TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
MÔN: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Đề tài: GIẢI PHÁP GIA TĂNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NHTM TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG
HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY
GVHD: PGS TS: TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
1 Thái Uyên Khanh 13
2 Đặng Tuyết Xinh 43
3 Đàm Thị Thanh Tâm 31
4 Trần Thị Thanh Tuyền 39
5 Lê Thị Tường Vi 42
1
Lời mở đầu:
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào những
thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã phải vượt qua không ít
khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước. Vì mục tiêu này, không ai khác
mà chính hệ thống Ngân hàng phải trở thành bàn đạp vững chắc cho nền kinh tế. Tuy
nhiên, hơn 20 năm đổi mới chưa phải là nhiều, Ngân hàng còn phải giải quyết nhiều
những khó khăn trước mắt mà một trong những vấn đề nổi cộm là hiệu quả công tác huy
động vốn của ngân hàng hiện nay
Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại, trong đó nguồn
vốn huy động có ý nghĩa quyết định, là cơ sở để NH tiến hành các hoạt động cho vay, đầu
tư, dự trữ… mang lại lợi nhuận cho NH. Để có được nguồn vốn, NH cần phải tiến hành
các hoạt động huy động vốn, trong đó huy động tiền gửi tiết kiệm chiếm một vai trò đặc
biệt quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, việc huy động tiền gửi của ngân hàng
gặp rất nhiều khó khăn như: chịu nhiều cạnh tranh từ các chủ thể khác trong nền kinh tế
cũng tiến hành hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm: các ngân hàng khác, các công ty bảo
hiểm, bưu điện…Thêm vào đó các nhà đầu tư đang tìm nơi trú ẩn an toàn vào vàng thì vấn
đề huy động vốn của các ngân hàng thương mại càng khó khăn hơn bao giờ hết và cần có
những giải pháp hữu hiệu, kịp thời.
vực Đông nam Á không rơi vào tình trạng suy thoái năm 2009 dưới tác động của cuộc
khủng hoảng toàn cầu. Dẫu vậy, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cũng đã cho thấy rằng cuộc
khủng hoảng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế.
-Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là tác động mang tính hai chiều, song chủ
yếu là tác động tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu cũng như của Việt Nam. Do sự hội nhập
ngày càng sâu và rộng của nền kinh tế Việt Nam vào thế giới nên Việt Nam chịu những
tác động nhất định, tuy không trực tiếp. Ba vấn đề nổi bật mà nền kinh tế Việt Nam phải
đối mặt hiện nay và vẫn chưa thể giải quyết trong ngắn hạn, đó là: lạm phát, nhập siêu và
lãi suất.
-Ảnh hưởng lớn nhất đối với Việt Nam trước hết là về xuất khẩu sang các thị trường như
Mỹ và châu Âu (chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu)
-Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước lớn. Việc huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong
khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh
nghiệp lên cao.
- Ảnh hưởng trực tiếp thì cũng có giới hạn vì Việt Nam chưa tham gia nhiều vào thị
trường tài chính thế giới và không tham gia mua bán chứng khoán phái sinh này. Nhưng
khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng cho vay giữa các ngân
hàng (Libor và Sibor, tức London Inter Bank offer rate, Singapore Inter Bank Offer rate,
thường được dùng làm lãi suất cơ sở để cho các xí nghiệp và ngân hàng Việt Nam
vay).Ngoài ra đầu tư trực tiếp (FDI) của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng vì FDI vào Việt
Nam phần lớn là vốn vay chứ không phải vốn tự có, nên nếu các nhà đầu tư không dàn
xếp được khoản vay sẽ khó giải ngân được.
- 12/2/2011 Ngân hàng Nhà nước quyết định nâng tỷ giá liên ngân hàng từ 18.932 đồng
đổi một đôla Mỹ lên 20.693 đồng, tương đương với mức tăng hơn 9. Sự giảm giá mạnh
mẽ của tiền Đồng có khả năng khá cao trong việc tạo áp lực lên cán cân thương mại sau
việc đồng tiền bị mất giá thường có thể được đại diện bởi một đường cong-J. Thực tế, sự
mất giá của đồng nội tệ sẽ làm hoạt động thương mại trở nên tồi tệ hơn trong giai đoạn
đầu tiên, nới rộng tình trạng thâm hụt thương mại do một số hợp đồng thương mại vẫn dựa
trên tỷ giá cũ, và cần một khoảng thời gian để hiệu ứng điều chỉnh tiền Đồng phát huy tác
hàng.
1.1.3 Mục đích: thanh toán qua ngân hàng
1.1.4 Quy trình:
1.1.5 Tiền gởi thanh toán bao gồm:
a) Tiền gởi thanh toán khách hàng là doanh nghiệp:
Dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp:
Ngân hàng Sản phẩm dịch vụ tài khoản thanh toán Lọai tiền
Vietcomba
nk
1- Tài khoản tiền gởi thanh toán
2- Tài khoản tiền gởi đặc biệt: chuyên chi,
chuyên thu, đầu tư tự động,…
Vnd, USD, và các
loại ngoại tệ khác
Vietinbank 1- Tài khoản tiền gởi thanh toán Vnd và các loại
ngoại tệ
ACB 1- Tài khoản tiền gởi thanh toán Vnd, USD, EUR,
và các loại ngoại tệ
khác
HSBC 1- Tài khoản tiền gởi thanh toán ( tiện ích đa Vnd và các loại
5
dạng chuyển tiền trong nước, quốc tế, thanh
toán séc và thanh toán tự động hàng tháng)
ngoại tệ
BIDV 1- Tài khoản tiền gởi thanh toán
2- Tài khoản kết hợp (cấp cho khách hàng hạn
mức thanh toán trên cơ sở số dư tiền gửi có
kỳ hạn của khách hàng tại BIDV)
Vnd, USD, EUR
Sacombank 1- Tài khoản tiền gởi thanh toán VND, USD, EUR,
VND, USD, EUR
Sacombank 1- Tài khoản tiền gởi
thanh toán
VND, USD, EUR, AUD,
CAD, CHF, GBP, JPY,
SGD
Vietbank 1- Tài khoản tiền gởi
thanh toán
Agribank 1- Tài khoản tiền gởi
thanh toán
VND, USD, EUR
MHB 1- Tài khoản tiền gởi
thanh toán
VND, USD
Nhìn chung đối với huy động vốn bằng tiền gởi thanh toán, các ngân hàng thương mại ở
Việt Nam áp dụng mức lãi suất không kỳ hạn nhằm khuyến khích các khách hàng gởi tiền
vào ngân hàng mặc dù đối với kênh huy động vốn này ở một số nước áp dụng mức lãi suất
6
Yes
Khách hàng
Nhân viên giao dịch
Tạo GD mở TK
Kiểm soát viên
Hệ thống thực hiện giao dịch
(1)
(3)
(2)
No
0%. Nguyên nhân là do nhu cầu vốn huy động của các ngân hàng ở Việt Nam khá cao
thêm vào đó là việc huy động vốn của các ngân hàng chỉ thường thông qua kênh truyền
hạn. Đối với loại tiền gửi này ngân hàng có thể kế hoạch hóa được việc sử dụng tiền nên
lãi suất cao hơn.
1.2.3 Qui trình nhận tiền gửi tiết kiệm
7
Khách hàng
Nhân viên giao dịch
Tạo GD trả TK
Kiểm soát viên
Hệ thống thực hiện giao dịch
(1)
(3)
(2)
Yes
1.2.4 Qui trình trả tiền gửi tiết kiệm
1.2.5 Một số sản phẩm tiền gửi tiết kiệm hiện nay
Tên ngân
hàng
Sản phẩm TGTK Đặc điểm sản phẩm Lợi ích sản phẩm
VP bank TK lĩnh lãi định
kì
Kỳ hạn
Loại ền
Phương thức trả
lãi
!"
Lãi suất#$%&
'Biểu lãi suất%
Tiết kiệm tích lộc Tiết kiệm Tích lộc là hình
thức tiết kiệm gửi góp
trong một khoảng thời gian
dài. Theo đó, khách hàng
có quyền chủ động quyết
định thời gian gửi và số
tiền gửi định kỳ để tiết
kiệm cho việc thực hiện các
nhu cầu, dự định trong
tương lai.
Khách hàng được hưởng
mức lãi suất hấp dẫn và cạnh
tranh
Lãi suất thả nổi trong
suốt thời hạn gửi tiền thực tế.
Sử dụng Tiết kiệm Tích
lộc để tích lũy thu nhập của chủ
sở hữu hoặc để tặng, cho người
thụ hưởng của sổ tiết kiệm.
Cơ sở công nghệ ngân
hàng hiện đại, giao dịch online
trên toàn hệ thống, khách hàng
có thể gửi/ rút tiền tại bất kỳ
điểm giao dịch nào của VPBank
trên toàn quốc.
Thủ tục nhanh chóng,
đơn giản và thuận tiện.
Được sử dụng dịch vụ
tiện ích khác của VPBank như
Internet Banking để nộp tiền
Maritime Bank trên toàn quốc
và được chuyển nhượng theo
quy định của Pháp luật và của
Maritime Bank.
ACB Tiền gửi TK –
bảo hiểm “lộc
bảo toàn”
• Kỳ hạn gửi :
13 tháng (lãi nhập
vốn cuối kỳ)
• Mức gửi tối thiểu
: 20.000.000
VND
• Phương thức lãnh
lãi: Lãi cuối
kỳ, lãi tháng
Bảo hiểm được thực hiện trong
trường hợp không may gặp rủi
ro, KH/người thụ hưởng sẽ nhận
ngay 200% (100% số tiền bảo
hiểm và 100% số tiền tiết kiệm)
TK lãi suất thả
nổi:J$R"
0H+0?" I+1
7
990+1*
-/0860"& -S
-'"7040S *
5 +
• Lãi suất thực
nhận:O-P-0>
X 3Q _
86090:5[*=
70/0-0G"-Y+1
990
• Phươngthức lãnh
lãi 2
-34 ,> X
$3Q _
9 90 '
Y O H 3
9 90 +1
ab => " *,
,G 90 :* 0
+J cCVd Ae0
860f2B
90 O -P K$
8e
70cuối mỗi kỳ lãnh
lãi, cg) 0 J +
=> 90 ' 90
:52[*=70thời
điểm đầu kỳ lãnh
lãi3Q_
V Đa dạng phương thức
lãnh lãi
o <90K$8e e0
+1990 h
o 2 F
phẩm: trẻ em Việt Nam
dưới 15 tuổi. sử dụng sản
phẩm thông qua người
giám hộ.
- Kỳ hạn: từ 2 đến 15 năm.
Khi trẻ em chưa có đủ năng
lực hành vi dân sự, mọi
giao dịch liên quan đến tài
0+J=>`0<6
m,3Q-34 -_
j*i'"8P ,>
:n j*i'"
3/0`0=>-34 P$=>
80+J<<go'
+1 a5+1+0 I
Y
2 -34 390
:55$%pF36 7
390q!"
34 "0r$S`0=>80
11
'""L
2 P$
=>80+J
' +1
a5+1+0 I
Y-Gs
D i"P
+J=>6
Q3Q
bảo an
(TKTLBA)- L
_ ,-P
=>`0=H+0?"
I+17'-I
+ :N`0
"P+J=> e
->-
'"P +1
`080+J
j*"L
"P/075
-G I"P
+J=>6
Q %O
3Q
*03"*
"*;;%\
u20*"0*
:J$R"2<)c
+ -34
)v:J
$R")J0G"
x)vgc:0
%0?y j*g;,
)J0G")v
A)vgB
<70=>`0
/07`0 z!"
^U-HU]!"
:860,`0=> +1
34 ->.*,-|03/0
&3/07 j*
0+J2<)c
34 :`%&:e%30
+J2<)c-G Y" e8*,
8e70)v+G J3/4$
8*,8e-GO 0?0*%.
`0=>80+J2<)c
+17 q70
34 "0r$S`0=>80
+J2<)c705 J
-0G"0*%. j*)v
34 :`%& %. 8&0*
!3%. 8&=t
)Cv'')*+00'
)*+0u
34 , Y 5$
;=8>n0*%.
0*-H0+J8:e
%30+J
12
2<)c 3/0&
3:NK-34
aP:ee 890',
j*)v
gj0+J2<)c
+;-34 536
7$Y
5r7H
! _890:5
,-P *a
<90:5 e
:e/00*`0
•*,8q20-7
H+ +;-H
kM:N j
-PK$908e 8
,G:*:J$R"=H
+0?"k90 e0+1;
3/3+17a*
-Y8$%&"_ 90
:50 70/0-0G"
*,8q
EF36 7<90:5
F36 7-34 w
34 390aK *'
:e%3=>`0f`0 0>
90 *
13
'/00*O
`0 j*+
2 X-34 *
36 7"PY
aP:e=>`08-34
390:5=>`0
+;+17$%&70
/0-0G"F j* 0
$s
:e,O `0
2000 EUR
•
- Khách hàng VIP:
Số dư trên 50 triệu đồng,
3000 USD, 2000 EUR
•
- Lãi suất cao cho số tiền
nhàn rỗi ngắn hạn
•
- Có thể giao dịch tại bất
cứ đâu, rút bất cứ khi nào với
lãi suất không thay đổi.
•
- Chuyển tiền miễn phí,
không giới hạn số tiền từ tài
khoản tiền gửi thanh toán sang
tài khoản SeASave Smart và
ngược lại
•
- Theo dõi số dư dễ
dàng, nhanh chóng qua
SeANet, SeAMobile
14
Qua bảng này, chúng ta thấy rằng các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng
thương mại ở Việt Nam là khá phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng. Tuy nhiên, hiện nay lạm phát cao, đồng đô la thì bất ổn nên người dân có tâm lý
găm giữ vàng nhiều, sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài. Chính điều này đã làm
cho việc huy động tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng thương mại Việt Nam trở nên khó
khăn hơn. Vì thế, các ngân hàng nên phát triển có chiều sâu các sản phẩm tiết kiệm, đưa ra
những sản phẩm tiết kiệm nhắm đúng vào mong muốn và lợi ích của khách hàng. Ví dụ
hữu
Thanh toán
Thanh toán vốn gốc: tổ chức tín dụng (đơn vị phát hành) sẽ hoàn trả vốn gốc
cho người sở hữu vào thời điểm đến hạn của GTCG.
Thanh toán lãi: tổ chức tín dụng trả lãi cho người sở hữu theo các phương
thức sau: trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ.
15
III Thực trạng huy động vốn của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
1- Thực trạng huy động vốn của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam:
Bằng các hình thức huy động vốn của mình, các ngân hàng thương mại nước ta đã
huy động được một số lượng vốn lớn để đáp ứng cho các nhu cầu hoạt động kinh doanh
của mình. Dưới đây là một số những kết quả huy động vốn của các ngân hàng thương mại
trong giai đoạn từ 2008 đến những tháng đầu năm 2011.
Tốc độ huy động vốn tại các tổ chức tín dụng trong nước đang trong đà suy giảm,
trong đó, huy động tiền đồng bị suy giảm mạnh hơn cả.
Ngun: IMF, NHNN v tnh ton ca ngưi vit
Tốc độ huy động vốn tại các tổ chức tín dụng (TCTD) trong nước đang trong đà
suy giảm. Nếu tính so với cuối năm 2010 thì tăng trưởng tổng huy động vốn từ tháng 1
đến tháng 4.2011 lần lượt là -2,46%; 1,9%; 1,56% và 0,46%. Huy động tiền đồng bị suy
giảm mạnh hơn cả. Tính đến ngày 21.4.2011, tiền gửi VND tại các TCTD giảm 1,09% so
với tháng trước, trong đó, tiền gửi VND giảm 1,84%, còn tiền gửi ngoại tệ tăng 1,46%.
Diễn biến này có thể coi là bất thường, bởi trong những năm gần đây, kể cả năm 2008 khi
tiền tệ thắt chặt, huy động vốn thường có xu hướng tăng dần trong các tháng đầu năm. Đối
với VND, thị trường kỳ vọng rằng với việc các tổ chức và cá nhân bán mạnh ngoại tệ ra
thị trường trong thời gian vừa qua, thì lượng tiền gửi VND phải tăng lên thay vì giảm đi.
Tính đến 20/6/2011, tổng số dư tiền gửi khách hàng tại các tổ chức tín dụng ước
tăng 1,04% cuối tháng 5 và tăng 2,88% so với cuối năm 2010. Trong đó, huy động VND
tăng tương ứng là 2,32% và 1,42%; huy động vốn bằng ngoại tệ giảm 3,62% so với
5 tháng đầu năm huy động toàn ngành chỉ tăng được có 1,5% so với cuối năm cho thấy
việc huy động vốn của ngân hàng thực sự khó.
Theo công bố gần đây của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu,
tính đến 23-5, huy động vốn của toàn ngành tăng 1,48% so cuối năm 2010, trong đó huy
đông vốn bằng tiền đồng giảm 2,75% trong khi huy động ngoại tệ tăng 18,84% (chưa tính
việc tăng tỷ giá vào tháng 2).Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết việc huy động vốn của
toàn ngành chững lại chủ yếu là vì các tổ chức kinh tế rút vốn gửi từ ngân hàng ra phục vụ
việc kinh doanh do lãi suất cho vay hiện quá cao, trong khi đó huy động vốn từ dân cư vẫn
tăng tốt.
Trong năm 2010 một năm với nhiều biến động của ngành ngân hàng, nhiều
giải pháp cấp bách triển khai kịp thời và đồng bộ các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và
đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả, góp phần ổn định giá cả và kinh tế vĩ
mô…Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tháng 1/2010, tổng số dư tiền gửi
của khách hàng tại các tổ chức tín dụng ước tăng 0,3% so với tháng trước. Các ngân hàng
cho biết, thông thường, dịp sau Tết Nguyên đán, nhu cầu vốn của DN sẽ giảm lại và khả
năng năm nay giảm mạnh hơn so với cùng kỳ. Nguyên nhân do chính sách hỗ trợ lãi suất
ngắn hạn bằng VND đã hết, đồng thời chủ trương kiểm soát tăng trưởng tín dụng của
NHNN thấp hơn năm trước.Song điều quan trọng hơn chính là nguồn vốn huy động về
không còn dồi dào như đầu năm 2009 và tiền gửi chủ yếu ở kỳ hạn ngắn ngày.Trong Quý
3, tỷ trọng chính trong tổng huy động vốn vẫn là huy động vốn ngắn hạn chiếm hơn 80%,
17
trong đó, tiền gửi có kỳ hạn tập trung chủ yếu ở dải kỳ hạn dưới 6 tháng.Mặt bằng lãi suất
huy động và cho vay VND của các tổ chức tín dụng có xu hướng giảm.
Thực tế, vào cuối tháng 9/2010, hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh khuyến mãi, sau
khi đã để mức lãi suất đồng thuận cao nhất lên tới 11,2%/năm đối với tiền gửi VND, áp
dụng cho hầu hết các kỳ hạn. Một số nơi còn đưa ra những thỏa thuận “ngầm” với khách
hàng, lãi suất thực có thể lên tới 12 - 12,5%/năm, cao hơn so với mức đồng thuận. Trong
năm tổng nguồn vốn huy động đạt 11.358 tỷ đồng, tăng 60% so với cuối năm trước. Tiền
gửi tiết kiệm của dân cư tăng mạnh, chiếm 53,8% trong tổng huy động, tiền gửi của tổ
và 7,9% trong quý 4/2008. So sánh với 3 quý đầu năm 2008, lãi suất huy động của các
ngân hàng bắt đầu được điều chỉnh giảm từ quý 4/2008, nhưng vốn huy động từ dân cư lại
tăng mạnh. Điều này cho thấy trong khi thị trường chứng khoán bị điều chỉnh giảm mạnh,
thị trường bất động sản trầm lắng, thị trường ngoại hối (vàng và USD) tiềm ẩn nhiều rủi
ro, gửi tiền vào ngân hàng là một lựa chọn an toàn của các nhà đầu tư. Đây là dấu hiệu tốt
cho hoạt động ngân hàng nhưng vấn đề đặt ra đối với các ngân hàng là việc sử dụng nguồn
vốn hiệu quả, không những mang lại nguồn thu cho ngân hàng mà còn góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Trong quý 4/2008, tốc độ tăng trưởng huy động vốn cao hơn tốc độ
18
tăng trưởng tín dụng. Điều này có thể thể hiện phần nào những dấu hiệu có những ngân
hàng dư thừa vốn khả dụng.
Thông qua tình hình những năm trước đây ta có thể thấy tín dụng tăng trưởng
phụ thuộc nhìu vào chính sách hành chính của nhà nước và năm 2011 cũng ko phải là
ngoại lệ, ngày 1.3.2011 với mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô NHNN đã ban
hành chỉ thị 01/2011 buộc tốc độ tăng trưởng tín dụng đang được yêu cầu phải giảm dần
sao cho tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng trong năm 2011 xuống dưới
20%. Vì thế, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong bốn tháng đầu năm 2011 đạt 5,01% so với
cuối năm 2010, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng của cùng kỳ năm ngoái là 5,58%. Với
việc NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt như hiện nay thì tốc độ tăng
trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng sẽ còn chậm lại.
2 Nguyên nhân của việc huy động vốn giảm:
2.1 Nguyên nhân từ kinh tế toàn cầu:
Lớn nhất là khủng hoảng tín dụng Mỹ năm 2007, kéo theo sự sụp đổ của đế chế
Lehman Brothers, cùng khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009. Bước sang năm 2010,
tuy ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tạm lắng nhưng vẫn còn tiểm ẩn nhiều biến động,
điển hình là khủng hoảng nợ công của Hi Lạp, các nước Châu Âu như Tây Ban Nha, Ý và
Bồ Đào Nha cũng đang đứng trước nguy cơ tương tự và bong bóng tài sản ở Trung Quốc.
Việt Nam thuộc nhóm các nước đang phát triển, mặc dù không bị ảnh hưởng
trực tiếp từ sự sụp đổ của hệ thống tài chính thế giới, nhưng với việc gia nhập WTO, trở
thành một phần không thể tách rời của kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn phải chịu những hậu
Với mức lạm phát tính so với cùng kỳ lên đến 17,51% vào tháng 4.2011 thì trần lãi
suất tiền gửi 14% đã khiến cho lãi suất thực của nền kinh tế bị âm. Người dân sẽ có thiên
hướng giữ tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng để tìm các kênh bảo tồn vốn khác tốt hơn.
Điều này có nghĩa rằng, sau khi được cho vay ra dòng tiền sẽ lòng vòng ở bên ngoài lâu
hơn, trước khi quay trở lại hệ thống ngân hàng.
Báo cáo của NHNN cho thấy tỷ lệ tiền ngoài hệ thống trong tháng 4 đã tăng 1,45% so
với tháng trước và so với cuối năm trước tăng 4,12%. Mặc dù so với các năm trước, các
mức tăng này không phải là bất thường. Tuy nhiên, nếu xét về xu hướng khi so với tổng
cung tiền thì đây lại là điều đáng ngại. Số liệu của IMF và NHNN cho thấy xu hướng giảm
của tỷ lệ tiền ngoài hệ thống so với tổng cung tiền (M2) đã có dấu hiệu bị chững lại kể từ
giữa năm 2010. Lượng tiền mặt bơm ra để giải quyết thanh khoản vào cuối năm đã không
quay trở lại hệ thống ngân hàng sau đó.
Tiền mặt ngoài hệ thống tăng là dấu hiệu cho thấy tín dụng đen có xu hướng nở rộ.
Theo báo Đời sống & Pháp luật ngày 24.3.2011, mức lãi suất huy động trên thị trường tín
dụng đen cao hơn rất nhiều so với lãi suất ngân hàng, và hiển nhiên, mức lãi suất cho vay
ra cũng phải rất cao. Tuy nhiên, nhu cầu vay vẫn rất lớn bởi các doanh nghiệp, đặc biệt là
bất động sản, khi đã triển khai dự án thì khó có thể dừng lại được. Trong khi những doanh
nghiệp này không thể vay được ngân hàng thì họ phải tìm đến một kênh tín dụng khác là
tín dụng đen. Có cầu ắt sẽ có cung. Với mức lãi suất huy động cao, nhiều người gửi tiền
bất chấp rủi ro đã rút tiền khỏi ngân hàng để tham gia vào hoạt động tín dụng đen.
2.4 Lượng tiền gửi ủy thác từ các ngân hàng thương mại khác giảm
Một nguyên nhân nữa khiến tốc độ tăng trưởng huy động giảm có thể xuất phát từ
hoạt động rút vốn uỷ thác gửi qua các công ty con của các NHTM.
20
Trong tính toán tiền gửi huy động của hệ thống ngân hàng thì lượng tiền huy động
trên thị trường liên ngân hàng sẽ không được bao gồm. Nhưng nếu NHTM thông qua các
công ty con của mình gửi tiền vào NHTM khác thì lượng tiền này lại được tính vào tiền
gửi huy động, vì các NHTM không thể phân biệt được tiền gửi từ công ty con này là tiền
gửi huy động từ tổ chức kinh tế hay từ NHTM khác.
luôn sáng tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanh
nghiệp.
2.6 Cạnh tranh với thị trường chứng khoán, thị trường vàng, và bất động sản:
- Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các
ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân. Trước kia chưa có chứng khoán thì người dân
sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các khoản lợi tức. Nhưng nay,
chứng khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn rỗi của các ngân hàng. Những người
21
dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn
là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn). Bên cạnh đó, các doanh ngiệp ngoài
kênh huy động vốn là vay mượn các ngân hàng họ còn có cách là phát hành cổ phiếu ra thị
trường. Đấy cũng là một cách tốt để huy động vốn.
Nhưng gần đây thì chứng khoán đang ở đáy, đây là thời điểm thị trường chứng khoán
(TTCK) xấu nhất trong 11 năm qua, nguyên nhân là do những gì không ổn định tại TTCK
Mỹ đều ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, Mỹ bị hãng xếp hạng
Standard & Poors hạ định mức tín nhiệm. Sự kiện này chấn động giới tài chính toàn cầu,
không riêng gì với Việt Nam.
Do lạm phát hiện đã ở mức cao nên chính sách tiền tệ từ nay đến cuối năm vẫn theo
hướng thắt chặt, vì vậy, dòng tiền trong nước vẫn hạn chế. TTCK Mỹ và châu Âu có thể
sẽ có điều chỉnh và đi ngang trong thời gian tới, và các NĐT quốc tế sẽ cân nhắc chuyển
vốn sang các nước đang phát triển. TTCK Việt Nam có lợi thế là đang ở mức định giá rất
thấp, nhưng NĐT nước ngoài vẫn còn quan ngại đến những bất ổn vĩ mô và tính minh
bạch của thị trường Việt Nam nên cơ hội phục hồi của TTCK lại càng khó hơn.
- Bên cạnh đó sự bất ổn của thị trường tài chính quốc tế đẩy giá vàng thế giới liên tục xô đổ
mọi kỷ lục về giá, kéo thị trường vàng trong nước sôi sục theo.
Cũng bởi do lạm phát tăng quá cao nên người dân mất lòng tin vào đồng Việt Nam,
không muốn nắm giữ đồng tiền Việt nữa mà chuyển sang một kênh trú ẩn an toàn là găm
giữ vàng, làm cho giá vàng trong nước có sự chênh lệch quá lớn so với giá vàng thế giới.
Và trong tới đây đầu tư vàng có còn là mối lo ngại lớn với các ngân hàng hay không?
Câu trả lời là đầu tư vàng khó có khả năg sinh lời. Vì vàng cũng đang là kênh đầu tư khiến
hàng ước tăng 2,28% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 29,81% so với cuối năm 2009.
Trong khi đó, tổng phương tiện thanh toán cũng ước tăng 1,87% so với cuối tháng
11/2010 và tăng 25,3% so với cuối năm 2009; trong đó, tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống
ngân hàng tăng 2,14% và 15,01%. Cả 2 chỉ tiêu này đều vượt mục tiêu tăng trưởng 20-
25% được Chính phủ đề ra hồi đầu năm.
Cùng với con số lợi nhuận, kết quả kinh doanh được các NHTM công bố cũng cho thấy
sẽ tăng trưởng mạnh về tổng tài sản và đặc biệt về nguồn vốn huy động so với mục tiêu
chung của cả năm.Điển hình là sau 7 tháng đầu năm 2010, tổng tài sản của HDBank được
nâng lên con số 23.903 tỉ đồng, đạt 95,61% kế hoạch cả năm và tăng gần 73,7% so với
cùng kỳ 2009.
Trong số này, HDBank bội thu về huy động vốn với 21.583 tỉ đồng, vượt 2,8% kế
hoạch năm và tăng 81,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó tổng dư nợ tín dụng
của NH này dù đạt tới 71,2% kế hoạch năm và tăng khoảng 11,4% so với cùng thời điểm
năm 2009 chỉ dừng lại ở con số 7.474 tỉ đồng. Bên cạnh các chỉ tiêu này, lãnh đạo
HDBank khẳng định hầu hết các chỉ tiêu hoạt động khác của NH đều đạt và dự kiến sẽ
vượt kế hoạch năm 2010. Đạt 65% chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh cả năm, tổng tài sản của
SCB đến cuối tháng 7 được tăng thêm 17,11% so với cùng kỳ 2009 lên 52.470 tỉ đồng với
tổng vốn huy động từ khách hàng đạt 44.775 tỉ đồng. Đặc biệt với chỉ tiêu lợi nhuận này,
SCB hiện đã hoàn thành tới 88% kế hoạch huy động vốn cho cả năm.
Tương tự như HDBank, một diễn biến đáng lưu ý có thể dễ dàng nhận thấy, tổng vốn
huy động của nhiều NHTM hiện vượt rất nhiều tổng dư nợ đầu tư cho nền kinh tế của mỗi
ngân hàng. Oceanbank kết thúc tháng 7/2010 với tổng vốn huy động đạt hơn 38.725 tỉ
đồng trong lúc tổng dư nợ đầu tư cho nền kinh tế mới dừng ở 12.519 tỉ đồng. Còn tại
LienVietbank, với tổng dư nợ ở mức khiêm tốn, nguồn vốn huy động 20.000 tỉ đồng trong
7 tháng đầu năm 2010 sẽ là nguồn vốn dự phòng dồi dào cho nhu cầu tăng trưởng tín dụng
cuối năm. Với diễn biến này, 5 tháng cuối năm có thể sẽ là giai đoạn tăng trưởng mạnh tín
dụng VND với nguồn vốn huy động dồi dào được các NHTM chuẩn bị sẵn từ đầu năm.
IV Giải pháp huy động vốn trong giai đoạn hiện nay:
23
1. Chính sách marketing
thể giao dịch tại bất cứ đâu, rút bất cứ khi nào với lãi suất không thay
đổi. Chuyển tiền miễn phí, không giới hạn số tiền từ tài khoản tiền gửi
thanh toán sang tài khoản SeASave Smart và ngược lại.
3. Chính sách khách hàng
Cần phải có những chính sách khách hàng rõ ràng cụ thể để áp dụng cho từng phân
khúc thị trường
•
Khách hàng tiềm năng là những khách hàng chưa có tài khoản tiền gửi
nhưng khi ngân hàng tiếp thị và quan hệ thì đây sẽ là những khách hàng
mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng được phục vụ theo chính sách
khách hàng chiến lược. Đối với khách hàng này, khi tiếp thị nên tạo được
24
lòng tin, làm cho họ tin tưởng vào hình ảnh và khả năng tài chính của ngân
hàng. Tuy nhiên, điều mà khách hàng quan tâm nhất đó chính là khi sử
dụng các sản phẩm của ngân hàng thì họ sẽ có được những lợi ích, tiện ích
cụ thể nào. Các ngân hàng nên chú trọng giải thích rõ về điều này.
•
Khách hàng hiện hữu chia làm 3 loại:
Khách hàng có số dư tiền gửi lớn đem lại lợi nhuận cao cho ngân
hàng sẽ được hưởng chính sách khách hàng VIP. Đối với khách
hàng này nên phục vụ nhanh nhất với giá thấp nhất và hưởng các ưu
đãi dịch vụ khác nhiều nhất. Như vậy mới giữ chân được họ về lau
dài.
Khách hàng có số dư tiền gửi trung bình và có khả năng tiếp tục
tăng số dư tiền gửi sẽ được phục vụ theo chính sách khách hàng ưu
đãi về lãi suất tiền gửi, giảm phí dịch vụ chuyển tiền….
Khách hàng đang có dấu hiệu tài chính yếu kém, sản xuất kinh