè khi xuất hiện trước đám đông để các em trở nên tự tin hơn, mạnh dạn và
trưởng thành hơn. Bằng PPĐV, HS sẽ được hóa thân vào nhân vật, do đó, đối
với các em luôn cảm thấy tự ti về bản thân thì khi được xuất hiện bằng một
vai diễn khác với mình sẽ giúp HS không còn thấy tự ti nữa, ngược lại các em
còn có thể thỏa sức thể hiện nhân vật bằng khả năng của mình.
1.4.2. Hạn chế
Thứ nhất, nếu HS đóng vai không hiểu rõ vai diễn của mình (lạc đề) thì
sẽ không thu được kết quả như mong muốn, có khi kết quả ngược lại. Khi
đóng vai, một trong những yêu cầu không thể thiếu để góp phần tạo nên sự
thành công của vai diễn đó là sự nhập vai của các nhân vật, nếu không hiểu rõ
vai diễn của mình (hoặc hiểu nhầm vai diễn của mình) thì sẽ không thể truyền
tải đúng thông điệp tới người xem. Do đó, sẽ không đạt được kết quả tốt như
mong muốn.
Thứ hai, nếu không có yếu tố hóa trang hoặc đạo cụ thì sẽ giảm hiệu
quả của giờ học, không gây được hứng thú cho HS. Người đóng vai ít có kinh
nghiệm và khả năng diễn đạt sẽ làm cho lớp học không tập trung hoặc rối
nhiễu. Hóa trang là một trong những yếu tố cần thiết cho một vai diễn, bởi khi
đã đóng vai, chúng ta hoàn toàn trở thành một con người khác với mình ở đời
thường. Vì vậy, để nhập vai tốt thì cần phải có sự đầu tư về trang phục và đạo
18
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
cụ cần thiết cho vai diễn đó. Đồng thời, mỗi vai diễn cũng cần phải có khả
năng diễn đạt tốt, ăn nói lưu loát (tránh nói ngọng) để truyền tải thông tin tới
người nghe một cách hiệu quả.
Thứ ba, nếu GV không bao quát, quản lý lớp tốt trong quá trình tiến
hành đóng vai thì trật tự lớp học rất dễ bị phá vỡ, lớp học trở nên mất trật tự,
ồn ào. Trong quá trình HS đóng vai, do sự hấp dẫn bởi khả năng diễn xuất của
những kết luận cần nhớ. Việc bình luận sau cảnh diễn phải tạo bầu không khí
thân thiện, cởi mở, cầu thị và xây dựng. Ở đây, GV phải chú ý sao cho lời
bình luận của những người quan sát không quá gắt gao.
Năm là, để dạy tốt bằng PPĐV, đòi hỏi người GV phải am hiểu về
PPĐV cũng như các yêu cầu và hình thức đóng vai. Trong dạy học đóng vai,
GV phải đóng vai trò vừa là “khán giả”, vừa là “trọng tài” công minh đánh
giá và đưa ra nhận xét xác đáng. PPĐV có ưu thế trong dạy học môn GDCD,
nhưng muốn vận dụng PP này GV phải có sự đầu tư công sức, phải có lương
tâm với nghề.
Thứ hai, đối với HS:
Một là, mọi HS đều được tham gia vào quá trình thảo luận, xây dựng
kịch bản, được đóng vai hoặc phục vụ cho công việc đóng vai của các bạn
trong nhóm. GV nên khích lệ cả các bạn nhút nhát tham gia vào các vai diễn.
Hai là, người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai
để không lạc đề và kết hợp, tương tác với các bạn diễn.
Thứ ba, đối với nhà trường:
Nhà trường cần chú ý đến điều kiện vật chất, phương tiện hỗ trợ dạy
học. Những yếu tố bên ngoài như: phòng học, âm thanh, ánh sáng, máy tính,
máy chiếu, cũng có tác động không nhỏ tới thành công của các vai diễn.
Chẳng hạn, nếu phòng học quá trật sẽ không có sân khấu để thực hiện diễn
xuất. Vì vậy, nhà trường cũng cần phải chú ý tới những yếu tố này để phục vụ
tốt cho việc đóng vai của HS.
20
Nguyễn Thị Nga Khóa luận tốt nghiệp
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đóng vai là một PPDH tích cực nhằm phát huy cao độ tính tự giác, độc
lập, sáng tạo của người học và tạo ra môi trường học tập tích cực. Trong đó,
người học được tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực hơn, hứng
thú học tập của người học được kích thích, hình thành ở các em kỹ năng tự
nghiên cứu và tự phát hiện tri thức mới. Ở nước ta, dạy học theo PPĐV đã
Năm 1976 - 1993, khi sáp nhập tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà
Sơn Bình, trường mang tên “Trường phổ thông cấp 3 Công nghiệp A”. Trong
những năm này, nhà trường rất chú trọng đến xây dựng đội ngũ GV dạy văn
hóa, GV hướng nghiệp và các xưởng trường. Nhiệm vụ chính của trường đặt
ra là giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức và văn hóa.
Hiện nay, do mở rộng địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội, tỉnh Hà
Tây hợp nhất với thành phố Hà Nội, trường được UBND thành phố Hà Nội
đổi tên thành “Trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông”. Nhà trường luôn duy
trì chất lượng giáo dục toàn diện, giữ vững danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc
trong khối THPT của thành phố, trên cơ sở thực hiện tốt các cuộc vận động và
phong trào thi đua của ngành giáo dục Thủ đô phát động, xứng đáng với niềm
tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân địa phương và thành phố Hà Nội. Trường
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông nằm ở số 03 Nguyễn Trãi, Phường Nguyễn
Trãi, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
22