Mở đầu
1. Nghiên cứu sự cần thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc, nền kinh tế nớc ta có bớc phát triển, tăng trởng
đáng mừng, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân đợc cải thiện. Song dới tác động
của cơ chế và chính sách kinh tế mới, đang xuất hiện nhiều quá trình, hiện tợng xã hội
phức tạp, mang tính hai mặt. Một trong những vấn đề đó là mối quan hệ giữa tăng trởng
kinh tế và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Nếu nh trong nhiều năm, kinh tế
nông nghiệp giữ đợc nhịp độ tăng trởng cao, ổn định thì trái lại, áp lực về việc làm có xu
hớng gia tăng và nổi lên nh một vấn đế bức xúc. Bởi lẽ đến nay vẫn còn 80% dân số và
hơn 70% lực lợng lao động của cả nớc ở khu vực nông thôn. Đặc biệt có đến 90% có số
hộ đói nghèo đang sinh sống ở nông thôn, và nh vậy, vấn đề nhân lực, nguồn lực, tiềm
năng đất đai, điều kiện tự nhiên nớc ta gắn với vùng nông thôn rộng lớn. Muốn đất nớc
phát triển, tăng trởng bền vững, vấn đế cơ bản là phải giải quyết việc làm và xoá đói
giảm nghèo. Đây không chỉ là khâu then chốt mà là tính cảm trách nhiệm đối với dân.
Đại hội V, trong nhiệm vụ tập trung tạo việc làm đã chỉ rõ: Khuyến khích mọi
thành phần, mọi công dân, mọi nhà đầu t mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho ngời
lao động. Mọi công dân dợc tự do hành nghề, thuê mớn công nhân theo pháp luật. Phát
triển dịch vụ việc làm. Tiếp tục phân bố lại dân c và lao động trên địa bàn cả nớc, tăng
dân c trên những địa bàn có tính chiến lợc về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh
tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
và thiếu việc làm ở nông thôn.
Báo cáo chính trị trình đại hội X tại mục V.2 nói về dân số và việc làm có ghi: Giải
quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con ngời, ổn định và phát triển
kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của
nhân dân.
1
Em xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Minh và trung tâm th viện trờng đã tận tình
giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.Do trình độ hiểu biết còn hạn chế, điều kiện thời gian
có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận đợc ý kiến đóng góp
của các thầy cô và bạn bè về vấn đề này để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
làm ( Điều 13 Bộ luật lao động ), có hai trạng thái việc làm đó là việc làm đầy đủ và
thiếu việc làm.
-Việc làm đầy đủ là sự thoã mãn nhu cầu về việc làm. Bất cứ ai có khả năng lao động
trong nền kinh tế quốc dân, muốn làm việc thì có thể tìm đợc việc làm trong thời gian
ngắn.
-Thiếu việc làm đợc hiểu là việc làm không tạo điều kiện cho ngời lao động sử dụng
hết thời gian lao động theo chế độ và mang lại mức thu nhập dới mức tối thiểu, muốn
tìm thêm việc làm bổ sung.
3
Để khắc phục tình trạng thiếu việc làm phải tìm mọi cách tạo việc làm cho ngời lao
động.
-Tạo việc làm cho ngời lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn có của từng đơn
vị, từng địa phơng và của ngời lao động ngằm tạo ra những công việc hợp lý, ổn định
cho ngời lao động những công việc đó phải đem lại thu nhập đảm bảo thoã mãn các nhu
cầu vật chất và tinh thần cho bản thân ngời lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc
điểm tâm lý và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của bản thân ngời lao động.
1.1.2 ý nghĩa của giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn
Đất nớc ta đang bớc vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá(CNH-
HĐH ).Trong đó CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm. Để
góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả quá trình trên thì vấn đề tạo việc làm và giải quyết
việc làm cho lao động cả nớc nói chung và lao động trong nông nghiệp, nông thôn nói
riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay vì góp phần:
-Làm giảm lao động d thừa và thời gian nhàn rổi đồng thời từng bớc nâng cao năng
suất, chất lợng, hiệu quả lao động.
Do sức ép rất lớn phải giải quyết việc làm ở nông thôn bởi đất chật ngời đông, thu
nhập từ nông nghiệp rất thấp, trong khi đó lao động ở nông thông d thừa nhiều. Theo số
lợng thống kê số lao động d thừa không có việc làm ở vùng nông thôn cả nớc năm 1998
vào khoảng 7.11 triệu ngời chiếm 25.3% số ngời có nhu cầu lao động ở nông thôn.
-Làm giảm áp lực thất nghiệp trong nền kinh tế vốn cha có một sự phát triển nh ở nớc
ta.
ơng dân số và phân bố dân c.
Song song với vấn đề trên Đảng còn nhấn mạnh Giải quyết việc làm là yếu tố quyết
định để phát huy nhân tố con ngời, ổn định và phát triển kinh tế lành mạnh xã hội, đáp
ứng nhu cầu nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân. Dự báo đến
5
năm 2010 nớc ta có 56.8 triệu ngời ở độ tuổi lao động, tăng gần 11 triệu ngời so với
năm 2000. Do vậy, để giải quyết vấn đề cơ bản ngời lao động đợc làm việc phải tạo môi
trờng và điều kiện huận lợi cho mọi thành phần kinh tế phát triển, đầu t rộng rãi cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Xây dựng và thực hiện
chặt chẽ cơ chế, chính sách đồng bộ về đào tạ nguồn lao động. Thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế.
1.2 Những nhân tố và điều kiện ảnh hởng tới việc làm và giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn
Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề cấp bách
trong giai đoạn hiện nay. Tuy vậy trong quá trình thực hiện còn gặp những nhân tố và
điều kiện ảnh hởng tới việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Trong
phạm vi bài viết này em xin trình bày một số nhân tố và điều kiện ảnh hởng sau:
1.2.1 Điều kiện tự nhiên của từng vùng.
Nh ta đã biết vị trí địa lý của nớc ta trải dài 15 vĩ độ. Diện tích phần lớn là đồi núi và
cao nguyên( chiếm 3/4 diện tích cả nớc), vị trí địa hình chia cắt phức tạp, điều kiện thời
tiết khí hậu khác nhau. Nếu nh ở Miền Bắc nắng nóng ma nhiều thì Miền Nam khí hậu
lịa ôn hoà còn Miền Trung thì nắng nóng khô hạn hơn. Mặt khác trong những năm gần
đây hạn hán lũ lụt thờng xảy ra. Do đó, ảnh hởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế
xã hội nông thôn nói chung và vấn đề giải quyết việc làm nói riêng. Thực tế cũng cho
thấy ở đâu có điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội thuận lợi có đời sống vật chất tinh thần
cao thì ở đó các ngành nghề sản xuất, sản xuất vật phát triển và tập trung nhiều lao động
việc làm hơn.
1.2.2 Chất lợng nguồn lao động
Yừu tố quyết định sự phát triển của xã hội là năng suất lao động, mà năng suất lao
động lại phụ thuộc rất lớn vào chất lợng nguồn lao động. Nguồn lao động là một chỉ tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và giải quyết việc làm ở nông thôn.
7
Mặt khác, do trình độ quản lý của một số cán bộ lãnh đạo các cấp địa phơng còn hạn
chế. Do vậy mà nhiều dự án chính sách đấu t cho lao động cả nớc nói chung và cho lao
động nông nghiệp, nông thôn nói riêng còn bất hợp lý dẫn đến hiệu quả trong vấn đề
giải quyết việc làm không cao.
1.3 Một số kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn
ở Trung Quốc và ASEAN
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia luôn dẫn đầu thế giới về dân số và lao động. Tính đến
năm 1993, Trung Quốc có 1.188.629.000 ngời, trong đó 74% sống và làm việc ở nông
thôn, với 60% là lao động nông nghiệp. Theo dự báo của Tổng cục Thống kê Trung
Quốc, từ nay đến năm 2002, vùng nông thôn Trung Quốc sẽ tăng thêm 70 đến 80 triệu
lao động. Con số này cộng với 120 triệu lao động đang d thừa ở nông thôn, càng gây sức
ép rất lớn về việc làm, ảnh hởng xấu đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và gây
những hậu quả không nhỏ về mặt xã hội. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản
khiến cho hơn 20 triệu ngời dân Trung Quốc hiện đang sống trong cảnh nghèo khổ.
Để khắc phục tình trạng đó, nhằm giải quyết vấn đề tốt hơn vấn đề nông dân, nông
nghiệp và nông thôn; trong những năm gần đây Trung Quốc đã thực thi nhiều chính
sách và biện pháp tích cực, và thực tế đã đem lại những thành công rất lớn. Trong đó đặc
biệt lu ý là phơng thức sử dụng nguồn lao động tại chỗ ở nông thôn.
Mục tiêu cơ bản của phơng thức này là thực hiện sự phân công lại lao động để sử
dụng hợp lý, giải quyết việc làm cho lao động d thừa, tích tụ ngày càng nhiều ở nông
thôn.
Tiền đề cần thiết để thực hiện phơng thức này là giữ vững sự phát triển ổn định của
nong nghiệp, theo phơng châm ổn định, cải cách, phát triển.
Các biện pháp thực hiện phơng thức này bao gồm:
-Một là: Nhà nớc ban hành những chính sách u đãi nhằm hỗ trợ nông nghiệp, tăng
thêm vốn đầu t cho nông nghiệp; tăng giá thu mua lơng thực; thực hiện chế độ trách
nhiệm khoán sản lợng đến hộ gia đình, khuyến khích ngời nông dân đầu t thêm cho
ngoài, năm 1989 đã đem lại hơn 9 tỷ đô la, nhiều hơn so với ngành du lịch. Trong tơng
lai, loại xí nghiệp hơng trấn có tác dụng rất lớn, không những tiép tục sử dụng có hiệu
quả nguồn lao động dôi thừa ở nông thôn, mà còn là con đờng tất yếu làm phồn vinh
kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, thúc đẩy hiện đại hoá nông nghiệp.
-Bốn là: Đổi mới cơ chế quản lý lao động và việc làm, theo hớng giải phóng tối đa
sức sản xuât và phát huy đợc tính năng động sáng tạo của mỗi một ngời lao động. Đồng
thời tăng cờng hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nớc, ý thức của ngời
dân trong việc thực hiện chơng trình dân số, xây dựng mạng lới sinh đẻ có kế hoạch ở
khắp làng, xã, huyện; lấy chủ trơng sinh đẻ có kế hoạch là quốc sách lâu dài, để tạo sự
cân bằng sinh thái, hạn chế tối đa mức tăng nhân khẩu cũng nh lao động ở nông thôn,
góp phần cùng các biện pháp nêu trên làm thay đổi toàn diện bộ mặt kinh tế - xã hội
nông thôn, đa nông thôn Trung Quốc bớc và một giai đoạn mới - giai đoạn tăng trởng
có phát triển.
1.3.2 Kinh nghiệm của các nớc ASEAN
Dù mỗi nớc có nét đặc thù, nhng nhìn chung, các nớc ASEAN lại tơng đối giống
nhau trên những mặt chủ yếu về việc làm và lao động, cụ thể là trình độ phát triển kinh
tế cha cao, lao động còn d thừa nhiều,..
Dới đây là những kinh nghiệm trong việc sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc
làm ở nông thôn.
-Một là: Tập trung sức phát triển nông nghiệp nông thôn, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu
trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội và giải quyết việc làm cho ngời lao động.
Sở dĩ nh vậy, là vì hầu hết các nớc ASEAN vốn là các quốc gia nông nghiệp lạc hậu,
dân số đông, lao động d thừa nhiều. Để thực hiện vấn đề này, tạo đà cho sự phát triển
mới, Chính phủ các nớc ASEAN đã tiến hành cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho
các hộ nông dân; khuyến khích họ tích cực lao động tạo ra nhiều việc làm, áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng vòng quay của đất, đa dạng hoá cây trồng, vật
nuôi và thơng mại hoá sản phẩm... Mặt khác các chính phủ còn có nhiếu chính sách
nhằm nâng cấp các cơ sở hạ tầng, cải thiện thuỷ lợi, đờng xá, thông tin liên lạc... để các
10
luồng sản phẩm đợc lu thông thông suốt trong thị trờng quốc gia cũng nh thị trờng quốc
nhập từ 3-4 năm trong trờng hợp mở rộng sản xuất để xuất khẩu ở Singapo.
+ Bảo hiểm thơng mại cho 90% tổn thất có thể xảy ra; miễn thuế và trả lãi suất tín
dụng thơng mại, kể cả tín dụng nớc ngoài, đào tạo các ngành kinh doanh, giúp đỡ kỹ
thuật và giúp đỡ quy mô hoạt động của các xí nghiệp ở Malaysia.
+ Thực hiện chính sách tài chính, giảm chi tiêu các khoản cha cần thiết; hỗ trợ các
hàng hoá xuất khẩu; tăng sức canh tranh của hàng hoá trên thị trờng quốc tế ... ở Thái
Lan.
+ Tăng cờng thu hút vốn đầu t của nớc ngoài, để khai thác sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của mỗi nớc ở Thái Lan, Malaysia...
-Bốn là: Phát huy yếu tố con ngời - động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, Chính
phủ các nớc ASEAN luôn xác định rằng dân số của các nớc họ đông, mật độ dân số cao,
lại đi lên từ nông nghiệp lạc hậu nên vẫn còn một bộ phận không nhỏ những ngời lao
động giản đơn tay nghề thấp. Điều này, vừa có ý nghĩa là thừa lao động nếu không giải
quyết đợc công ăn việc làm; vừa có ý nghĩa là thiếu lao động nếu nh không tổ chức lao
động, bồi dỡng đào tạo nguồn lao động có trình độ nhất định phù hợp với quá trình công
nghiệp hoá.Vì vậy, các nớc ASEAN đã thờng xuyên quan tâm đầu t vào giáo dục, tập
trung nâng cao dân trí, bồi dỡng nhân lực, đào tạo nhân tài. Kết quả là đã tạo nên một
đội ngũ các nhà chiến lợc hoạch định đờng lối ở tầm quốc gia, một đội ngũ các nhà
doanh nghiệp giỏi, có học thức, có óc sáng tạo và một lực lợng công nhân lành nghề, có
khả năng tiếp nhận kỹ thuật mới và biết ứng dụng vào sản xuất. Đồng thời trong nội
dung giáo dục và đào tạo, Chính phủ các nớc ASEAN luôn chú trọng bản sắc dân tộc,
giáo dục tinh thần tự lực tự cờng của dân tộc, có trách nhiệm đối với sự phồn vinh của
đất nớc, có trình độ tay nghề cao, có tinh thần cần cù sáng tạo và nề nếp kỷ luật lao
động; từng bớc làm thay đổi cách suy nghĩ, phơng thức lao động và thói quen của nền
sản xuất nông nghiệp lạc hậu trớc đây thích ứng với những đòi hỏi của nền văn minh
12
công nghiệp trong thời kỳ mới. Nhờ vậy mà nguồn lực con ngời trong các nớc này sử
dụng ngày càng hợp lý và có hiệu quả hơn.
Tóm lại, chính những giải pháp nêu trên đã làm cho nền kinh tế của các nớc ASEAN
không những sống động, tăng trởng nhanh; mà còn tạo ra nhiều việc làm cho ngời lao