Website: Email : Tel : 0918.775.368
Giải quyết việc làm cho lao động ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh khủng
hoảng kinh tế hiện nay: thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong thời gian qua cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ, từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, trong đó đáng chú ý là
sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo, láp ráp sản phẩm linh kiện
điện tử, công nghiệp chế biến. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu
dẫn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động.
Thực tế cho thấy giai đoạn vưa qua sự xuất hiện ngày càng nhiều các
khu công nghiệp, doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh
nghiệp liên doanh 100% vốn đầu tư nước ngoài và hàng ngàn doanh nghiệp
hoạt động theo quy mô hộ gia đình khác… đã và đang không ngừng thu hút
một bộ phận không nhỏ lao động trong và ngoài tỉnh tìm đến tỉnh Vĩnh Phúc
dẫn tới hiện tượng giao lưu và mở rộng thị trường lao động của tỉnh. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng dẫn tới việc chuyển đổi mục đích
sử dụng đất, đất nông nghiệp bị thu hẹp lại. Người dân tại các vùng nông thôn
của tỉnh phải di chuyển đến các khu công nghiệp, khu đô thị để kiếm việc
làm. Thị trường lao động của tỉnh đang chịu áp lức lớn về tăng dân số và tăng
cung lao động. Tình trạng người lao động mất việc và không có việc làm đang
là vấn đề cấp thiết nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế như hiện nay.
Khi mà các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những khó khăn tài chính
cũng như thị trường tiêu thụ. Giải pháp mà các doanh nghiệp hay sử dụng là
cắt giảm nhân công làm cho tình trạng thất nghiệp của tỉnh ngày càng trở nên
trầm trọng hơn. Những người công nhân mất việc, những người lao động
chưa có việc đang đứng trước những khó khăn tìm được việc làm phù hợp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Mục đích nghiên cứu
1. Khái niệm việc làm
Việc làm là mối quan tâm lớn nhất của mỗi quốc gia, của mọi người
dân. Nhìn chung các lý thuyết về việc làm, các học giả đều thống nhất rằng
một hoạt động được coi là việc làm khi đáp ứng được các yêu cầu sau:
Thứ nhất: đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm
Thứ hai: hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động hoặc
tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo ra thu nhập hoặc giảm chi phí
trong gia đình hoặc tạo ra quyền có thể mang lại thu nhập trong tương lai.
Việc làm là những hoạt động cần thiết của người lao động, trong khuôn
khổ pháp luật cho phép và có thu nhập chính đáng cho bản thân, gia đình và
đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Hoạt động đem lại thu nhập có thể
lượng hóa hoặc cụ thể hóa dưới dạng như: người lao động được nhận tiền
công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động, tự đem
lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người
lao động làm chủ, đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực
hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia đình quản lý. Như vậy
một hoạt động được coi là việc làm hay không phải được xem xét chủ yếu
dựa trên tính hợp pháp và kết quả hoạt động đó.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp
giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi tư liệu lao động theo mục
đích của con người. Theo quan điểm này việc làm có những đặc trưng sau:
Trước hết việc làm là sự biểu hiện quan hệ của hai yếu tố sức lao động
và tư liệu sản xuất(C)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai là lấy lợi ích( vật chất, tinh thần) mà các hoạt động đem lại cho cá
nhân, xã hội và không bị ngăn cấm để xem xét hoạt động đó có được coi là
việc làm hay không. Trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất
được thể hiện bằng công thức sau:
VL= C/L
xây dựng như: hoạt động khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên thiên
nhiên sẵn có trong lòng đất, hoạt động gia công và chế biến sản phẩm có
nguồn gốc từ nông lâm nghiệp, hoạt động xây dựng trong các ngành xây dựng
và các dịch vụ phục vụ cho các hoạt động sản xuất trên. Bộ phận thứ ba là
việc làm trong ngành dịch vụ- đó là các việc làm được tạo ra trên cơ sở các
hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ nhà hàng, du lịch, khách sạn…
Trong quá trình hoạt động sản xuất các ngành kinh tế có mối quan hệ
tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển dẫn tới việc làm giữa các
ngành kinh tế cũng có có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau
cùng phát triển và hướng tới mục tiêu chung là tạo ra nhiều việc làm trong
nền kinh tế. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành là tăng nhanh tỷ trọng việc
làm trong ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ và giảm dần tỷ trọng việc
làm trong ngành nông- lâm nghiệp.
Cơ cấu việc làm theo khu vực: Cơ cấu việc làm theo khu vực là sự
tương quan giữa việc làm theo khu vực với nhau, thể hiện mối quan hệ hữu cơ
và mối quan hệ qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa việc làm trong khu
vực này với việc làm trong khu vực kia.
Nếu như cơ cấu việc làm theo ngành được hình thành trên cơ sở chuyên
môn hóa sản xuất thì cơ cấu việc làm theo khu vực lại được hình trên cơ sở
việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Mỗi khu vực kinh tế là một bộ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phận tổ hợp của nền kinh tế quốc dân, do đó sự khác nhau về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, kết cấu hạ tầng và các điều kiện xã hội khác tạo cho mỗi khu
vực có những đặc thù, những thế mạnh riêng trong việc tạo ra việc làm cho
người lao động. Cơ cấu việc làm theo khu vực phản ánh thế mạnh của từng
khu vực, nó bao gồm hai bộ phận như sau: bộ phận thứ nhất là việc làm trong
khu vực nông thôn- đó là các việc làm được tạo ra chủ yếu dựa trên thế mạnh
sản xuất nông lâm nghiệp. Bộ phận thứ hai là việc làm trong khu vực thành
thị- đó là các việc làm được tạo ra chủ yếu dựa trên thế mạnh trong hoạt động
Thất nghiệp trá hình: Hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những
đặc trưng cơ bản của của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Đây là
tình trạng xảy ra khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà
bình thường người lao động sẵn sàng làm việc, hay nói cách khác là tình trạng
sử dụng không hết thời gian lao động. Hình thức thất nghiệp này xảy ra đối
với cả lao động làm việc ở khu vực thành thị và nông thôn.
Trong khu vực thành thị hình thức thất nghiệp này tồn tại dưới các
dạng khác nhau như: làm việc với năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu
nhập cho xã hội mà chủ yếu là tạo ra thu nhập đủ sống( nhiều khi dưới mức
sống tối thiểu). Trong khu vực nông thôn thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại
dưới dạng thiếu việc làm. Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông
nghiệp, do khu vực kinh tế phi nông nghiệp nông thông phát triển chậm và do
tính thời vụ của việc làm nông nghiệp. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, ở
một số vùng nông thôn do lấy đất nông nghiệp để xây dựng các công trình
công cộng, phát triển công nghiệp và nhà ở nên đã xuất hiện tình trạng thất
nghiệp trá hình.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thất nghiệp tạm thời: hay còn gọi là thất nghiệp cơ cấu, là hình thức
thất nghiệp trong thời gian chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc vì
muốn tìm việc làm tốt hơn, sinh viên ra trường đi tìm việc.
Thất nghiệp tự nguyện: là hình thức thất nghiệp ẩn náu trong những
người làm nội trợ trong gia đình do các mức tiền công thấp không đủ bù đắp,
thường là phụ nữ.
II. TẠO VIỆC LÀM VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1. Tạo việc làm
Thực chất của việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức lao
động và tư liệu sản xuất bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng. Tuy
nhiên đó mới chỉ là những điều kiện cần thiết để có được việc làm. Hay nói
địa lý nhất định, từ đó mà có những đặc điểm khác biệt về khí hậu, thời tiết,
nhiệt độ, lượng gió, lượng mưa, bão lụt…ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất,
kinh doanh, đặc biệt là sản xuất nông lâm ngư nghiệp vì thế nó có thể cho
phép mỗi địa phương hình thành một phương thức tổ chức sản xuất, lao động
khác nhau.
Những vùng có vị trí thuận lợi thì cây cối xanh tươi, bốn mùa hoa trái,
có các loại cây con hải sản hết sức đa dạng phong phú. Với điều kiện đất đai
màu mỡ con người có thể phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp chế biến… xuất khẩu các mặt hàng đặc sản quý hiếm trên thị trường
quốc tế. Đây cũng chính là những lợi thế nhất định của mỗi địa phương trong
việc tạo ra công ăn việc làm thu hút người lao động.
Tuy nhiên có những vùng vị trí không thuận lợi sẽ ảnh hưởng xấu đến
lao động sản xuất: hạn hán, lũ lụt…những vùng địa hình chia cắt, giao thông
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không thuận lợi, vùng không chịu sự phát triển lan tỏa từ các vùng kinh tế lân
cận cũng gây khó khăn cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư giải quyết công
ăn việc làm.
2.1.2. Khí hậu
Ở mỗi vùng, địa phương, quốc gia có những đặc điểm tự nhiên ảnh
hưởng rất lớn tới khí hậu của mỗi quốc gia. Ngay trong một quốc gia những
vùng khác nhau cũng có khí hậu khác nhau. Nhiệt độ nóng lạnh, mưa gió bão
lụt, độ ẩm… là những đặc trưng cơ bản của khí hậu của mỗi vùng, miền, quốc
gia. Ở mỗi quốc gia khí hậu ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến các vấn
đề kinh tế xã hội, khí hậu có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của dân cư, phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt khí hậu ảnh hưởng đến sự phát
triển của nông nghiệp, quyết định cây con mùa vụ, canh tác, năng suất cây
trồng… do đó khí hậu ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người lao động.
Với những địa phương mà khí hậu ưu đãi có thể tạo ra nhiều công ăn
việc làm một cách dễ dàng qua việc phát triển nông, công nghiệp chế biến
các lợi thế tài nguyên trên. Với các địa phương có các điều kiện ưu đãi về tài
nguyên thiên nhiên sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn cho con người, và
ngược lại với những địa phương không có các điều kiện ưu đãi về tài nguyên
thiên nhiên sẽ ít có cơ hội tạo ra nhiều việc làm cho con người.
2.2. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế: Kinh tế tăng trưởng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ
tiết kiệm dành cho tái sản xuất và do đó ảnh hưởng vốn đầu tư sản xuất cho
giai đoạn sau của nền kinh tế. Kinh tế tăng trưởng cao, tỷ lệ tiết kiệm dành
cho tái suất cao, vốn đầu tư sản xuất cho giai đoạn sau cao, và như như vậy
quy mô sản xuất nền kinh tế được mở rộng, quy mô việc làm cũng được tăng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo. Và ngược lại tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, tỷ lệ tiết kiệm cho tái sản
xuất thấp, vốn đầu tư thấp, quy mô sản xuất không được mở rộng thêm thậm
chí bị thu hẹp để cắt giảm chi phí, việc làm mới không được tạo thêm thậm
chí còn gia tăng tỷ lệ mất việc làm do bị sa thải.
Xuất khẩu sản phẩm: Các địa phương có lợi thế về xuất khẩu sản phẩm
sẽ giúp các địa phương đó phát triển những ngành có lợi thế riêng. Kim ngạch
xuất khẩu sản phẩm cao sẽ đóng góp vào GDP cao, góp phần tăng trưởng
kinh tế, mở rộng quy mô các ngành có lợi thế riêng, từ đó mở rộng quy mô
việc làm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động.
Và ngược lại các địa phương nào không có lợi thế để xuất khẩu sản
phẩm thì ít có cơ hội phát triển kinh tế, mở rộng quy mô ngành kinh tế có lợi
thế, từ đó ít có điều kiện tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Tái cơ cấu kinh tế: Việc cơ cấu lại kinh tế có ảnh hưởng đến việc bố trí,
sắp xếp lại lao động trong toàn bộ nền kinh tế. Một mặt tái cơ cấu kinh tế làm
giảm số lượng việc làm trong nền kinh tế quốc dân. Thực chất của tái cơ cấu
kinh tế là việc bố trí sắp xếp lại ngành nghề sản xuất kinh doanh sao cho hợp
lý, cân đối phù hợp với thế mạnh của từng vùng, miền. Như vậy trong một
chừng mực nào đó thì tái cơ cấu sẽ giảm nhu cầu về lao động hoặc dôi dư một
như công, nông nghiệp còn phát triển nhiều lĩnh vực mới về công nghệ mới,
dịch vụ… Tuy nhiên ngành nghề mới này cũng đòi hỏi người lao động phải
có trình độ, tiêu chuẩn nghề nghiệp cao hơn nhiều so với trước.
Chính sách thu hút vốn đầu tư tạo việc làm: Vốn đầu tư là nhân tố quan
trọng hàng đầu để mở rộng quy mô sản xuất trong nền kinh tế. Trong lĩnh vực
sản xuất vật chất muốn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động yếu tố
đầu tiên là vốn đầu tư. Việc thu hút vốn đầu tư phụ thuộc rất lớn vào chính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sách thu hút vốn. Nếu chính sách thu hút vốn đầu tư thông thoáng thì càng thu
hút được nhiều vốn, càng có điều kiện tạo ra nhiều chỗ việc làm mới. Ngược
lại chính sách thu hút vốn không thông thoáng, vốn đầu tư càng ít và càng ít
có điều kiện tạo ra nhiều việc làm mới.
2.4. Tốc độ đô thị hóa
Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm cho
người lao động do các trung tâm công nghiệp, trường học, dịch vụ mọc lên
nhiều. Nhưng đô thị hóa kèm theo dân số nhập cư tăng nhanh gây khó khăn
cho giải quyết việc làm, đồng thời đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng
từ đất nông nghiệp thành đất xây dựng các cụm khu công nghiệp, công trình
công cộng… đã khiến không ít người lao động dựa vào canh tác đất rơi vào
tình trạng mất việc và khó tìm được việc làm mới.
Tóm lại, khung lý thuyết được trình bày trong chương này sẽ cung cấp
đầy đủ những cơ sở lý luận cần thiết về việc làm, tạo việc làm và các nhân tố
ảnh hưởng đến tạo việc làm để nghiên cứu, phân tích thực trạng của giải quyết
việc làm và từ đó có cơ sở đưa ra những giải pháp cần thiết để giải quyết việc
làm cho người lao động của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010. Cụ thể phần lý
thuyết này sẽ được sử dụng làm cơ sở để phân tích đánh giá trong chương hai.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT
các doanh nghiệp.
Đó là kết quả cho thấy các chính sách khuyến khích doanh nghiệp mở
rộng đầu tư có hiệu quả cao. Các doanh nghiệp mới đầu tư đi vào hoạt động
thu hút nhiều lao động, các doanh nghiệp cũ hoạt động có doanh thu tăng cao
qua các năm và do đó cơ hội tiết kiệm cho tái đầu tư mở rộng quy mô sẽ cao,
là điều kiện để góp phần giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh.
2. Chính sách về đào tạo nghề trong các doanh nghiệp
Một trong những chính sách mà Vĩnh Phúc đã sử dụng trong giải quyết
việc làm là Vĩnh Phúc đã khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tự mở các
lớp, các trung tâm đào tạo để chủ động về nhân lực. Một số công ty, doanh
nghiệp lớn như Toyota, Honda, VinaKorea…cũng có những mô hình này.
Công ty Toyota mỗi năm đã tổ chức 25-30 khoa học, đào tạo được khoảng
300 kỹ thuật viên, cố vấn dịch vụ cho công ty. Nhằm nâng cao năng lực quản
lý cho các chủ doanh nghiệp, các cán bộ quản lý, cán bộ nòng cốt, năm 2007
các doanh nghiệp đã phối hợp cùng trung tâm khuyến công của tỉnh hợp tác
với viện kinh tế và phát triển- trường Đại học kinh tế quốc dân và trung tâm
dạy nghề và giới thiệu việc làm- Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức 4 lớp bồi
dưỡng kiến thức cho 198 lãnh đạo, cán bộ quản lý doanh nghiệp và một số
đoàn viên. Ngoài ra một số doanh nghiệp còn phối hợp với trường cao đẳng
công nghiệp thực phẩm tổ chức 2 lớp tin học văn phòng và ứng dụng thương
mại điện tử cho 22 cán bộ quản lý doanh nghiệp.
Kết quả của chính sách này là chất lượng lao động làm việc trong các
doanh nghiệp tốt hơn so với chất lượng của lực lượng lao động toàn tỉnh với
trên 50% lao động đã qua đào tạo( trong đó chủ yếu là đã qua đào tạo nghề-
23,21% năm 2006 và 35,71% năm 2008).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Tạo việc làm thông qua trung tâm giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao
động, hội chợ việc làm
Hình thức tuyển dụng lao động phổ biến nhất vẫn là “ qua các mối quan
phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chất lượng của
lao động tuyển mới cũng không được doanh nghiệp đánh giá cao.
Xuất khẩu lao động là một trong những chủ trương cơ bản nhằm xóa
đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động hiện đang được thực hiện
một cách có hiệu quả không chỉ ở Vĩnh Phúc mà là chủ chương cơ bản của cả
quốc gia. Chính vì thế công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động đã
được tỉnh quan tâm. Đến nay Vĩnh Phúc có 27 đơn vị tham gia tuyển dụng lao
động đi xuất khẩu, trong đó 4 đơn vị nhà nước, còn lại là các công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp tư nhân. Kết quả năm 2006
tỉnh đã đưa đi xuất khẩu lao động 1536 người, năm 2007 là 1634 người( tăng
6,38% so với năm 2006), năm 2008 là 1036 người( giảm 36,7% so với năm
2007). Nhìn chung cả giai đoạn 2006-2008 số lao động đi xuất khẩu là giảm
và đạt thấp chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, do thu nhập của lao động
ở khu vực Đông nam á thấp, một số doanh nghiệp không thực hiện đúng cam
kết theo hợp đồng với người lao động, trình độ lao động còn thấp, một số lao
động bỏ trốn, vi phạm pháp luật gây tác động tiêu cực và ảnh hưởng về tâm lý
đối với lao động khác.
4. Phát triển đa dạng các thành phần kinh tế để thu hút lao động
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, nhất là kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài, khu vực tư nhân. Khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục được đổi
mới, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, năm 2008 tăng trưởng 15,65%, tỷ trọng
chiếm 18,5% trong GDP( theo giá cố định 1994). Cơ bản việc hoàn thành sắp
xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh. Kinh tế hợp tác xã tiếp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tục phát triển với nhiều loại hình, hoạt động từng bước có hiệu quả. Kinh tế tư
nhân phát triển nhanh, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và giải
quyết việc làm, năm 2008 chiếm tỷ trọng 29,11 % GDP( theo cố định 1994),
tăng trưởng 14,59%. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng
cao, năm 2008 tăng 32,27%, chiếm 44,7% GDP. Quy mô kinh tế hộ gia đình
học viên năm 2006 lên 36400 học viên năm 2008. Hàng năm số học viên
được đào tạo nghề tương đối lớn được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2.1: Số học sinh được đào tạo nghề ra trường hàng năm
Đơn vị: người
Năm
Số học sinh
2006 2007 2008
Sơ cấp nghề 13180 17840 19076
Dạy nghề thường xuyên 4100 8626 8700
Dạy nghề dài hạn 3207 3593 4712
Tổng số học sinh 20487 30059 32488
Nguồn: sở lao động thương binh Xã hội Vĩnh Phúc
Qua bảng số liệu ta thấy quy mô dạy nghề tăng qua các năm thể hiện
qua số học sinh được đào tạo nghề tốt nghiệp ra trường. Năm 2007 số học
sinh ra trường tăng mạnh 46,72%, năm 2008 có tăng nhưng tăng nhẹ 8,1%.
Nhìn chung bình quân mỗi năm Vĩnh Phúc đã đào tạo nghề cho 27678 người/
năm. Tuy nhiên quy mô số học sinh dạy nghề tốt nghiệp của dạy nghề dài hạn
và dạy nghề thường xuyên vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu dạy nghề đặc
biệt là dạy nghề dài hạn, sơ cấp dạy nghề vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất qua các
năm. Điều này cho thấy quy mô dạy nghề dài hạn vẫn còn thấp so với tổng số
lao động được đào tạo nghề ra trường hàng năm.
Mở rộng ngành nghề, đa dạng hóa các loại hình, hình thức đào tạo
nghề: Để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động, cũng như nhu cầu
của thị trường lao động, một số cơ sở dạy nghề đã chủ động xây dựng kế
hoạch mở rộng đào tạo các nghề mới, nâng cao quy mô năng lực đào tạo
nghề.
Bên cạnh việc đào tạo nghề cho người lao động thường xuyên, dạy
nghề dài hạn, ngắn hạn; sơ cấp nghề; các cơ sở dạy nghề còn tổ chức đào tạo
theo xu hướng, nguồn từ ngân sách giảm và đóng góp của học viên tăng. Năm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2006 là kinh phí sự nghiệp đào tạo nghề là 10,5 tỷ đồng trong đó ngân sách là
7,8 tỷ đồng, đóng góp của học viên là 2,5 tỷ, nguồn khác 0,2 tỷ. Nhưng đến
năm 2007 kinh phí là 11,3 tỷ trong đó ngân sách là 4,9 tỷ( giảm 2,9 tỷ), đóng
góp của học viên là 3,8 tỷ( tăng 1,3 tỷ), nguồn khác 2,7 tỷ. Như vậy kinh phí
cho học nghề do học viên đóng góp tăng cao, và do đó sẽ hạn chế số học theo
học đào vì không có đủ kinh phí theo học.
Tóm lại, chính sách giáo dục đào tạo của tỉnh cho người lao động đã có
bước phát triển, cụ thể là phát triển về mạng lưới dạy nghề, quy mô dạy nghề
được mở rộng, đội ngũ giáo viên dạy nghề được tăng cường cả về số và chất
lượng, cũng như đầu tư vào các trang thiết bị dạy nghề. Các chính sách giáo
dục đào tạo này đã tác động đến chất lượng nguồn lao động của tỉnh, từng
bước đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, từ đó gián
tiếp góp phần giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh.
6. Giải quyết việc làm thông qua chương trình vay vốn giải quyết việc
làm
Cho vay vốn hỗ trợ giải quyết việc làm theo nghị quyết 120/HĐBT
( nay là chính phủ) ra đời năm 1992 nhằm thực hiện chính sách tín dụng hỗ
trợ cho các đối tượng tạo việc làm, tăng thu nhập với lãi suất ưu đãi khuyến
khích mọi thành phần kinh tế phát triển, tạo ra nhiều việc làm mới và ổn định
việc làm cho người lao động trong các cơ sở sản xuất. Thực hiện chủ trương
đó trong những năm qua Vĩnh Phúc đã triển khai nguồn vốn cho vay đối với
các đối tượng lao động trong tỉnh. Trong giai đoạn 2006-2008:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2.2: Quỹ quốc gia cho vay hỗ trợ việc làm giai đoạn 2006-2008
Đơn vị 2006 2007 2008
1. Tổng nguồn quỹ( cả TW-ĐP) Triệu đồng 12000 11500 11500
tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2008 ở mục II sau.
II. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC LÀM Ở VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2006-
2008
1. Thực trạng việc làm theo ngành kinh tế
Số lao động được tạo việc làm theo ngành có xu hướng tăng trong giai
đoạn 2006-2008( năm 2008 tăng 3,23% so với năm 2006), trong đó ngành
dịch vụ có xu hướng tăng dần tỷ trọng số lao động được tạo việc làm, ngành
nông nghiệp và công nghiệp có xu hướng giảm dần tỷ trọng số lao động được
tạo việc làm. Ngành công nghiệp vẫn là ngành tạo ra nhiều việc làm nhất cho
lao động của tỉnh( chiếm 52,77% năm 2006, 60,45% năm 2007 và 48,56%
năm 2008 trong tổng số lao động được tạo việc làm từng năm). Do đặc điểm
Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển. Xu
hướng chuyển dịch số lao động được tạo việc làm qua các năm của Vĩnh Phúc
được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368