Luận văn tốt nghiệp Đề tài thiết lập định mức và tái điều độ Công việc tại xưởng gỗ Công ty SCAMCOM VN - Pdf 14

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
THIẾT LẬP ĐỊNH MỨC
VÀ TÁI ĐIỀU ĐỘ CÔNG VIỆC
TẠI XƯỞNG GỖ - CÔNG TY SCAMCOM VN
TPHCM
1
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nội dung của luận văn tốt nghiệp: thiết lập qui trình xây dựng định mức thời gian sản
xuất cho đơn vị sản phẩm nhằm phục vụ cho công tác lập kế hoạch và điều độ, giúp
tăng tính chính xác, giảm nguy cơ trễ đơn hàng
Luận văn bắt đầu từ việc xác định các biến động ảnh hưởng đến thời gian sản
xuất, các phương pháp đánh giá hiệu suất công việc, các yếu tố nghiên cứu thời gian.
Sau khi đã có đầy đủ các yếu tố cần thiết, luận văn tiến hành thu thập các số liệu liên
quan và thiết lập ra qui trình tính toán thời gian sản xuất thực cho đơn vị sản phẩm.
Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng vào cho một sản phẩm cụ thể, đưa ra mô hình
thời gian sản xuất thực cho sản phẩm, kết hợp với điều độ sản xuất để tính toán khả
năng đáp ứng đơn hàng cũng như độ chính xác của qui trình
2
MỤC LỤC
THIẾT LẬP ĐỊNH MỨC 1
VÀ TÁI ĐIỀU ĐỘ CÔNG VIỆC 1
TẠI XƯỞNG GỖ - CÔNG TY SCAMCOM VN 1
2.6 HỆ THỐNG LẮP RÁP CHUYỀN SẢN XUẤT: 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 90
DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1. Phương pháp luận của luận văn 3
Hình 2.1. Sơ đồ các loại điều chỉnh theo chức năng 15
Hình 2.2. Sơ đồ dòng thông tin trong hệ thống sản xuất 17
Hình 2.3. Dòng thông tin và dịch vụ 18
Hình 2.4. Mô hình Flowshop linh hoạt 20

Bảng 4.3. Những yếu tố liên quan đến thời gian sản xuất 58
Bảng 4.4 Bù trừ trong điều kiện sản xuất 60
Bảng 4.5. Hệ số bù trừ thời gian người tương ứng từng loại máy 62
Bảng 4.6. Thời gian canh chỉnh máy 63
Bảng 4.7. Thời gian thay công cụ 64
Bảng 5.1: Qui trình gia công sản phẩm bàn Hawaii Recttable 69
Bảng 5.2: Hệ số tính toán bù trừ máy 71
Bảng 5.3. Thông số kỹ thuật của sản phẩm 73
Bảng 5.4. Thời gian gia công kỹ thuật của sản phẩm 74
4
Bảng 5.5. Thời gian sau hiệu chỉnh 76
Bảng 5.6. Bảng kết quả thời gian sản xuất một sản phẩm 78
Bảng 5.7. Phân loại nhóm máy 80
Bảng 5.8: Ký hiệu chi tiết 80
Bảng 5.9. Bảng báo cáo năng suất 81
Bảng 5.10. Thời gian gia công sản phẩm 82
Bảng 5.11. Bước lặp thứ 1 của giải thuật FFLL 83
Bảng 5.12. Bước lặp thứ 2 của giải thuật FFLL 83
Bảng 5.13. Bước lặp thứ 3 của giải thuật FFLL 84
Bảng 5.14. Bước lặp thứ 4 của giải thuật FFLL 84
Bảng 5.15. Bước lặp thứ 5 của giải thuật FFLL 85
Bảng 5.16. Bước lặp thứ 6 của giải thuật FFLL 85
Bảng 5.17. Bước lặp thứ 6 của giải thuật FFLL 86
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ :
Scancom là tập đoàn chuyên sản xuất đồ gỗ dùng cho ngoài trời. Hiện tại công ty đang
sản xuất và cung cấp hàng cho nhiều nhà phân phối tại Châu Âu cũng như thị trường
Mĩ. Các chủng loại hàng hóa của công ty rất đa dạng và phong phú, chủ yếu là phục vụ
cho việc trang trí ngoại thất của các khu nghỉ mát và khách sạn lớn trên thế giới. Sản
phẩm là hàng ngoài trời do đó vòng thời gian tồn tại là rất ngắn. Các mặt hàng thay đổi

 Áp dụng cụ thể cho công ty TNHH Scancom Việt Nam để hỗ trợ việc hoạch
định năng lực sản xuất hiện tại của công ty
1.3 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
 Tìm hiểu lý thuyết về thiết lập định mức thời gian, đánh giá hiệu suất công việc
 Tìm hiểu lý thuyết về điều độ cho mô hình flexible Flowshop
 Tìm hiểu về hoạt động sản xuất của công ty, thu thập và xử lý số liệu
 Thiết lập qui trình xây dựng định mức thời gian cho đơn vị sản phẩm
 Áp dụng cho một sản phẩm cụ thể, khảo sát trên một đơn hàng trong quá khứ để
đánh giá nghiên cứu và định hướng mở rộng
1.4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu của luận văn dựa trên việc tìm hiểu các vấn đề hiện
trạng của công ty, từ đó xác định nên các vấn đề thực tiễn cần giải quyếr.
Sau đó ta khoanh vùng các vấn đề đáng quan tâm.Tìm hiểu các bộ phận, phòng
ban liên quan để hiểu rõ từng qui trình, công đoạn một cách cụ thể và chi tiết. Từ đó so
sánh với những mong muốn của công ty và tìm cách rút ngắn khoảng cách khác biệt
giữa thực tế và mong muốn
Các cơ sở nghiên cứu lý thuyết có liên quan (như hoạch định năng lực sản xuất,
định mức thời gian,…)sẽ được tìm hiểu để có thể tạo được nền tảng lý luận nhằm giải
quyếr các vấn đề mong muốn, đồng thời cụng hỗ trợ cho việc thu thập, phân tích và xử
lý số liệu dễ dàng hơn
Để có một cái nhìn khái quát về phương pháp luận, sau đậy là sơ đồ tóm tắt:
6
Hình 1.1: Phương pháp luận của luận văn
1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Chương 1 : Giới thiệu
Chương này nêu lên lý do hình thành đề tài, đưa ra các mục tiêu, nội dung cụ thể thực
hiện, phương pháp luận và trình bày cấu trúc của luận văn
Chưong 2: cơ sở lý thuyết
Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết về nghiên cứu định mức thời gian,
lý thuyết về điều độ sản xuất liên quan đến đề tài luận văn

giữa máy này với máy khác. Lấy định mức công việc làm cộng cụ quản lý, các nhà quản
lý đã sử dụng các định mức này theo nhiều cách:
 Khuyến khích công nhân: Có thể dùng các định mức để xác định khối lượng
cộng việc trong một ngày, do đó sẽ kích thích công nhân tăng năng suất. Ví dụ,
với kế hoạch trả lương khuyến khích, công nhân sẽ được phần thưởng xứng
đáng khi làm ra thành phẩm vượt định mức.
 So sánh với các thiết kế quá trình tương tự có thể thay thế nhau: Các định mức
thời gian được dùng để so sánh các quy trình sản xuất khác nhau cho cùng một
sản phẩm. Nhà quản lý cũng có thể dùng định mức thời gian để đánh giá các
phương pháp làm việc mới, và để ước lượng những ưu điểm của việc sử dụng
thiết bị mới.
 Lên lịch trình: Nhà quản lý cần có định mức thời gian để giao nhiệm vụ cho
công nhân và cho máy móc nhằm sử dụng các tiềm năng một cách hiệu quả nhất.
 Hoạch định năng lực sản xuất: Nhờ có định mức thời gian của các nhiệm vụ, nhà
quản lý có thể xác định các yêu cầu về năng lực sản xuất hiện tại và các dự kiến
cho tương lai với các yêu cầu mang tính chất bắt buộc đã đặt ra. Các quyết định
đầu tư vốn và lực lượng sản xuất cho dài hạn có thể cũng cần đến các ước lượng
thời gian này.
 Xác định giá thành và giá cả.
 Đánh giá hiệu năng.
2.1.3 Các thiết bị nghiên cứu thời gian
 Đồng hồ bấm giờ (Stopwatch):
Ngày nay người ta sử dụng hai loại đồng hồ bấm giờ: (1) loại truyền thống, đồng hồ
bấm được đến 0.01 phút. Và (2) là loại đồng hồ điện tử, thường được sử dụng nhiều
hơn, cfó thể bấn đến 0.001 giây, có độ chính xác
±
0.002%.
 Máy quay phim:
Máy quay phim (videotape cameras) là phương pháp ghi lại hoạt động của người vận
hành và thời gian trôi qua. Chúng có thể thiết lập định mức bằng cách chiếu phim ở

có thể được chia nhỏ trong những nhóm những sự chuyển động được biết như” những
phần tử”.
 Tiêu chuẩn chọn lọc phần tử
Mỗi phân tử phải cho phép phân rõ ràng sự bắt đầu và sự kết thúc.
2.1.5 Phương pháp xác định định mức thời gian [2]
Phương pháp hay gặp nhất để thiết lập các định mức thời gian cho một công việc là
khảo sát thời gian.
a. Một công việc được chia thành nhiều phần nhỏ hơn, dùng đồng hồ bấm giờ, nhà
phân tích tiến hành một khảo sát thực nghiệm bằng cách tính giờ đối với một công nhân
đã huấn luyện thực hiệc các phần việc đó qua một số chu kỳ công tác, rồi tính thời gian
cho từng phần việc.
10
b.Thu được các thông tin từ việc khảo sát thử nghiệm đó, nhà phân tích sẽ xác định
được quy mô lấy mẫu như vậy có đủ để cho độ chính xác như yêu cầu trong việc ước
lượng thời gian trung bình hay không. Nếu không, phải tiến hành thêm những quan sát
bổ sung.
c. Khi quy mô lấy mẫu được xem là đủ, nhà phân tích bước sang giai đoạn xây dựng
định mức thời gian cho công việc đó, bằng cách bổ sung thêm những thông tin như đánh
giá mức độ hoàn thành và khấu trừ bớt thời gian để tránh các biến động trong sản xuất
Phương pháp xác định thời gian định mức gồm các bước sau:
Bước 1: Chọn các phần việc.
Bước đầu tiên trong một cuộc khảo sát thời gian là chọn các phần việc đặc trưng. Chọn
các phần việc phải tiến hành một số cân nhắc. Trước hết mỗi phần việc phải có điểm bắt
đầu và điểm kết thúc rõ ràng để thuận tiện trong việc đọc đồng hồ bấm giờ. Thứ hai,
tránh chọn các phần việc chỉ kéo dài dưới 3 giây vì rất khó tính giờ. Cuối cùng, các
phần việc này phải tương ứng với môi trường làm việc tiêu chuẩn. Phải phân biệt các
thao tác ngẫu nhiên không liên quan một cách bình thường với nhiệm vụ, và phải tách
chúng ra khỏi công viêc lặp lại này.
Bước 2: Đo thời gian công việc.
Sau khi đã xác định được các phần việc đặc trưng, người ta chọn một công nhân đã

Khi n càng lớn, phân bố nhị thức sẽ chuyển về phân bố chuẩn. Các thông số như xác
suất p và độ lệch chuẩn
n
pq
sẽ được xấp xỉ thành các thông số của phân bố chuẩn.
Trong công tác lấy mẫu, chúng ta lấy một mẫu với kích thước n để cố gắng ước lượng p.
Chúng ta kì vọng giá trị
p
ˆ
nằm trong vùng p± 2 giá trị độ lệch chuẩn trong 95% thời
gian. Nói cách khác, nếu p là giá trị cho trước, chúng ta có thể kì vọng
p
ˆ
nằm ngoài
vùng p± 2 giá trị độ lệch chuẩn chỉ 5 lần trong 100 quan sát.
Lý thuyết này có thể dùng để ước lượng kích thước mẫu cần thiết để đạt được một mức
độ chính xác cho trước. Công thức tính độ lệch chuẩn
n
pp
n
pq
p
)1(

==
σ
(2,2)
Trong đó σ
p
: độ lệch chuẩn của giá trị %

=
n
Bước 4: Thiết lập định mức.
Bước cuối cùng là thiết lập định mức. Trước hết nhà phân tích xác định thời gian
chuẩn (normal time – NT) cho từng phần việc bằng cách phán đoán tốc độ thực hiện của
người công nhân được khảo sát. Nhà phân tích phải đánh giá tốc độ của công nhân đó
thấp hơn hay cao hơn mức trung bình, mà còn phải biết thấp hơn hay cao hơn bao nhiêu.
Nhà phân tích gán một hệ số đánh giá hiệu năng (performance rating factor –
RF) cho sự thực hiện của người công nhân đó trong từng phần việc. Hệ số đánh giá hiệu
năng lớn hơn 1 nghĩa là trong đánh giá chủ quan của người quan sát, việc thực hiện của
người công nhân là nhanh hơn khi anh ta làm trong điều kiện bình thường (nghĩa là sản
12
xuất được nhiều sản phẩm hơn trong cùng một khoảng thời gian đã cho). Trong những
trường hợp khác việc thực hiện của công nhân có thể thấp hơn khi anh ta làm trong điều
kiện bình thường. Sự xếp hạng này là một phán quyết duy nhất của nhà phân tích dựa
trên kinh nghiệm.
Một hệ số khác mà nhà phân tích phải nhận biết là tần số xuất hiện Fi (frequecy
ofoccurrnce) của một phần việc cụ thể trong chu kỳ làm việc vì một phần việc có thể
không được thực hiện trong mọi chu kỳ.
Nhà phân tích sẽ nhân thời gian trung bình (
i
t
) với tần suất (F i) của phần việc
đó trong mỗi chu kì, và với hệ số đánh giá (RF i) để thu gọn thời gian bình thường cho
phần việc I và thời gian bình thường cho chu kỳ (normal time for a cycle – NTC), tức
là:
))((
III
RFFtNT
=

Thông thường giá trị này nằm trong khoảng từ 10 dến 20 phần trăm thời gian bình
thường. Nó là khoảng khấu trừ cho các yếu tố như sự mệt mỏi hoặc các chậm trễ không
mong muốn mà việc đo lường rất khó thực hiện. Thông thường thì chỉ có một số ít công
nhân được theo dõi trong một quá trình khảo sát thời gian, và hiệu năng của họ ít khi
phù hợp với quan điểm được dùng trong việc xác định tiêu chuẩn. Do đó, nhà phân tích
phải có ý kiến phán quyết về thời gian theo dõi trung bình để ước tính thời gian mà một
người được huấn luyện cần phải có để thực hiện nhiệm vụ này với một tốc độ bình
thường.
13
 Thứ tư, là đánh giá tốc độ thực hiện của công nhân.
Chẳng may, nhà phân tích lại không thể tránh phán quyết nếu không muốn khảo sát tất
cả công nhân và dùng thời gian trung bình của họ làm định mức trong việc đánh giá
hiệu năng. Nếu những công nhân đó làm nhanh, thì sẽ không công bằng trong việc xây
dựng định mức dựa trên thời gian trung bình của họ, nhất là khi có liên quan đến một kế
hoạch kích thích sản xuất bằng lương.
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến định mức thời gian [2]
Để có thể xác định được thời gian gia công và kiểm soát được các yếu tố tác động đến
thời gian thực hiện của công nhân và cách định lượng chúng. Các nhân tố ấy bao gồm :
 Con người.
 Công việc.
 Máy móc.
 Chất lượng.
 Phương pháp.
Trong việc đo lường thời gian thực hiện của công việc, người phân tích quan sát cẩn
thận hoạt động của công nhân. Tuy nhiên, những hoạt động đó ít khi được thực hiện ở
tốc độ bình thường.
2.1.7 Phương pháp đánh giá hiệu suất công việc [1, 148]
Có nhiều phương pháp thực hiện đánh giá hiệu suất công việc. Trong đó, hệ thống
Westinghouse là một trong những hệ thống đánh giá hiệu suất công việc lâu đời nhất và
được sử dụng rộng rãi nhất. Hệ thống được phát triển bởi Công ty Điện lực

chỉnh bởi công nhân. Khi đánh giá nổ lực, nhà phân tích xem xét những nổ lực
có ích.
Nổ lực được phân thành 6 bậc: quá mức, tốt, khá, trung bình, dưới trung bình và kém.
Các giá trị phần trăm tương ứng thay đổi từ +0.13 đến -0.17 như trong
Bảng 2.2: Đánh giá theo nổ lực
+0.13 A1 Quá mức
0.12 A2 Quá mức
0.10 B1 Tốt
0.08 B2 Tốt
0.05 C1 Khá
0.02 C2 Khá
0.00 D Trung bình
-0.04 E1 Dưới trung bình
-0.08 E2 Dưới trung bình
-0.12 F1 Kém
-0.17 F2 Kém
(Nguồn: [1, 149])
 Điều kiện làm việc: trong phần này là những điều kiện ảnh hưởng đến người
công nhân, không ảnh hưởng đến công việc. Chúng bao gồm những yếu tố như
nhiệt độ, thông gió, ánh sáng và tiếng ồn. Điều kiện làm việc cụ thể sẽ được so
sánh với điều kiện bình thường. Những yếu tố khác như công cụ, vật liệu không
được xét trong phần này.
Có 6 loại điều kiện làm việc với các giá trị đánh giá tương ứng được cho trong
Bảng 2.3: Đánh giá theo điều kiện làm việc
+0.06 A Lí tưởng
+0.04 B Tốt
+0.02 C Khá
0.00 D Trung bình
15
-0.03 E Dưới trung bình

thời gian bình thường (NT) được mô tả ở phần trên không bao gồm những trì hoãn
không tránh được mà đôi khi không được quan sát và những thời gian thất thoát chính
đáng khác. Bejamin và Andris (1999) đã đưa ra khái niệm độ điều chỉnh (allowance)
như là phần bù trừ cho những thời gian thất thoát trên. Lý thuyết về độ điều chỉnh được
tóm tắt như sau:
.a Độ điều chỉnh được áp dụng theo ba cách:
Cho thời gian chu kỳ tổng: diễn tả phần trăm thời gian bù trừ cho những trì hoãn vì nhu
cầu cá nhân, quét dọn nơi làm việc và vô dầu máy móc.
Cho máy móc: thời gian trừ hao cho bảo trì dụng cụ và biến thiên nguồn điện.
16
Cho công việc bằng tay: thời gian trừ hao cho mệt mỏi và những trì hoãn không tránh
được.
B. phương pháp thường được sử dụng để xây dựng độ điều chỉnh:
Nghiên cứu quá trình sản xuất: đòi hỏi người quan sát lấy hai hoặc ba công đoạn trong
một khoảng thời gian dài. Người quan sát sẽ ghi lại thời gian chu kì quan sát và lí do
của những khoảng thời gian rỗi. Sau khi thiết lập được những mẫu thích hợp, người
quan sát sẽ xác định phần trăm điều chỉnh cho mỗi đại lượng quan tâm. Dữ liệu về thời
gian thu thập được theo phương pháp này phải được điều chỉnh thành mức độ hoạt động
bình thường.
Phương pháp lấy mẫu: phương pháp này đòi hỏi phải lấy một số lượng lớn các quan sát
ngẫu nhiên. Người quan sát không cần dùng đồng hồ để bấm giờ mà chỉ cần đi tới khu
vực công nhân làm việc ở những thời điểm ngẫu nhiên và ghi chú lại công việc mà công
nhân đó đang thực hiện. Số lần trì hoãn sẽ được ghi lại và chia cho tổng số lần quan sát.
Từ đó sẽ tính được độ điều chỉnh cần thiết cho công nhân.
Sơ đồ các loại điều chỉnh theo chức năng trình bày các yếu tố cấu thành nên độ điều
chỉnh.
Hình 2.1: Sơ đồ các loại điều chỉnh theo chức năng.
(Nguồn: [2, 18])
Nhu cầu cá nhân: bao gồm những sự tạm dừng công việc để duy trì hoạt động của con
người, ví dụ như đi uống nước hay đi vệ sinh. Điều kiện làm việc và loại công việc ảnh

công nhân mới, công việc với trách nhiệm nhẹ v.v Chúng được quyết định bởi nhà
quản lý hay tổ chức Công đoàn.
Có hai cách để áp dụng độ điều chỉnh. Trong đó, cách phổ biến nhất là cộng một tỉ lệ
phần trăm vào thời gian bình thường (NT), độ điều chỉnh khi đó chỉ dựa trên thời gian
sản xuất. Công thức tính thời gian chuẩn:
ST = NT*(1 + allowance)
Trong đó: ST = thời gian chuẩn.
NT = thời gian bình thường.
Một số công ty áp dụng độ điều chỉnh bằng cách tính phần trăm cho cả ngày làm việc
bởi vì thời gian sản xuất thật không được tính.
Đánh giá độ điều chỉnh đòi hỏi người phân tích phải cẩn thận. Giá trị thời gian chuẩn
đạt được sẽ không có nghĩa nếu trong quá trình phân tích, các công đoạn được chia nhỏ
hợp lý, đo lường thời gian chính xác, đánh giá hiệu suất công việc chính xác nhưng lại
phân cho độ điều chỉnh một cách tùy ý. Nếu độ điều chỉnh được cho quá cao sẽ dẫn đến
chi phí sản xuất cao một cách vô lý, ngược lại nếu độ điều chỉnh được cho quá thấp sẽ
gây ảnh hưởng không tốt đến công nhân và hoạt động sản xuất của công ty.
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU ĐỘ SẢN XUẤT
2.2.1 Vai trò và tác động của điều độ:
Điều độ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và dịch vụ. Nó được sử dụng trong hoạt
động sản xuất và dịch vụ, trong vận chuyển và phân phối và trong quá trình thông tin
liên lạc. Hoạt động của điều độ trong một công ty là sử dụng các kỹ thuật toán học hay
các phương pháp kinh nghiệm để phân bổ các nguồn lực giới hạn để thực hiện công
việc. Một sự phân bổ đúng các nguồn lực cho phép công ty tối ưu các mục tiêu và đạt
các mục đích. Các nguồn lực có thể là máy móc trong phân xưởng hay đường băng của
sân bay…. Công việc có thể là các tác vụ ở phân xưởng, việc cất cánh và hạ cánh ở sân
bay, các giai đoạn trong một dự án xây dựng…. Mỗi công việc có một độ ưu tiên, thời
điểm có thể bắt đầu sớm nhất và ngày tới hạn. Các mục tiêu có thể có nhiều dạng như
cực tiểu thời gian hoàn thành để hoàn thành tất cả các công việc hay cực tiểu số công
việc bị trễ.
18

điều đó, MRP sử dụng kỹ thuật như lot sizing and lot scheduling, kỹ thuật này tương tự
như kỹ thuật sử dụng trong hệ thống điều độ.
Các nhà máy hiện đại thường sử dụng hệ thống thông tin sản xuất phức tạp, liên
quan đến một máy tính trung tâm và cơ sở dữ liệu. Mạng máy tính cá nhân cục bộ, trạm
công việc, và toàn bộ cơ sở dữ liệu được kết nối với máy tính trung tâm này.
19
Hình 2.2: Sơ đồ dòng thông tin trong hệ thống sản xuất
(Nguồn: [3, 15])
2.2.2.2 Điều độ trong dịch vụ [3, 16]
Để mô tả một tổ chức dịch vụ chung và hệ thống điều độ của nó thì không dễ. Chức
năng điều độ trong một tổ chức dịch vụ có thể gặp nhiều bài toán khác nhau như : đặt
trước các nguồn lực (xe tải, phòng họp, các thiết bị khác) hay điều độ lực lượng lao
động (phân bổ ca làm việc). Thuật toán sử dụng trong môi trường dịch vụ hoàn toàn
khác với thuật toán sử dụng trong sản xuất. Tuy nhiên, điều độ trong cả hai môi trường
phải kết hợp với các hàm ra quyết định khác. Hệ thống thông tin trong môi trường dịch
vụ cũng thường phụ thuộc vào cơ sở dữ liệu của tất cả thông tin liên quan đến khả năng
của các nguồn lực và khách hàng (tiềm tàng).
Hình 2.3 Dòng thông tin và dịch vụ
(Nguồn: [3, 16])
2.2.3 Các ký hiệu
 Thời gian xử lý công việc p
ij
: thời gian xử lý p
ij
là thời gian công việc j đang xử
lý trên máy i, ký tự i sẽ bị bỏ qua nếu thời gian xử lý công việc j không phụ
thuộc vào máy i hay nó chỉ được xử lý trên một máy duy nhất. Nếu có một số
công việc xác định j cần một khoảng thời gian xử lý trên một máy, thì ta xem
20
các công việc như một loại hàng j.

j
: là thời gian mà công việc j còn trong hệ thống.
F
j
= C
j
- r
j
2.2.4 Các loại mô hình máy
2.2.4.1 Mô hình máy đơn [3, 22]
Một số hệ thống sản xuất chú trọng đến mô hình máy đơn chẳng hạn như, khi một nút
cổ chai để xuất hiện trong môi trường nhiều máy thì chuỗi các công việc tại nút cổ chai
sẽ xác định hoạt động của toàn bộ hệ thống. Trong trường hợp này, tất cả các công việc
phía trước và sau của nút cổ chai sẽ được điều độ sau khi điều độ nút cổ chai. Điều này
có nghĩa là bài toán ban đầu đã được đưa về bài toán điều độ máy đơn. Mô hình máy
đơn cũng rất quan trọng trong các phương pháp phân tích, trong đó các bài toán điều độ
trong các môi trường phức tạp đã được chia ra thành các bài toán điều độ dạng máy đơn
nhỏ.
Mô hình máy đơn đã được phân tích kỹ lưỡng dưới tất cả các loại các điều kiện đặc biệt
và các ràng buộc và với nhiều hàm mục tiêu khác nhau. Và kết quả là tạo ta một khối
lượng lớn các qui tắc của nó, mặc dù rất dễ xác định như qui tắc EDD (Earliest Due
Date first) – sắp xếp các công việc theo thứ tự tăng của ngày tới hạn, làm các công việc
có ngày tới hạn gần nhất trước, qui tắc này cực tiểu sự chậm trễ lớn nhất giữa các công
việc.
2.2.4.2 Mô hình máy song song [3, 22]
Một nhóm các máy sắp xếp song song là sự tổng quát hoá của mô hình máy đơn. Trong
nhiều môi trường sản xuất bao gồm nhiều chặng, nhiều workcenter, mà mỗi chặng, mỗi
workcenter là một số các máy móc sắp xếp song song. Các máy móc tại một workcenter
21
phải giống nhau sao cho các công việc khi đến bất kỳ máy nào có sẵn trong workcenter

Trong hình 2.4 mô tả quy trình sản xuất của nhà máy có mô hình máy song
song. Các sản phẩm của nhà máy lần lượt qua các cụm máy M1, M2, M3, M4. Trong
các cụm máy này có các máy song song có cùng chức năng. Các sản phẩm chỉ thực hiện
22
J2
J1
Hình 2.4: Mô hình Flow Shop linh hoạt
M2
M1
M3 M4
J1
J2
M1
M2
M3
M4
Hình 2.5: Mô hình Job Shop
M5
gia công trên một máy bất kỳ trong từng cụm máy. Giả sử công việc 1 đến hệ thống
trước công việc 2 khi công việc 1 đến cụm máy M1 chỉ có 2 máy rỗi, do đó công việc 1
có thể chọn một trong hai máy rỗi để gia công. Khi công việc 2 đến hệ thống, nếu công
việc 1 chưa được gia công xong thì trong cụm máy M1 chỉ còn lại một máy trống, do đó
công việc 2 phải gia công trên máy rỗi còn lại trong cụm máy này. Trong trường hợp có
nhiều hơn một máy trống, thì công việc 2 có thể lựa chọn máy bất kỳ trong cụm máy
M1 để thực hiện gia công. Cách lựa chọn máy này cũng xảy ra tương tự khi các công
việc đến các cụm máy trong quy trình gia công của nhà máy.
Hình 2.5 thể hiện mô hình máy Job Shop có 5 máy, M1, M2, M3, M4, M5, và
quy trình gia công của 2 công việc. công việc 1 có quy trình gia công như sau: M1
M3  M2  M5. công việc 2 có quy trình gia công như sau: M2  M3  M4  M5.
Vì hai công việc sử dụng chung máy M2, M3, M5. Xét máy M2, khi máy vừa gia công

Các ràng buộc về lộ trình chỉ rõ đường đi của công việc qua hệ thống, ví dụ như, một
flow shop hay một job shop. Một công việc nào đó có thể bao gồm nhiều thao tác, mà
các thao tác này cần được xử lý trên một số máy riêng biệt theo một trật tự nhất định
nào đó. Các ràng buộc về đường đi rất thường gặp trong môi trường sản xuất.
23
2.2.5.2 Các sự ưu tiên
Trong qua trình sản xuất, có một sự ưu tiên xảy ra làm cho công việc bị ngắt lại với sự
đồng ý của công việc khác, chẳng hạn như, có một yêu cầu cấp bách có độ ưu tiên cao
hơn đến một máy nào đó và ngắt ngang công việc hiện tại. Công việc đó là công việc có
quyền ưu tiên. Có nhiều loại quyền ưu tiên. Tùy thuộc vào dạng ưu tiên, các công việc
đang làm không bị mất đi, mà sau khi làm xong công việc ưu tiên nó sẽ được tiếp tục
ngay tại vị trí nó dừng lại. Dạng này được gọi là lấy lại quyền ưu tiên. Có một dạng
khác là khi làm xong công việc ưu tiên, các xử lý đã làm trước khi có công việc ưu tiên
bị mất đi và ta phải bắt đầu lại. Dạng này gọi là ưu tiên lặp lại.
2.2.6 Các hàm mục tiêu về năng xuất và thời gian hoàn thành các công việc
Đối với nhiều công ty việc cực đại năng xuất là rất quan trọng và các nhà quản lý
thường phải đo lường xem họ làm tốt thế nào. Năng xuất của một nhà máy cũng chính
là tốc độ sản xuất hàng ra, và thường được xác định bởi các nhà máy bottleneck, đó là
các máy có năng xuất thấp nhất so với nhu cầu của chúng. Việc cực đại năng xuất cũng
chính là cực đại năng xuất tại các nhà máy này. Mục tiêu này có thể đạt được bằng
nhiều cách . Trước tiên, nhà điều độ phải chắc chắn rằng các máy bottleneck là không
bao giờ được nghỉ, và luôn luôn có các công việc xếp hàng chờ để được xử lý. Sau đó,
nếu có thời gian setup phụ thuộc vào trình tự các công việc trên các máy bottleneck, nhà
điều độ phải sắp xếp thứ tự các công việc sao cho cực tiểu tổng thời gian setup, hay cực
tiểu thời gian setup trung bình.
Khoảng thời gian hoàn thành các công việc là rất quan trọng khi số lượng công
việc là có hạn. Khoảng thời hoàn thành công việc được ký hiệu là C
j
và được xác định
khi tới thời điểm công việc cuối cùng rời khỏi thệ thống, ta có:

phải ước lượng bằng thực nghiệm.
Để đánh giá chất lượng của thuật toán kinh nghiệm theo lý thuyết, nó phải được
chứng minh toán học là cho ra một lời giải trong một phần trăm xác định của lời giải tối
ưu bất chấp bài toán giải quyết là bài toán ví dụ. Nếu chất lượng của thuật toán kinh
nghiệm không thể đánh giá được theo lý thuyết, nó phải được đánh giá thực nghiệm.
Kiểm định thực nghiệm bao gồm việc phát sinh và giải nhiều bài toán ví dụ và
việc phân tích các kết quả. Thời gian trung bình để giải quyết bài toán có thể được xác
định. Sự khác biệt giữa lời giải kinh nghiệm và lời giải tối ưu có thể tìm thấy trong các
ví dụ nhỏ. Đối với các trường hợp không thể giải tối ưu, lời giải kinh nghiệm được so
sánh với một cận của lời giải tối ưu. Nếu có sự khác biệt nhỏ, chất lượng của giải thuật
là tốt. Sự khác biệt lớn có thể gây ra do nới lỏng cận hay chất lượng tồi. Nếu giải thuật
thực hiện tốt trên các ví dụ kiểm định, thì chúng ta cho là nó cũng thực hiện tốt trong
các trường hợp khác. Điều này có thể không đúng cho các trường hợp khác với các ví
dụ kiểm định. Khi áp dụng, lời giải kinh nghiệm được so sánh với lời giải hiện tại.
2.2.8 Điều độ máy đơn
2.2.8.1 Cực tiểu thời gian hoàn thành (Minimizing Flowtime)
Chúng ta giả định là tất cả các công việc được điều độ có sẵn, do đó thời điểm job vào
hệ thống là 0. Nếu chúng ta có n công việc được điều độ 1, 2,…, (n-1), n, tổng thời gian
gia công là:
F =
1
p
+ (p
1
+ p
2
) + (p
1
+ p
2

trị tồn kho tại bất kỳ một thời điểm là giá trị của công việc đang chờ được gia công. Đặt
[i] là chỉ số của công việc được điều độ tại vị trí thứ i; nếu công việc 3 được điều độ
trước nhất, [1]=3. Thời gian hoàn thành của công việc được điều độ tại vị trí thứ i là
tổng của thời gian gia công của các công việc từ vị trí 1 đến vị trí thứ i, hay C
[i]
= p
[1]
+
p
[2]
+ . . . + p
[i]
. Nếu tất cả các công việc được phát tại thời điểm 0, thì thời gian hoàn
thành cũng là thời gian chúng trong kho. Tổng giá trị của tồn kho cho điều độ là:

+++=
nnii
CwCwCwCw
2211
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status