LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
nội dung nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công
bố để bảo vệ một khóa luận nào.
Tôi cũng xin cam đoan những mục trích dẫn trong khóa luận đề đã được
ghi rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Thân Thị Thùy Trang
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ tận tình của các tổ chức, tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo
trong khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã dạy
bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Tiến sĩ Trần
Văn Đức - giảng viên bộ môn Kinh tế – khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại
Học Nông Nghiệp Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi
trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nghiên cứu viên Phòng
nghiên cứu chương trình và phương pháp dạy nghề - Viện nghiên cứu khoa
học dạy nghề, Sở Lao động Thương binh Xã hội, Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh
Bắc Giang, Ban Giám đốc 10 Trung tâm KTTH - HNDN và đặc biệt là Ban
Giám đốc của 3 Trung tâm: Lục Nam, Thành phố, Việt Yên đã giúp đỡ và tạo
mọi điều thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và người
thân đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
đề tài này.
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2010
ổn định lâu dài sau đào tạo.
3
Những mục tiêu nghiên cứu này chính là tâm điểm của khóa luận và đã được
chúng tôi giải quyết trong từng phần của khóa luận.
Phần I: Đưa ra tính cấp thiết của đề tài
Phần II: Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn
Đối với hoạt động hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho người
lao động bao gồm các vấn đề: Vai trò của công tác HNDN đối với vấn đề
phát triển nguồn nhân lực và phát triển kinh kế, xu hướng HNDN và tạo việc
làm, sự cần thiết phải tạo việc làm cho lao động nông thôn, các nhân tố ảnh
hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao đông (nhóm nhân tố về điều
kiện tự nhiên, nhóm nhân tố liên quan tới chính sách vĩ mô, nhóm nhân tố về
dân số, nhóm nhân tố về môi trường, nhóm nhân tố về giáo dụ định hướng
nghề nghiệp và khoa học công nghệ), nội dung cơ bản đánh giá quá trình
HNDN và tạo việc làm. Phần cơ sở thực tiễn chúng tôi đưa ra một vài nét về
tình hình HNDN trên thế giới và trong nước, các trung tâm HNDN trong
nước (về tình hình hình phát triển, về số lượng, về quy mô hoạt động, về
phương thức hoạt động và một số đặc điểm của giáo viên trung tâm), kết quả
hoạt động của các trung tâm như : Vấn đề về hướng nghiệp và tư vấn hướng
nghiệp, một vài bài học kinh nghiệm về HNDN và tạo việc làm của Trung
Quốc, Thái Lan, Nhật Bản.
Phần III: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Về đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Chúng tôi đã đưa ra một các khái
quát nhất các đặc điểm về diều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình,
khí hậu, thủy văn của tình và đặc điểm kinh tế xã hội như đất đai và tình hình
sử dụng đất đai của tỉnh, tình hình dân số của tỉnh, tình hình cơ sở vật chất kỹ
thuật và kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành chính của tỉnh.
Về phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi chọn các phương pháp nghiên
cứu đó là phương pháp chọn điểm nghiên cứu Do địa bàn nghiên cứu tương
đối rộng là các Trung tâm HN - DN trong toàn tỉnh (10 trung tâm), do điều
Từ những đánh giá trên chúng tôi đã đưa ra định hướng và một số giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả hoạt động của các trung tâm HNDN là:
Về công tác Hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh THPT, BT THPT -
Chức năng gián tiếp và trực tiếp tạo việc làm cho lao động tiềm năng gần. Về
vấn đề tham gia thực hiện vào chương trình phổ cập tin học cho thanh niên
nông thôn. Về vấn đề chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
trong lĩnh vực phát triển ngành nghề ở nông thôn và áp dụng tiến bộ khoa học
vào lĩnh vực nông nghiệp. Về các giải pháp cho hoạt động dạy nghề ngắn
hạn.Giải pháp về việc thành lập các xưởng lao động sản xuất kết hợp với làm
dịch vụ......
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Đề tài đã phân tích một cách sâu sắc về thực trạng và đánh giá sâu sắc
về các kết quả đã làm được của các trung tâm HNDN. Trung tâm HDND là
địa chỉ duy nhật trên địa bàn mỗi huyện thực hiện cả 3 nhiệm vụ liên thông
nối tiếp nhau một cách bài bản, có quá trình, có chỉ đạo và thẩm định từ tư
vấn hướng nghiệp đến dạy nghề và tạo việc làm.
Các trung tâm luôn luôn xác định khách hành của trung tâm đồng thời là
sản phẩm của trung tâm, là uy tín, là sự tồn tại của trung tâm vì vậy đại đa số
học sinh học nghề ở đây đều tìm được việc làm ổn định trong các khu công
nghiệp, khu chế suất. Trung tâm cũng tạo được độ tin cậy cao đối với các đơn
vị liên kết. Nhưng mặt khác cơ sở hạ tầng và đội ngũ giáo viên cũng các
trung tâm vẫn còn rất nhiều, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển
quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo của các trung tâm.
Đề tài chỉ rõ những định hướng chủ yếu mà các trung tâm HNDN cần
đạt được trong năm tới. Bên cạnh đó đề tài còn đưa ra các giải pháp trước
mắt cũng như lâu dài đối với các hoạt động của các trung tâm.
Chúng tôi đưa ra một số kiến nghị: Đối với nhà nước, đối với UBND tỉnh Bắc
Giang, Sở LĐ – TBXH, Sở GD & ĐT, các trung tâm HNDN cấp huyện, thị.
6
MỤC LỤC
việc làm trong toàn tỉnh.
Bảng 4.13 : Kế hoạch HN – DN tỉnh Bắc Giang năm 2010 – 2015
Bảng 4.14: Nhu cầu kinh phí giai đoạn 2010 - 2015
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT KTTH – HN : Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp
UBND : Uỷ ban nhân dân
LĐ : Lao động
LĐ-TBXH : Lao động thương binh xã hội
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
GDHN : Giáo dục hướng nghiệp
THCN : Trung học chuyên nghiệp
CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại học
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
TT.LĐ-HN-BGD&ĐT : Trung tâm lao động hướng nghiệp
Bộ giáo dục đào tạo
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
GDTX : Giáo dục thường xuyên.
HNDN : Hướng nghiệp dạy nghề
8
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn hiện nay chiếm khoảng 75%
lực lượng lao động trong cả nước, đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển
kinh tế của nước ta. Trong những năm vừa qua với sức ép của sự gia tăng dân
số và tốc độ tăng trưởng kinh tế, lao động việc làm ở nông thôn đã bộc lộ
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự nghiệp
ghi rõ.
Mục tiêu:
- Từ nay đến năm 2010: Điều chỉnh mục tiêu đào tạo đến năm 2010 từ
16.200 người lên 35.000 người trong đó: Cao đẳng nghề 2.000 người, trung
cấp nghề 12.000 người, sơ cấp nghề 21.000 người.
- Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020: Quy mô tuyển sinh và đào tạo
của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 là 42.000 người, trong
đó: Cao đẳng nghề 4.000 người, trung cấp nghề 14.000 người, sơ cấp nghề
24.000 người.
Việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực
hoạt động của các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm ổn định
lâu dài cho người lao động là vô cùng quan trọng.
Xuất phát từ những vấn đề trên và dưới sự hướng dẫn của
10
TS.Trần Văn Đức, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả các
trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho lao động ở nông thôn
tỉnh Bắc Giang”.
11
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá kết quả các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm
cho lao động ở nông thôn tỉnh Bắc Giang
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn đối với hoạt động
hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động.
- Đánh giá kết quả các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm
cho lao động ở khu vực nông thôn tỉnh Bắc Giang. Tìm ra các nguyên nhân
ảnh hưởng, làm cơ sở cho định hướng mục tiêu và giải pháp.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp hữu hiệu nhằm gắn kết các
hoạt động hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm thành một hệ thống thống
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Vai trò của HN – DN đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực
và phát triển kinh tế
Vai trò của công tác HN - DN được thể hiện rõ ở những mặt sau:
Một là, HN - DN đúng sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng
cường năng lực cạnh tranh nhằm chủ động hội nhập với thị trường lao động
khu vực và thế giới. Với việc đào tạo ra đội ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ
công nhân lành nghề sẽ góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng, nâng cao
chất lượng lao động tạo ra điều kiện thực tế để chuyển đổi cơ cấu lao động xã
hội phù hợp với cơ cấu kinh tế trong công cuộc CNH –HĐH đất nước.
Hai là, HN - DN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và
phát triển ngành nghề mới ở nông thôn. Trong điều kiện hiện nay, vấn đề giải
quyết việc làm còn nhiều khó khăn, thực tế cho thấy sức ép về việc làm ngày
càng tăng do lực lượng lao động trẻ tăng lên hàng năm, do lao động dôi dư từ
các ngành, doanh nghiệp tạo ra và do việc chuyển đổi mục đích đất nông
nghiệp phục vụ quá trình đô thị hoá và phát triển các khu vực công nghiệp tập
trung trong khi lao động ở những vùng này chưa kịp đào tạo để chuyển đổi
nghề. Trong bối cảnh đó công tác HN - DN sẽ đào tạo và đào tạo lại đội ngũ
lao dộng giúp họ có thể tham gia thị trường lao động. Đối với bộ phận lao
động nông thôn sẽ có thê bằng những nghề mình học mà hành nghề trên quê
hương mình. Đây không chỉ là vấn đề giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà
còn là điều kiện để phát triển ngành nghề mới ở nông thôn.
Ba là, HN - DN đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH –HDH. Việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ứng dụng tíên bộ khoa học kỹ thuật, thâm
canh đa dạng hoá, chuyên môn hoá, phát triển ngành nghề thủ công truyền
thống, dịch vụ nông nghiệp và công nghiệp nhỏ (chế biến lương thực, thực
14
phẩm, hàng tiêu dùng truyền thống gia công) đòi hỏi đào tạo nhân lực lao
động kỹ thuật rất phong phú và đa dạng ở mọi trình độ, mọi hình thức. Đẩy
trọng tâm, năng động và chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho người
khác trong các thành phần kinh tế, không thụ động trông chờ vào sự bố trí
việc làm của Nhà nước. Người sử dụng lao động được khuyến khích đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo mở việc làm. Nhà nước tập trung
ban hành luật pháp, cơ chế chính sách, tạo môi trường và cơ hội thuận lợi để
mọi người tự tạo việc làm cho mình và cho xã hội.
- Cùng với việc ban hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật
đầu tư nước ngoài, Luật Đất đai, Luật doanh nghiệp... Bộ Luật lao động ra
đời là xác lập khung pháp luật về quan hệ lao động trong cơ chế thị trường
tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho việc thuê mướn, sử dụng lao động,
thúc đẩy quan hệ lao động và thị trường lao động phát triển, mở ra khả năng
mới giải phóng tiềm năng lao động và mở việc làm.
- Nhà nước, các ngành, các cấp đã có nhiều cố gắng huy động nguồn
vốn đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước. Tổng nguồn vốn đầu tư
toàn xã hội thực hiện trong 10 năm qua (Theo giá năm 1995) khoảng 63
nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 57 tỷ USD. Nguồn vốn đầu tư này đã giữ
vai trò chủ đạo trong thực hiện thành công chương trình quốc gia tổng hợp về
giải quyết việc làm.
- Cùng với phát triển kinh tế - xã hội để giải quyết việc làm. Đảng và
Nhà nước ta đã có những quyết sách quan trọng, tăng cường hỗ trợ trực tiếp
cho người lao động để tạo việc làm và thu nhập. Đặc biệt là đã dùng ngân
sách Nhà nước lập quỹ quốc gia giải quyết việc làm để cho vay vốn lãi suất
ưu đãi, không phải thế chấp, theo dự án nhỏ tạo việc làm, hình thành và phát
triển hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm và các cơ sở đào tạo nghề xã
hội.
16
- Đã phát triển nhiều hình thức, trung tâm tổ chức giải quyết việc làm
phong phú, đa dạng ở các địa phương, các ngành, các cấp, đơn vị cơ sở với
sự tham gia tích cực, chủ động của các tổ chức đoàn thể xã hội. Đã xuất hiện
những nhân tố quan trọng góp phần tạo nhiều việc làm và chuyển dịch cơ cấu
thấp. Sự chuyển biến nhận thức về lao động, việc làm chưa đồng bộ giữa các
cấp, các ngành, nhất là trong bố trí chiến lược, kế hoạch và đầu tư.
2. Còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư, huy
động mọi nguồn lực, phát triển các thị trường (Trong đó có thị trường lao
động) để tăng trưởng kinh té và tạo mở việc làm. Chế độ tiền lương, tiền
công và thu nhập chưa thể hiện sự công bằng trong phân phối và tôn vinh lao
động sáng tạo trọng dụng nhân tài, chưa trở thành động lực để người lao động
toàn tâm, toàn ý với công việc và nâng cao chất lượng lao động.
- Việc thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm
ở một số địa phương còn lúng túng, việc giải ngân quỹ quốc gia giải quyết
việc làm còn chậm, hiệu quả của một số dự án tạo việc làm còn thấp.
2.1.3 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho lao động nông thôn
Ở nông thôn vấn đề cơ bản nhất cần phải giải quyết là nạn thiếu việc
làm còn rất phổ biến và nghiêm trọng, việc làm kém hiệu quả và thu nhập
thấp dẫn đến đời sống thấp, một bộ phận lớn dân cư (khoảng 30%) còn trong
tình trạng nghèo khổ. Rõ ràng, về chiến lược cần phải tập trung giải quyết
việc làm cho lao động khu vực nông thôn. Hơn nữa, nếu giải quyết vấn đề lao
động và việc làm ở nông thôn cũng sẽ góp phần quan trọng giảm sức ép việc
làm ở thành thị. Để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong thời
gian tới phải làm thay đổi và chuyển dịch cơ bản cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động nông thôn theo hướng giảm dần số hộ thuần nông để giải phóng đất đai,
khắc phục tình trạng bình quân đầu người diện tích đất nông nghiệp thấp như
hiện nay.
18
Đa dạng hoá ngành nghề, thực hiện người nào giỏi việc gì thì làm việc
ấy, trên cơ sở giao đất ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, đồng thời bằng cơ
chế chính sách và luật pháp tập trung dần ruộng đất có điều kiện cho các hộ
gia đình có khả năng sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá. Đa dạng
hoá việc làm và đa dạng hoá thu nhập phải trở thành hình thức phổ biến trong
nông thôn, đặc biệt là phát triển mạnh mẽ việc làm phi nông nghiệp, xí
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương
thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế, đồng thời liên
quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi
trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị
trường tiêu thụ. Vì thế bất cứ chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước cũng
ảnh hưởng và tác động đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.
Ở Việt Nam nhiệm vụ của chương trình mục tiêu quốc về việc làm là
phải góp phần hoàn thiện một hệ thống chính sách, đưa ra được các biện pháp
hữu hiệu, tiến hành các hoạt động đồng bộ, kết hợp lồng ghép với các chương
trình khác, cùng với các hoạt động của các ngành, các cấp trong quá trình
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chính sự tác
động mạnh mẽ của một chương trình quốc gia liên quan trực tiếp đến vấn đề
giải quyết việc làm.
* Nhân tố về dân số:
Dân số, lao động việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự
phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Tăng trưởng dân số với tốc độ và
quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nhân lực vô giá, nguồn lực con người đáp
ứng nhu cầu đòi hỏi về nhân lực của nền kinh tế. Tuy nhiên nhiều quốc gia đã
gặp phải nhiều tình huống ngược lại. Tăng trưởng dân số không phải là yếu tố
tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế. Đó chính là giai đoạn mà phát
triển dân số quá nhanh, quy mô phát triển lớn vượt quá khả năng đáp ứng và
20
yêu cầu của xã hội.
Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy
mô của lực lượng lao động. Nếu mức sinh cao dẫn đến giá tăng nhanh chóng
số lượng người trong độ tuổi lao động tương lai. Mục tiêu của hầu hết các
nước là giảm thấp mức chết, gia tăng tuổi thọ. Điều này cũng làm cho số
người trong độ tuổi lao động tăng lên, sức khoẻ được cải thiện nên số người
có khả năng cung cấp sức lao động tăng.
Ngoài ra vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông
nghệ mới. Không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo các nguồn nhân
lực quý giá cho đất nước phát triển, hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước
khác.
Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn
sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và rõ ràng, người lao động qua quá
trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân
công sắp xếp.
Trong quá trình giáo dục phải gắn chặt với vấn đề Hướng học và
Hướng nghiệp. Tất cả mọi con người đều được đi học, nếu vấn đề Hướng
nghiệp được triển khai sớm thì đại bộ phận dân số sẽ được hưởng lợi do
công tác Hướng nghiệp đem lại, sẽ giúp cho mọi người dễ dàng tìm được
nghề phù hợp ngay từ đầu.
- Về khoa học công nghệ:
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng với việc mở rộng
hợp tác liên doanh với các nước cũng như sự phát triển của công nghệ đã làm
biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động.
Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các
công việc xã hội yêu cầu, trước hết họ phải là những người được trang bị nhất
định về khoa học công nghệ. Tuy nhiên trong thực tế ở những nước sản xuất
22
kém phát triển thường có sự mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến, với
các dây chuyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình độ người
lao động chưa bắt kịp thời dễ dẫn đến trình trạng một bộ phận người lao động
bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh. Vì thế, bên cạnh công việc đào
tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn áo dụng
mức độ công nghệ nào trong dây chuyền sản xuất kinh doanh, phải tính toán
rất kỹ, bởi lẽ: Chính sách khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động.
2.1.5 Nội dung cơ bản đánh giá kết quả quá trình HN – DN và tạo việc làm
*Khái niệm về hiệu quả
và chi phí hoạt động bỏ ra để thu được kết quả đó. Chỉ tiêu này nhằm đánh
giá những lợi ích kinh tế xã hội mà hoạt động đem lại nhằm tạo ra một môi
trường bề vững lâu dài.
Căn cứ vào phạm vi của hiệu quả người ta chia hiệu quả ra làm 4 loại:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân.
- Hiệu quả kinh tế vùng - lãnh thổ.
- Hiệu quả kinh tế của các ngành.
- Hiệu quả kinh tế của các yếu tố tham gia hoạt động.
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu người ta chia hiệu quả thành rất nhiều
loại ứng với từng đối tượng (Ví dụ: hiệu quả của hoạt động hướng nghiệp;
hiệu quả của hoạt động dạy nghề; hiệu quả của hoạt động liên kết đào tạo...)
* Ý nghĩa của hiệu quả
- Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, là việc phản ánh chất lượng của quá
trình hoạt động, nó cho phép đánh giá hoạt động có kết quả hay không, đó
cũng là tiêu chí của mọi hoạt động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế thì
mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi nhuận, việc nâng cao hiệu quả hoạt động
cũng đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế về chiều sâu. Nguồn lực của xã
24
hội là hữu hạn mà lại đòi hỏi một lượng sản phẩm mà xã hội tạo ra phải có
giá trị sử dụng cao với mức hao phí xã hội là thấp nhất thì cả xã hội cùng có
lợi. Như vậy hiệu quả kinh tế luôn có ý nghĩa lớn trong xã hội nó đóng vai trò
Trung tâm của mọi cấp, mọi ngành trong mọi lĩnh vực, mọi tập thể, mọi cá
nhân đều phải quan tâm đến.
- Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá hiện
nay nếu chỉ đánh giá hiệu quả bằng việc tính được tỷ xuất lợi nhuận vế mặt
kinh tế mà không chú ý đến hiệu quả về mặt môi trường và xã hội thì hiệu
quả đó chắc chắn không được bền vững. Nếu chỉ tính đến hiệu quả đạt được
cho xã hội và hiệu quả cho môi trường mà không tính đến hiệu quả kinh tế thì
đơn vị khó mà tồn tại và phát triển được. Vì vậy việc xác định đúng đắn và đầy
đủ khái niệm về hiệu quả phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê