Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp: “Đánh giá kết quả hoạt động các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho lao động ở nông thôn tỉnh Bắc Giang” - Pdf 93

TRƯỜNG ……………..
Khoa…………………
----------
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài

Đánh giá kết quả hoạt động các
trung tâm hướng nghiệp dạy nghề
và tạo việc làm cho lao động ở nông
thôn tỉnh Bắc Giang
1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................3
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................4
TÓM TẮT ........................................................................................................5
4.1. Vị trí, vai trò và thực trạng của các trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề và tạo
việc làm cho lao động nông thôn.......................................................................11
4.1.1 Vị trí, vi trò của các trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm ....11
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
nội dung nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công
bố để bảo vệ một khóa luận nào.
Tôi cũng xin cam đoan những mục trích dẫn trong khóa luận đề đã được
ghi rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Thân Thị Thùy Trang
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự

thấp do đó họ đã bỏ việc, lại trở thành thất nghiệp. Có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng trên, trong đó có một nguyên nhân cơ bản, then chốt là
công tác hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm chưa phù hợp với đòi hỏi
của thực tiễn.
Xuất phát từ những vấn đề trên và dưới sự hướng dẫn của
TS.Trần Văn Đức, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả hoạt
động các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho lao động ở
nông thôn tỉnh Bắc Giang”.
Để đánh giá một cách chính xác kết quả hoạt động của các trung tâm
hướng nghiệp dạy nghề chúng tôi đưa ra các mục tiêu nghiên cứu:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn đối với hoạt động
hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động.
- Đánh giá kết quả các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm
cho lao động ở khu vực nông thôn tỉnh Bắc Giang. Tìm ra các nguyên nhân
ảnh hưởng, làm cơ sở cho định hướng mục tiêu và giải pháp.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp hữu hiệu nhằm gắn kết các
hoạt động hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm thành một hệ thống thống
nhất, nhằm nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm này, giúp cho
phần lớn lao động ở khu vực nông thôn Bắc Giang thực sự có được việc làm
ổn định lâu dài sau đào tạo.
5
Những mục tiêu nghiên cứu này chính là tâm điểm của khóa luận và đã được
chúng tôi giải quyết trong từng phần của khóa luận.
Phần I: Đưa ra tính cấp thiết của đề tài
Phần II: Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn
Đối với hoạt động hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho người
lao động bao gồm các vấn đề: Vai trò của công tác HNDN đối với vấn đề
phát triển nguồn nhân lực và phát triển kinh kế, xu hướng HNDN và tạo việc
làm, sự cần thiết phải tạo việc làm cho lao động nông thôn, các nhân tố ảnh
hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao đông (nhóm nhân tố về điều

mục tiêu nghiên cứu còn lại. Chúng tôi đã có một cái nhìn cụ thể về kết quả
hoạt động của các trung tâm từ đó đưa ra một số đánh giá về kết quả hoạt
dộng của các trung tâm HNDN cho lao động nông thôn tỉnh Bắc Giang
Hướng nghiệp cho HS PT thực chất là HN cho lao động tiềm năng gần
của khu vực nông thôn. Các Trung tâm đóng vai trò hướng dẫn và chỉ đạo,
Trung tâm đã tập huấn, bồi dưỡng giáo viên cho 100% số trường cộng tác, ra
các văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết, kiểm tra giám sát nghiêm túc. Trung
tâm đã tạo ra được độ tin cậy cao đối với các đơn vị liên kết. Hiện nay các
trung tâm cũng đang mở rộng các loại hình liên kết đào tạo để đáp ứng nhu
cầu của học viên.
Nhưng mặt khác thì cơ sở vật chất của các TT còn quá nghèo nàn biểu
hiện ở cả 2 phương diện là cơ sở hạ tầng và trang thiết bị giảng dạy. Đội ngũ
giáo viên còn thiếu nghiêm trọng, toàn tỉnh mới chỉ có 108 biên chế phần lớn
giáo viên còn trong thời kỳ học tập để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp
vụ. Người dân vẫn mang đậm phong tục tập quán của vùng quê và qua khảo
sát 3 trung tâm chúng tôi thấy các em đi học là do sức ép của gia đình chứ
không phải do nhu cầu cần học thật sự của học sinh. Đây cũng là một vấn đề
lớn đáng phải lưu tâm.
7
Từ những đánh giá trên chúng tôi đã đưa ra định hướng và một số giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả hoạt động của các trung tâm HNDN là:
Về công tác Hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh THPT, BT THPT -
Chức năng gián tiếp và trực tiếp tạo việc làm cho lao động tiềm năng gần. Về
vấn đề tham gia thực hiện vào chương trình phổ cập tin học cho thanh niên
nông thôn. Về vấn đề chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
trong lĩnh vực phát triển ngành nghề ở nông thôn và áp dụng tiến bộ khoa học
vào lĩnh vực nông nghiệp. Về các giải pháp cho hoạt động dạy nghề ngắn
hạn.Giải pháp về việc thành lập các xưởng lao động sản xuất kết hợp với làm
dịch vụ......
Phần V: Kết luận và kiến nghị

Bảng 4.5. Kết quả của 8 mặt hoạt động trong các trung tâm HN -DN
Bảng 4.6: Kết quả dạy nghề cụ thể của 10 trung tâm trong toàn tỉnh
Bắc Giang ( 2007 – 2009)
Bảng 4.7. Kết quả đào tạo nâng cao tay nghề của các trung tâm hướng nghiệp cho
người lao động ở khu vực nông thôn 3 năm gần đây
Bảng 4.8. Kết quả thu - chi hàng năm của các trung tâm HN - DN trong toàn
tỉnh ( 2007 – 2009)
Bảng 4.9 Kết quả điều tra ý kiến người đăng ký tuyển sinh tại 3 trung tâm
HN - DN tại 3 trung tâm: Lục Ngạn, Thành Phố, Việt Yên
Bảng 4.10 Kết quả điều tra ý kiến học viên đang theo học chương trình hướng
nghiệp và học nghề tại 3 trung tâm Việt Yên, Thành phố, Lục Ngạn
Bảng 4.11. Kết quả điều tra ý kiến những học viên đã học xong chương trình
nghề tại 3 trung tâm Lục Ngạn, Thành phố, Lục Nam
Bảng 4.12 Kết quả điều tra năng lực giáo viên của 10 trung tâm HN - DN và tạo
việc làm trong toàn tỉnh.
9
Bảng 4.13 : Kế hoạch HN – DN tỉnh Bắc Giang năm 2010 – 2015
Bảng 4.14: Nhu cầu kinh phí giai đoạn 2010 - 2015
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT KTTH – HN : Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp
UBND : Uỷ ban nhân dân
LĐ : Lao động
LĐ-TBXH : Lao động thương binh xã hội
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
GDHN : Giáo dục hướng nghiệp
THCN : Trung học chuyên nghiệp
CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại học

quan tâm đến chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Bên cạnh
đó, công tác hướng nghiệp dạy nghề chưa được quan tâm thích đáng. Trong
thời đại Công nghệ thông tin và truyền thông cùng với sự phát triển mạnh mẽ
11
của nền kinh tế tri thức công tác hướng nghiệp dạy nghề càng mang tính cấp thiết
hơn bao giờ hết.
Bắc Giang là tỉnh miền núi có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên
khoáng sản. Dân số Bắc Giang có 1.555.720 người, với mật độ dân số 407
người/km², gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân của cả nước. Tỉnh đã có
nhiều cố gắng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, đã hình
thành rất nhiều mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người
lao động ở nông thôn.
Quyết định số: 08/2007/QĐ-UBND Bắc Giang, ngày 6 tháng 02 năm 2007
Về việc Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch hệ thống các trung tâm hướng nghiệp
dạy nghề tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2000 - 2010 và định hướng đến năm 2020
ghi rõ.
Mục tiêu:
- Từ nay đến năm 2010: Điều chỉnh mục tiêu đào tạo đến năm 2010 từ
16.200 người lên 35.000 người trong đó: Cao đẳng nghề 2.000 người, trung
cấp nghề 12.000 người, sơ cấp nghề 21.000 người.
- Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020: Quy mô tuyển sinh và đào tạo
của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 là 42.000 người, trong
đó: Cao đẳng nghề 4.000 người, trung cấp nghề 14.000 người, sơ cấp nghề
24.000 người.
Việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực
hoạt động của các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm ổn định
lâu dài cho người lao động là vô cùng quan trọng.
Xuất phát từ những vấn đề trên và dưới sự hướng dẫn của
TS.Trần Văn Đức, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả các
trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho lao động ở nông thôn

13
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm cho
lao động ở khu vực nông thôn Bắc Giang.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện ở một số trung
tâm tiêu biểu trên phạm vi tỉnh Bắc Giang
- Phạm vi về thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 30/12 đến tháng
5/2010. Số liệu được thu thập nghiên cứu là những số liệu đã được
công bố của 3 năm gần đây và các số liệu mới sẽ được thu thập vào
cuối năm 2008, đầu năm 2009.
14
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Vai trò của HN – DN đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực
và phát triển kinh tế
Vai trò của công tác HN - DN được thể hiện rõ ở những mặt sau:
Một là, HN - DN đúng sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng
cường năng lực cạnh tranh nhằm chủ động hội nhập với thị trường lao động
khu vực và thế giới. Với việc đào tạo ra đội ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ
công nhân lành nghề sẽ góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng, nâng cao
chất lượng lao động tạo ra điều kiện thực tế để chuyển đổi cơ cấu lao động xã
hội phù hợp với cơ cấu kinh tế trong công cuộc CNH –HĐH đất nước.
Hai là, HN - DN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và
phát triển ngành nghề mới ở nông thôn. Trong điều kiện hiện nay, vấn đề giải
quyết việc làm còn nhiều khó khăn, thực tế cho thấy sức ép về việc làm ngày
càng tăng do lực lượng lao động trẻ tăng lên hàng năm, do lao động dôi dư từ
các ngành, doanh nghiệp tạo ra và do việc chuyển đổi mục đích đất nông
nghiệp phục vụ quá trình đô thị hoá và phát triển các khu vực công nghiệp tập

tạo nghề là điều kiện để cải thiện cuộc sống của chính họ và nâng cao giá trị
của nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
2.1.2 Xu hướng HN – DN và tạo việc làm
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng,
cơ chế chính sách phù hợp của Nhà nước đã tạo được sự chuyển biến cơ bản
về nhận thức, phương thức tạo mở việc làm, đã huy động được mọi nguồn
lực cho đầu tư phát triển và tạo mở việc làm. Chương trình, mục tiêu quốc gia
về giải quyết việc làm đã được triển khai thực hiện có kết quả với sự quan
tâm của các ngành, các cấp và toàn xã hội. Vì vậy đã giảm thất nghiệp, tăng
việc làm và bước đầu đã chuyển đổi cơ cấu và chất lượng lao động theo
16
hướng tích cực.
- Nhận thức quan niệm về việc làm và chủ trương tạo việc làm cho
người lao động đã được thay đổi cơ bản, người lao động đã đứng vào vị trí
trọng tâm, năng động và chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho người
khác trong các thành phần kinh tế, không thụ động trông chờ vào sự bố trí
việc làm của Nhà nước. Người sử dụng lao động được khuyến khích đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo mở việc làm. Nhà nước tập trung
ban hành luật pháp, cơ chế chính sách, tạo môi trường và cơ hội thuận lợi để
mọi người tự tạo việc làm cho mình và cho xã hội.
- Cùng với việc ban hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật
đầu tư nước ngoài, Luật Đất đai, Luật doanh nghiệp... Bộ Luật lao động ra
đời là xác lập khung pháp luật về quan hệ lao động trong cơ chế thị trường
tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho việc thuê mướn, sử dụng lao động,
thúc đẩy quan hệ lao động và thị trường lao động phát triển, mở ra khả năng
mới giải phóng tiềm năng lao động và mở việc làm.
- Nhà nước, các ngành, các cấp đã có nhiều cố gắng huy động nguồn
vốn đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước. Tổng nguồn vốn đầu tư
toàn xã hội thực hiện trong 10 năm qua (Theo giá năm 1995) khoảng 63
nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 57 tỷ USD. Nguồn vốn đầu tư này đã giữ

cho 20 vạn người, giới thiệu và cung ứng 8 vạn lao động. Triển khai Nghị
quyết TW2 (khoá 8), công tác dạy nghề đã một bước chuyển đổi theo hướng
gắn chặt với sản xuất và nhu cầu của thị trường lao động.
Trong quy hoạch mạng lưới dạy nghề, cả nước tới nay đã có 154 trường
dạy nghề, 86 trung tâm dạy nghề, 320 Trung tâm KTTH HN - DN, 143 trung
tâm dịch vụ việc làm và nhiều tổng công ty, doanh nghiệp, trường cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp có dạy nghề. Quy mô đào tạo được mở rộng, số học
sinh được đào tạo nghề dài hạn đã tăng từ 80.000 (năm 1998) lên 150.000
18
(năm 2004) chưa kể khoảng nửa triệu người được đào nghề ngắn hạn.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn những mặt yếu kém và bất
cập chủ yếu là:
1. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn cao,
cơ cấu và chất lượng lao động chuyển dịch còn chậm, năng suất lao động
thấp. Sự chuyển biến nhận thức về lao động, việc làm chưa đồng bộ giữa các
cấp, các ngành, nhất là trong bố trí chiến lược, kế hoạch và đầu tư.
2. Còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư, huy
động mọi nguồn lực, phát triển các thị trường (Trong đó có thị trường lao
động) để tăng trưởng kinh té và tạo mở việc làm. Chế độ tiền lương, tiền
công và thu nhập chưa thể hiện sự công bằng trong phân phối và tôn vinh lao
động sáng tạo trọng dụng nhân tài, chưa trở thành động lực để người lao động
toàn tâm, toàn ý với công việc và nâng cao chất lượng lao động.
- Việc thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm
ở một số địa phương còn lúng túng, việc giải ngân quỹ quốc gia giải quyết
việc làm còn chậm, hiệu quả của một số dự án tạo việc làm còn thấp.
2.1.3 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho lao động nông thôn
Ở nông thôn vấn đề cơ bản nhất cần phải giải quyết là nạn thiếu việc
làm còn rất phổ biến và nghiêm trọng, việc làm kém hiệu quả và thu nhập
thấp dẫn đến đời sống thấp, một bộ phận lớn dân cư (khoảng 30%) còn trong
tình trạng nghèo khổ. Rõ ràng, về chiến lược cần phải tập trung giải quyết

- Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và
phát triển việc làm cho lao động toàn xã hội như: Chính sách tín dụng ưu đãi,
chính sách đất đai, chính sách thuế,...
- Nhóm chính sách khuyến khích phát triển lĩnh vực, hình thức và vùng
có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường (Chính sách
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết
20
cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao
động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách di chuyển lao động và
hành nghề, chính sách phát triển các hình thức thanh niên xung phong xây
dựng kinh tế và tạo việc làm, chính sách gia công xuất khẩu, chính sách khôi
phục và phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống...)
- Các chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính
sách xã hội, đặc biệt khác
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương
thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế, đồng thời liên
quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi
trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị
trường tiêu thụ. Vì thế bất cứ chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước cũng
ảnh hưởng và tác động đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.
Ở Việt Nam nhiệm vụ của chương trình mục tiêu quốc về việc làm là
phải góp phần hoàn thiện một hệ thống chính sách, đưa ra được các biện pháp
hữu hiệu, tiến hành các hoạt động đồng bộ, kết hợp lồng ghép với các chương
trình khác, cùng với các hoạt động của các ngành, các cấp trong quá trình
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chính sự tác
động mạnh mẽ của một chương trình quốc gia liên quan trực tiếp đến vấn đề
giải quyết việc làm.
* Nhân tố về dân số:
Dân số, lao động việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự
phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Tăng trưởng dân số với tốc độ và

Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc vừa là chiến lược lâu dài.
Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi
trường thiên nhiên, xem đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải
quyết việc làm.
22
* Nhân tố về vấn giáo dục định hướng nghề nghiệp và khoa học công nghệ:
- Về giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học,
công nghệ của đất nước đó. Trình độ khoa học, công nghệ lại phụ thuộc vào
các điều kiện giáo dục. Đã có rất nhiều bài học thất bại, khi một nước nào đó
sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến, trong khi tiềm năng khoa học công
nghệ trong nước còn rất non yếu. Sự non yếu thể hiện ở chỗ: Thiếu các
chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật
viên và công nhân lành nghề và tất yếu đã không thể ứng dụng được các công
nghệ mới. Không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo các nguồn nhân
lực quý giá cho đất nước phát triển, hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước
khác.
Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn
sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và rõ ràng, người lao động qua quá
trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân
công sắp xếp.
Trong quá trình giáo dục phải gắn chặt với vấn đề Hướng học và
Hướng nghiệp. Tất cả mọi con người đều được đi học, nếu vấn đề Hướng
nghiệp được triển khai sớm thì đại bộ phận dân số sẽ được hưởng lợi do
công tác Hướng nghiệp đem lại, sẽ giúp cho mọi người dễ dàng tìm được
nghề phù hợp ngay từ đầu.
- Về khoa học công nghệ:
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng với việc mở rộng
hợp tác liên doanh với các nước cũng như sự phát triển của công nghệ đã làm
biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động.

- Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá thành sản
phẩm, giá đầu vào hoặc phần tăng thêm của chất lượng qua một quá trình đào
24
tạo. Nó phản ánh giá trị tăng thêm trên 1 đơn vị chi phí bỏ ra.
- Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt được khi có cả 2 hiệu quả kỹ thuật và
hiệu quả phân bổ, nó được xác định bằng tích số của 2 hiệu quả trên.
Theo mức độ khái quát người ta chia hiệu quả thành 3 loại :
- Hiệu quả kinh tế: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về
kinh tế và chi phí mà hoạt động bỏ ra. Hiệu quả kinh tế đánh giá chủ yếu về
mặt hoạt động kinh tế.
- Hiệu quả xã hội : Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được mà
hoạt động đem lại với chi phí hoạt động xã hội bỏ ra. Loại hình kết quả này
dùng để đánh giá về mặt xã hội mà hoạt động đem lại.
- Hiệu quả môi trường: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được
và chi phí hoạt động bỏ ra để thu được kết quả đó. Chỉ tiêu này nhằm đánh
giá những lợi ích kinh tế xã hội mà hoạt động đem lại nhằm tạo ra một môi
trường bề vững lâu dài.
Căn cứ vào phạm vi của hiệu quả người ta chia hiệu quả ra làm 4 loại:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân.
- Hiệu quả kinh tế vùng - lãnh thổ.
- Hiệu quả kinh tế của các ngành.
- Hiệu quả kinh tế của các yếu tố tham gia hoạt động.
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu người ta chia hiệu quả thành rất nhiều
loại ứng với từng đối tượng (Ví dụ: hiệu quả của hoạt động hướng nghiệp;
hiệu quả của hoạt động dạy nghề; hiệu quả của hoạt động liên kết đào tạo...)
* Ý nghĩa của hiệu quả
- Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, là việc phản ánh chất lượng của quá
trình hoạt động, nó cho phép đánh giá hoạt động có kết quả hay không, đó
cũng là tiêu chí của mọi hoạt động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế thì
mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi nhuận, việc nâng cao hiệu quả hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status