Giáo trình nông lâm kết hợp - Pdf 14

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PGS.TS. ĐẶNG KIM VUI (Chủ biên) ThS. TRẦN QUỐC HÙNG - ThS. NGUYỄN
VĂN SỞ ThS. PHẠM QUANG VINH - ThS. LÊ QUANG BẢO - ThS. VÕ HÙNG

GIÁO TRÌNH NÔNG LÂM KẾT
HỢP
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2007
LỜI NÓI ĐẦU
Trong khoảng 2 thập niên cuối của thế kỷ 20, ngành nông lâm nghiệp đã và đang
có những biến đổi lý thú và quan trọng, trong đó phải kể đến sự ra đời của môn Nông
Lâm kết hợp. Môn này được trình thành do có sự gia tăng quan tâm đến việc hiện diện
của con người ở vùng rừng núi cao mà sự hiện diện này không phải lúc nào cũng là
nguyên nhân của sự suy thoái tài nguyên tự nhiên. Ngành Lâm Nghiệp hiện nay đang
phát triể
n thêm Lâm nghiệp ra hội đây cộng đồng trong đó cộng đồng người dân vùng
cao là các trợ thủ đắc lực của chính sách nông lâm nghiệp của nhiều quốc gia ở Châu
Á trong đó có Việt Nam. Cho đến nay, nhiều chính sách của nhà nước Việt Nam trong
đó có các chương trình 661, định canh định cư, giao đất khoán từng, và chương trình
327 đã hỗ trợ hàng vạn ha trồng rừng được tiến hành do sự hợp tác của dân cư và các
cơ quan nông lâm nghiệp nhà n
ước.
Trong hoàn cảnh hiện nay nhằm trang bị cho sinh viên những kiên thức mang
tính chất đa ngành để khi ra trường sinh viên có thểđáp ứng được các yêu cần thực tiễn
của sản xuất, chúng tôi đã tiên hành biên soạn giáo trình Nông Lâm Kết Hợp. Giáo
trình này được đặt cơ sở trên sự phối hợp hài hòa của các chuyên môn chính của nhà
trường như lâm nghiệp, nông nghiệp và chăn nuôi để tạo ra một ngành học phát triển
vững bền và mang tính bảo vệ sinh thái
ở vùng đồi núi cao. Đây cũng là kết quả của sự
hợp tác vềđào tạo giữa các trường Đại học trong nước gồm Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Đại Học Nông Lâm Thủ Đức, Đại Học Lâm Nghiệp Xuân Mai, Đại Học Nông

RVAC Hệ thống Rừng-vườn-Ao-Chuồng
SALT1 Kỹ thuật canh tác nông nghiiệp trên đất dố
c
SALT2 Kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất dốc
SALT3 Kỹ thuật canh tác nông nghiệp và chăn thảđơn giản
SALT4 Kỹ thuật canh tác vườn hộ trên đất dốc
PCARD Trung Tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông Lâm nghiệp Phillipin
ASF Cấu trúc mô phỏng theo rừng tự nhiên
IPM Quản lý sâu bệnh tổng hơp
PTD Phát triển kỹ thuật có sự tham gia
PMOE Giám sát, đánh giá có sự tham gia
PM Giám sát có sự tham Jia PE Đánh giá có sự tham gia
C, D&D Mô tả, Chẩn đoán và Thiết kế
SD Phát triển bền vững
SA Nông nghiệp bền vững
Chương I MỞ ĐẦU
1. CÁC VẤN ĐỀ THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI
NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1.1. CÁC VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MIỀN NÚI
Ở các quốc gia Đông Nam Á, khu vực đất nông thôn và miền núi chiếm phần lớn
diện tích lãnh thổ và là nơi sinh sống của một bộ phận lớn dân cư của quốc gia. Ở Việt
Nam, đất đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích và là vùng sinh sống của hơn 1/3 dân số
cả n
ước (Jamieson và cộng sự, 1998; Chu Hữu Quý, 1995; Rambo, 1995).
1.1.1. Tính chất mong manh và dễ bị tổn thương của đất và rừng nhiệt đới
Rừng và đất là hai nguồn tài nguyên cơ bản của vùng nhiệt đới ẩm. Khi không bị
tác động, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới vốn ổn định nhờ vào sựđa dạng cao độ của các
loài cây và con, được gắn kết với nhau thông qua các chu trình dinh dưỡng gần như
khép kín (Wamer, 1991). Theo Richard (1977) (trích dẫn bởi Wamer, 1991), sựổn
định

rất nhiều loài và dạng sống khác nhau.
• Đa dạng về dân tộc và văn hóa: Miền núi Việt Nam là địa bàn sinh sống của
hơn 1/3 dân số cả nước thuộc 54 dân tộc khác nhau. Mỗi dân tộc có các đặc điểm văn
hoá đặc thù (Jamieson và cộng sự, 1998).
• Đa dạng về các hệ thống canh tác truyền thống: Sựđa dạng vềđiều kiện tự nhiên
(điều kiện l
ập địa và sinh cảnh) và xã hội đã tạo nên sựđa dạng về hệ thống canh tác
truyền thống ở nông thôn miền núi. Các kiến thức kỹ thuật và quản lý truyền thống
trong sử dụng đất và canh tác của người dân ở nông thôn miền núi rất đa dạng, đã được
thử nghiệm, chọn lọc và phát triển qua nhiều thế kỷ.
• Nông thôn miền núi chịu ảnh hưởng của nhiề
u yếu tố kinh tế xã hội rất phức
tạp: Bên cạnh các đặc điểm phức tạp về tự nhiên như địa hình, tiểu khí hậu, đất đai và
sinh học, trong những thập kỷ gần đây khu vực nông thôn miền núi đang gánh chịu sự
tác động của nhiều nhân tố kinh tế xã hội như áp lực về dân số, sự biến động về chính
sách và kinh tế thị
trường, sự du nhập các yếu tố văn hóa, xã hội từ bên ngoài, v.v. đã
dẫn đến động thái/diễn biến tài nguyên sinh thái/nhân văn rất phức tạp, tạo ra những trở
ngại và thách thức lớn cho quản lý/sử dụng bền vững và có hiệu quả nguồn tài nguyên.

Tính đa dạng về sinh thái nhân văn của khu vực nông thôn miền núi là một trong
những cơ sở để đa dạng hóa các hệ thố
ng sử dụng đất, cũng như phát triển các hệ thống
sử dụng tài nguyên tổng hợp. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức lớn cho các nhà quản
lý, nhà lập chính sách do yêu cầu phải hình thành và phát triển từng hệ thống quản lý
sử dụng đất, các hệ thống canh tác phù hợp cho từng điều kiện sinh thái nhân văn đặc
thù.
1.2. CÁC THAY ĐỔI MANG TÍNH THÁCH THỨC CHO PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG NÔNG THÔN MIỀN NÚI
• Sự gia tăng áp lực dân s

Sự gia tăng dân sốđã tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên miền núi là rừng,
đất và nguồn nước, làm các nguồn tài nguyên quí giá này suy giảm nhanh chóng.
• Sự suy thoái về tài nguyên thiên nhiên và môi trường Văn hóa và xã hội
-Sự suy giảm nhanh chóng tài nguyên
rừng: Độ che phủ rừng cả nước giảm từ từ
40,7% vào 1940 xuống chỉ còn 27,7% vào
1993 (Đỗ Đình Sâm, 1994). Cách đây 50
năm, rừng tự nhiên bao phủ phần lớn khu
vực đồi núi nhưng trong những năm gầ
n
đây đã giảm xuống dưới 20% ở phần lớn
khu vực đồi núi phía Bắc, thậm chí có nơi
giảm còn 10% nhưở khu vực miền núi
vùng Tây Bắc. Các diện tích rừng còn lại
phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ
thấp và hiếm có loài cây có giá trị kinh tế.
Sự suy thoái của đất đai là điều dễ thấy ở khắp miền núi Việt Nam. Do thiếu rừng
che phủ
, xói mòn đất và rửa trôi chất dinh dưỡng diễn ra mạnh làm giảm độ màu mỡ
của đất. Canh tác nương rẫy vốn là phương thức canh tác truyền thống của các dân tộc
miền núi, tỏ ra khá phù hợp trong điều kiện mật độ dân cư thấp và tài nguyên rừng còn
phong phú Trong những thập kỷ gần đây, do áp lực dân số và sự suy giảm diện tích
rừng, giai đoạn canh tác kéo dài hơn và giai đoạn bỏ hóa b
ị rút ngắn lại, dẫn đến sự suy
giảm liên tục của độ phì đất và cỏ dại phát triển mạnh. Kết quả dẫn đến giảm năng suất
cây trồng một cách nhanh chóng.
Sự suy giảm về đa dạng sinh học. Nhiều loài động thực vật đã bị biến mất hoặc
trở nên khan hiếm. Nạn phá rừng, việc phát triển trồng rừng thuần loài và nông nghiệ
p
độc canh đã làm suy giảm đa dạng sinh học, trong đó chủ yếu bao gồm đa dạng di

dụng tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế.

Khái niệm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp một cách thuần túy và tách biệt theo
quan niệm trước đây đã trở nên không còn phù hợp ở nhiều khu vực dân cưở miền núi.
Phát triển sử dụng đất thuần nông hoặc thuần lâm đã bộc lộ nhiều hạn chế lớn, chẳng
hạn canh tác thuần nông trên đất dốc cho năng suất thấp và không ổn định trong khi
phát triển thuần lâm lại có khó khăn về nhu c
ầu lương thực trước mắt. Thực tiễn sản
xuất đã xuất hiện các phương thức sử dụng đất tổng hợp, có sựđan xen giữa nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
1.3. NHU CẦU VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG
THÔN MIỀN NÚI
1.3.1. Phát triển bền vững nông thôn và miền núi
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là quản lý và bảo tồn các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và định hướ
ng các thay đổi kỹ thuật và định chế nhằm đảm bảo
thoả mãn các nhu cầu của con người của các thế hệ hiện tại và trong tương lai. Đó là sự
phát triển đảm bảo bảo tồn đất, nước và các nguồn trên động thực vật, chống xuống cấp
về môi trường, phù hợp về kỹ thuật, khả thi vê kinh tế và được xã hội chấp nhận (FAO,
1995). Nói một cách đơn gi
ản hơn, phát triển bền vững chính là việc sử dụng tài
nguyên đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất của thế hệ hiện tại, trong khi vẫn bảo tồn
được nguồn tài nguyên cần cho nhu cầu của các thế hệ tương lai.
1.3.2. Các thách thức
Như vậy, bối cảnh thay đổi trên đã cho thấy một nhu cầu và cũng là một thách
thức lớn cho phát triển bền vững nông thôn và mi
ền núi là:
• Hình thành và phát triển các phương thức quản lý sử dụng tài nguyên thiên
nhiên (bao gồm rừng, đất và nước) một cách tổng hợp trong đó có sự dung hòa giữa các
lợi ích về kinh tế và bảo tồn tài nguyên môi trường

giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm. Phương thức này sau đó được áp dụng rộng
rãi ởẤn Độ và Nam Phi. Các nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp này thường

hướng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp, được thực hiện bởi các nhà lâm nghiệp với
việc luôn cố gắng đảm bảo các nguyên tắc
• Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loài cây rừng trồng là đối tượng
cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống
• Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp
• Tố
i ưu hóa về thời gian canh tác cây trồng nông nghiệp sẽ đảm bảo tỉ lệ sống và
tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ
• Loài cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loài cây nông nghiệp
• Tối ưu hóa mật độ để đảm bảo sự sinh trưởng liên tục của cây trồng thân gỗ.
• Chính vì vậy mà các hệ thống này chưa được xem xét như là một hệ th
ống quản
lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair, 1995).

2.1.1.2. Các nhân tố làm tiền đề cho sự phát triển của nông lâm kết hợp trên phạm vi
toàn cầu
Nhiều nhân tố phát triển trong thập niên 70 của thế kỷ 20 đã tạo điều kiện cho
việc công nhận nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý sử dụng đất có khả năng áp
dụng cho cả trong nông nghiệp (trên nông trạ
i) và lâm nghiệp (trên đất rừng). Các nhân
tố này bao gồm:
• Sựđánh giá lại chính sách phát triển của Ngân hàng Thế giới (WB);
• Sự tái thẩm định các chính sách lâm nghiệp của Tổ chức Lương nông (FAO)
thuộc Liên hiệp quốc;
• Sự thức tỉnh các mối quan tâm khoa học về xen canh và hệ thống canh tác;
• Tình trạng thiếu lương thực ở nhiều vùng trên thế giới;
• Sự gia tăng nạn phá rừ

ết hợp mà còn thiết kế trợ
giúp nông dân thông qua gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, bảo vệ môi trường và
phát huy các lợi ích truyền thống của rừng. Trong thời gian này, bên cạnh phát triển
nông nghiệp, FAO đặc biệt chú trọng nhấn mạnh vai trò quan trong của lâm nghiệp
trong phát triển nông thôn, khuyến cáo nông dân và nhà nước nên chú trọng đặc biệt
đến các ích lợi của rừng và cây thân gỗ đến sản xuất nông nghiệp, khuyến cáo các nhà
quản lý s
ử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và lâm nghiệp vào hệ thống canh tác của
họ (Keng, 1979). Nhiều khái niệm mới về lâm nghiệp như lâm nghiệp cộng đồng, lâm
nghiệp xã hội đã được hình thành và áp dụng ở nhiều nước mà nông lâm kết hợp
thường được xem là một phương thức sử dụng đất nhiều tiềm năng, đem lại những lợi
ích trực tiếp cho cộ
ng đồng địa phương và toàn xã hội.
• Nạn phá rừng và tình trạng suy thoái môi trường
Cuối thập niên 70 và các năm đầu thập niên 80, sự suy thoái tài nguyên môi
trường toàn cầu, nhất là nạn phá rừng, đã trở thành mối quan tâm lo lắng lớn của toàn
xã hội. Sự phát triển của nông nghiệp nương rẫy đi kèm với áp lực dân số, sự phát triển
nông nghiệp thâm canh hóa học, độc canh trên qui mô lớn và khai thác lâm sản là
những nguyên nhân chủ yếu gây ra s
ự mất rừng, suy thoái đất đai và đa dạng sinh học.
Theo ước tính của FAO (1982), du canh là nguyên nhân tạo ra hơn 70% của tổng diện
tích rừng nhiệt đới bị mất ở châu Phi; diện tích đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy chiếm
26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở châu Phi, khoảng 16% ở châu Mỹ Latin và
22,7% ở khu vực nhiệt đới của châu Á.
• Sự gia tăng các môi quan tâm về nghiên cứu các hệ thống canh tác tổng hợ
p và
các hệ thống kỹ thuật truyền thống
Thực trạng này cùng nhiều nỗ lực nghiên cứu đã gợi mở ra các chiến lược quản lý
sử dụng đất tổng hợp thay thế cho các phương thức quản lý hiện thời không bền vững
đã được xác định là một xu hướng tất yếu. Chẳng hạn như các nhà sinh thái học đã

giữa lâm nghiệp với nông nghiệp và chăn nuôi. Hay nói cách khác, đã có một sự
chuyển dịch trọng tâm từ lâm nghiệp sang những khái niệm sử dụng đất rộng hơn, phù
hợp hơn ở cả hai phương diện trực tiếp (trước mắt) và dài hạn (Bene và cộng sự, 1977).
Báo cáo dự án này của IDRC đã được các cơ quan quốc tế xem xét và dẫn
đến sự hình
thành Hội đồng Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp vào năm 1977, vào 1991 cơ
quan này được đổi tên thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp
(International Centre for Research in Agroforestry - ICRAF. Kể từ khi thành lập,
ICRAF là tổ chức luôn đi đầu trong thu thập thông tin, tiến hành các dự án nghiên cứu,
chuyển giao kết quả .
2.1.1.3. Sự phát triển phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển
Song song với sự phát triển khái niệm và các nghiên cứu k
ỹ thuật, phương pháp
tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp cũng không ngừng được
cải thiện. Trong một thập niên gần đây, các công cụ chẩn đoán - thiết kế - phát
triển đã được phát triển trên cơ sở lý luận của các tiếp cận có sự tham gia vốn
được sử dụng phổ biến trong lâm nghiệp xã hội. Các nghiên cứu phân tích ảnh
hưởng của môi trường chính sách đến phát triển nông lâm kết hợp và các tác độ
ng
của phát triển nông lâm kết hợp lên hệ thống sử dụng đất, cảnh quan và môi
trường kinh tế xã hội cũng như khả năng chấp nhận của nông dân cũng đang được
chú trọng xem xét. Bên cạnh đó, nhiều phương pháp nghiên cứu mới có liên quan
đến các ngành khoa học khác như khoa học đất, sinh lý học thực vật, sinh thái
học, khoa học hệ thống và mô phỏng, v.v. đã được áp dụng vào nghiên cứu nông
lâm kế
t hợp đã tạo ra được các tiến bộđáng kể trong nghiên cứu.
2.1.1.4. Sự hòa nhịp của nông lâm kết hợp vào chương trình đào tạo nông
nghiệp, lâm nghiệp và phát triển nông thôn
Ngày nay, các kiến thức về nông lâm kết hợp đã được đưa vào giảng dạy ở các
trường đại học, viện nghiên cứu-đào tạo về công nghiệp, lâm nghiệp, phát triển nông

Các thông tin, kiến thức về nông lâm kết hợp cũng đã được một số nhà khoa học,
tổ chức tổng kết được những góc độ khác nhau. Điển hình là các ấn phẩm c
ủa Lê Trọng
Cúc và cộng sự (1990) về việc xem xét và phân tích các hệ sinh thái nông nghiệp vùng
trung du miền Bắc trên cơ sở tiếp cận sinh thái nhân văn. Các hệ thống nông lâm kết
hợp điển hình trong nước đã được tổng kết bởi FAO và IIRR (1995), cũng nhưđã được
mô tả trong ấn phẩm của Cục Khuyến Nông và Khuyến lâm dưới dạng các "mô hình"
sử dụng đất Mittelman (1997) đã có một công trình tổng quan rất tết về hi
ện trạng nông
lâm kết hợp và lâm nghiệp xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là các nhân tố chính sách ảnh
hưởng đến sự phát triển nông lâm kết hợp. Tuy nhiên các tư liệu nghiên cứu về tương
tác giữa phát triển nông lâm kết hợp với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội xung
quanh (vi mô và vĩ mô) vẫn còn rất ít.

2.2. LỢI ÍCH CỦA CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP VÀ THÁCH THỨC
2.2.1. Các lợi ích của nông lâm kết hợp
Th
ực tiễn sản xuất cũng như nhiều công trình nghiên cứu trung và dài hạn ở nhiều
nơi trên thế giới đã cho thấy nông lâm kết hợp là một phương thức sử dụng tài nguyên
tổng hợp có tiềm năng thoả mãn các yếu tố của phát triển nông thôn và miền núi bền
vững. Các lợi ích mà nông lâm kết hợp có thể mang lại rất đa dạng, tuy nhiên có thể
chia thành 2 nhóm nhóm các lợi ích trực tiếp cho đời số
ng cộng đồng và nhóm các lợi
ích gián tiếp cho cộng đồng và xã hội.
2.2.1.1. Các lợi ích trực tiếp của nông lâm kết hợp
Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình nông lâm kết hợp được hình
thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực thực phẩm, có
giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình. Điển hình là hệ thống VAC
được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn ở nước ta. Ưu điểm của các hệ thống
nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên

Ngoài ra, trong các hệ thống nông lâm kết hợp do hiệu quả sử dụng chất dinh
dưỡng của cây trồng cao nên làm giảm nhu cầu bón phân hóa học, vì thế giảm nguy cơ
ô nhiễm các nguồn nước ngầm (Young, 1997).
• Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:
Thông qua việc cung cấp một phần lâm sản cho nông hộ, nông lâm kết hợp có thể
làm giảm t
ốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên. Mặt khác, nông lâm kết hợp là
phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp
bằng khai hoang rừng. Chính vì vậy mà canh tác nông lâm kết hợp sẽ làm giảm sức ép
của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng (Young, 1997).
Các hộ nông dân qua canh tác theo phương thức này sẽ dần dần nhận thức được
vai trò của cây thân g
ỗ trong việc bảo vệ đất, nước và sẽ có đổi mới về kiến thức, thái
độ có lợi cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng.
Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của hệ
thống trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại và cảnh quan.
Chính vì các lợi ích này mà nông lâm kết hợp thường được chú trọng phát triển
trong công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồ
n thiên nhiên và bảo tồn
nguồn tiền.
• Nông lâm kết hợp và việc làm giảm hiệu ứng nhà kính:
Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển nông lâm kết hợp trên qui mô lớn
có thể làm giảm khí CO2 và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác (Dioxon, 1995,
1996; Schroeder, 1994). Các cơ chế của tác động này có thể là: sự đồng hóa khí CO
2
của cây thân gỗ trên nông trại; gia tăng lượng cacbon trong đất và giảm nạn phá rừng
(Young, 1997).
2.2.2. Tiềm năng và triển vọng phát triển nông lâm kết hợp ở Việt Nam
• Sựđa dạng về sinh thái môi trường ở Việt Nam
-Đa dạng vềđiều kiện lập địa (đất đai, địa hình và tiểu khí hậu)

thiên lệch về kinh tế - kỹ thuật cô lập, chưa phối hợp được các kỹ thuật mới với các yếu
tố kiến thức kỹ thuật, đặc điểm văn hóa và nhân văn truyền thống của các cộng đồng
địa phương.
Công tác phát triển kỹ thuật nông lâm kế
t hợp nhiều nơi vẫn tiến hành theo lối áp
đặt từ trên xuống, chưa phát huy được nội lực và tính tự chủ của nông dân và cộng
đồng dẫn đến tính bền vững của các chương trình phát triển còn thấp.
Các nghiên cứu phân tích đánh giá các mô hình thường còn quá chú trọng về yếu
tố kinh tế kỹ thuật và xem nhẹ khía cạnh xã hội, thể chế cũng như tương tác của các hệ
thống nông lâm kết hợp với môi trường và cảnh quang. Vẫn còn quá ít các kết quả
nghiên cứu so sánh hệ thống nông lâm kết hợp với các hệ thống nông nghiệp, lâm
nghiệp trên các phương diện sinh thái, môi trường và kinh tế do thiếu các dự án nghiên
cứu/điểm nghiên cứu dài hạn.

Việc qui hoạch phát triển nông lâm kết hợp thường được tiến hành một cách độc
lập tách rời với tiến trình qui hoạch sử đụng đất ở nhiều nơi nên thường dẫn đến việc
đưa các "mô hình" nông lâm kết hợp thay thế các loại hình sử dụng đất hiện có. Trong
khi đó về mặt nguyên lý thì việc phát triển nông lâm kết hợp phải được dựa trên cơ sở
chẩn đoán các h
ạn chế trong sử đụng đất hiện hành và điều chỉnh chúng hơn là thay thế
hoàn toàn (Young, 1987, 1997). Chính vì thế, phát triển nông lâm kết hợp cần phối hợp
và lồng ghép với tiến trình qui hoạch sử dụng đất cũng như qui hoạch quản lý khu vực
đầu nguồn.
Để có thể thúc đẩy quá trình phát triển nông lâm kết hợp trong thực tiễn có hiệu
quả, phù hợp với nông dân, đảm bảo tính bền vững và công bằ
ng, cán bộ kỹ thuật cần
được trang bị các kiến thức và kỹ năng và thái độ có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau: sinh thái học, sinh thái nhân văn, các khoa học lâm nghiệp, nông học, chăn nuôi,
thủy sản, quản lý bảo tồn đất và nước, phân tích kinh tế nông trại, các phương pháp
nghiên cứu hệ thống và tiếp cận nghiên cứu-phát triển có sự tham gia, v.v… cũng như

lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy
tính trên cùng một đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi
dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống nông lâm kết
Hợp có mối tác động hỗ tương qua lạ
i về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành
phần của chúng (Lundgren và Raintree, 1983). Xem hình ở trang 21 để thấy rõ sự phối
hợp của 3 thành phần trên.
Các khái niệm trên đơn giản mô tả nông lâm kết hợp như là một loạt các hướng
dẫn cho một sự sử dụng đất liên tục. Tuy nhiên, nông lâm kết hợp như là một kỹ thuật
và khoa học đã được phát triển thành một điều gì khác hơn là các hướ
ng dẫn. Ngày nay
nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã
phối hợp sựđa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên một cách bền vững. Trong nỗ lực
để định nghĩa nông lâm kết hợp theo ý nghĩa tổng thể và mang đậm tính sinh thái môi
trường hơn, Leaky (1996) đã mô tả nó như là các hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở
trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông
trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất giúp gia tăng các lợi ích về xã
hội, kinh tế và môi trường của các nông trại nhỏ
. Vào năm 1997, Trung Tâm Quốc Tế
Nghiên Cứu về Nông Lâm kết hợp (gọi tắt là ICRAF) đã xem xét lại khái niệm nông
lâm kết hợp và phát triển nó rộng hơn như là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong
các nông trại. Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt
cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào
nông tr
ại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích
về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ
đến "kinh tế trang trại". Một cách đơn giản, nông lâm kết hợp là trồng cây trên nông
trại. ICRAF đã định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng
động và lấy y
ếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại

Cấu trúc và chức năng của hệ thống thì phong phú đa dạng hơn so với canh tác
độc canh.
Tóm lại, nông lâm kết hợp với sự phối hợp có suy tính giữa các thành phần khác
nhau của nó đã mang đến cho các hệ thống sản xuất nông nghiệp các điểm chính sau:
Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững.
Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất.
Sắp xếp hoa màu cách tác phù hợp giữa nhiều thành phần cây lâu năm hoa màu
và/hay vật nuôi theo không gian và thời gian trên cùng một diện tích đất.
Đóng góp vào phát triển cho các cộng đồng dân cư về các mặt dân sinh, kinh tế
và hoàn cảnh sinh thái mà vẫn tương thích với các đặc điểm văn hoá, xã hội của họ.
Kỹ thuật của nó mang đậm nét bảo tồn sinh thái môi trường.

1.1.3. Đặc điểm của hệ thống Nông lâm kết hợp phù hợp
Một hệ thống Nông lâm kết hợp phù hợp khi h
ội đủ các điều kiện sau đây:
+ Có sức sản xuất cao
Sản xuất các lợi ích trực tiếp như lương thực, thức ăn gia súc, chất đốt, sợi, gỗ,
cừ cột và xây dựng, các sản phẩm khác như chai, mủ, nhựa, dầu thực vật, thuốc trị bệnh
thực vật v.v.
Sản xuất các lợi gián tiếp hay "dịch vụ" như bả
o tồn đất và nước (xói mòn đất,
vật liệu tủ đất, v.v ) cải tạo độ phì của đất (phân hữu cơ, phân xanh, bơm dưỡng chất từ
tầng đất sâu, phân huỷ và chuyển hoá dưỡng chất), cải thiện điều kiện tiểu khí hậu
(băng phòng hộ, che bóng) làm hàng cây xanh, v.v.
Gia tăng thu nhập của nông dân.

+ Mang tính bền vững
Áp dụng các chiến thuật bảo tồn đất và n
ước để đảm bảo sức sản xuất lâu dài .
Đòi hỏi có vài hình thức hỗ trợ trong kỹ thuật chuyển giao để đảm bảo sự tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status