PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 75

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
I. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM CÓ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TẠO VIỆC LÀM.
1. Đặc điểm tự nhiên
1.1 Đất đai
Đất đai là cơ sở tự nhiên là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất. Ở
Việt Nam, đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn ( 9345,4 nghìn ha chiếm 28,4%
diện tích đất sử dụng năm 2000). Tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp được sử
dụng phân bố giữa các vùng chưa đều. Theo số liệu điều tra của Tổng cục địa
chính cho thấy hiện trạng sử dụng đất năm 2000 phân theo vùng.
Bảng1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phân theo vùng
Đơn vị: nghìn ha
Tổng diện tích Đất nông nghiệp Tỷ lệ(%)
Cả nước 32924,4 9345,4 28,4
Đồng bằng sông Hồng 1478,8 857,6 58,0
Đông Bắc 6532,6 897,9 13,74
Tây Bắc 3563,7 407,4 11,43
Bắc Trung Bộ 5150,1 725,3 14,08
Duyên hải Nam Trung
Bộ
3306,7 545,6 16,5
Tây Nguyên 5447,6 1233,6 22,64
Đông Nam Bộ 3473,3 1707,8 49,17
Đồng bằng sông Cửu
Long
3971,3 2970,2 74,79
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 của Tổng cục Thống kê
Theo biểu trên ta thấy diện tích đất đai ở Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây
Nguyên khá lớn: Đông Bắc là 6532,6 (nghìn ha) chiếm 19,84%; Bắc Trung Bộ là
5150,1 (nghìn ha) chiếm 15,64% và Tây Nguyên chiếm 16,55% so với diện tích

trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác.
2
2
1.2 Dân số
1.2.1 Nguồn lao động ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn
Nguồn lao động ở nông thôn nước ta hiện nay khá đông. Theo kết quả tổng
điều tra dân số, năm 1990 nguồn lao động nông thôn là 27000 (nghìn người)
chiếm 73,5% lực lượng lao động của cả nước đến năm 2000 là 29925 (nghìn
người) chiếm 77,4% lực lượng lao động của cả nước. Như vậy, tỷ trọng nông
nghiệp không giảm mà vẫn tăng mặc dù nước ta đã có định hướng chuyển dịch cơ
cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ.
Bảng2: Nguồn lao động
Đơn vị: nghìn người
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Dân số 75355 76714 77046 76328 77496 78.700
Lao động
xã hội
35866 36297 37407 37783 38643 39.489
Nông thôn 29028 28964 29757 29363 29925 30.307
Thành thị 6838 7333 7649 8420 8718 9.182
Nguồn: Thực trạng lao động việc làm qua các năm
1996,1997,1998,1999,2000 của Bộ Lao động- Thương binh xã hội
Dân số nông thôn tăng nhanh trong 10 năm qua. Năm 1990 dân số nước
ta gần 51,9 triệu người. Đến năm 2000 là 59,065 triệu người. Như vậy, năm
2001 so với năm 1990 dân số nông thôn đã tăng 7,1 triệu người (đặc biệt năm
1992,1993 dân số nông thôn tăng rất nhanh, mỗi năm tăng khoảng 1,5 triệu
người - đây là thời kỳ có sự giảm biên chế trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp của Nhà nước, do đó một số lớn lao động quay trở lại khu vực nông
thôn). Trong mấy năm gần đây chính sách ở khu vực này có xu hướng giảm kết
hợp với việc thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá làm giảm mức sinh, năm 2000

23,01% dân số lao động nông thôn của cả nước và đồng bằng sông Cửu Long là
22,84% dân số lao động nông thôn của cả nước. Trong khi đó, ở Tây Bắc chỉ có
2009,9 (nghìn người) chiếm 3,4% dân số nông thôn của cả nước như đã nêu ở
phần trên mỗi vùng có điều kiện tự nhiên khác nhau, tài nguyên, kinh tế xã hội và
trình độ phát triển lực lượng sản xuất khác nhau thì số lượng lao động tập trung
gia tăng ở đó cũng khác nhau. Điều này dẫn tới sự mất cân đối giữa lao động và
tư liệu sản xuất, kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn và trình độ phát
4
4
triển không đều giữa các vùng thêm trầm trọng. Hiện nay, Đảng và Nhà nước đã
có chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn tránh hiện tượng di dân tự do,
phần lớn ổn định kinh tế chính trị đặc biệt chương trình đưa người dân nông thôn
đi xây dựng vùng kinh tế mới góp phần rất lớn vào việc giảm khoảng cách chênh
lệch giữa các vùng và khai thác được tiềm năng kinh tế ở mỗi vùng.
Vẫn biết rằng mỗi vùng có một vị trí địa lý khác nhau, có điều kiện phát
triển từng loại cây trồng, vật nuôi khác nhau song chính sự tập trung quá đông ở
các vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng làm cho số người
thiếu việc làm ở đây chiếm tỷ lệ lớn (đồng bằng sông Cửu Long: 2.239,752 ngàn
người, đồng bằng sông Hồng là 1.111,837 ngàn người) và nguyên nhân chủ yếu ở
đây là lượng lao động làm nông nghiệp nhiều song lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật kém. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai
vựa lúa lớn của cả nước nên lao động làm nông nghiệp tập trung đông nhưng
hàng năm diện tích đất ở và đất chuyên dùng ngày càng tăng còn diện tích đất
trồng có xu hướng thu hẹp, chính điều đó đã làm cho thời gian rảnh rỗi ở nông
thôn tăng lên.
Chúng ta đều biết sự phân công lao động xã hội là cơ sở để hình thành cơ
cấu ngành kinh tế. Phân công lao động càng sâu sắc thì cơ cấu ngành được phân
chia càng đa dạng và tỉ mỉ. Từ năm1994, vốn đầu tư cho ngành dịch vụ tăng cao
do tỷ suất lợi nhuận của đầu tư trong nông nghiệp thấp, đồng Việt Nam lên giá
mạnh, FDI chảy vào nhiều, các nhà đầu tư đã đổ dồn vào ngành dịch vụ và các

sông Hồng
16.331,8 13.513,6 16.520,4 13.411,2 16.701,5 13.445,8 16.870,6 13.516,2 17.017,7 13.591,0
Đông Bắc 8.524,8 7.156,8 8.635,8 7.161,9 8.737,1 7.225,9 8.852,7 7.317,5 8.952,4 7.380,4
Tây Bắc 2.112,9 1.842,0 2.159,4 1.881,2 2.205,5 1.919,7 2.239,8 1.950,0 2.287,7 2.009,9
Bắc Trung
Bộ
9.696,1 8.611,6 9.813,1 8.633,0 9.927,2 8.731,1 10.030,6 8.787,6 10.120,6 8.832,9
6
6
Nguồn: Niên giám thống kê 2000 của Bộ Lao động-Thương binh và xã hội
7
7
Ở các vùng sớm tiếp cận với phương thức sản xuất hàng hoá, có công
nghiệp phát triển, tốc độ đô thị hoá nhanh, dịch vụ mở rộng cũng là những vùng
có cơ cấu phân công lao động thay đổi nhanh và cơ cấu sản xuất cũng phát triển
như Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng lao động
phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao hơn con số trung bình cả nước từ 1 đến 6%.
Điều này cho thấy ở nơi đây thu hút nhiều lao động từ nông nghiệp, tạo điều kiện
chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Đất nước ta đang trên con đường đi lên
công nghiệp hoá thì trước tiên phải công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Tuy
nhiên cần phải xem xét đến chất lượng nguồn nhân lực.
1.2.3 Chất lượng nguồn lao động ở nông thôn có nhiều đặc tính phù hợp với
sự phát triển nhưng cũng còn nhiều hạn chế.
Do nguyên nhân lịch sử kinh tế sâu xa, nguồn lao động ở nông thôn nước ta
có bản sắc, văn hoá độc đáo, có truyền thống đoàn kết yêu nước nồng nàn; có
phẩm chất cần cù chịu khó, thông minh, sáng tạo. Tuy nhiên, nguồn lao động ở
nông thôn còn có nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã
hội và sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Về thể lực: chiều cao trung bình của lao động nông thôn là 156cm và trọng
lượng trung bình là 48kg. Để đánh giá thể lực của lao động, trong điều tra mức

khuyến nông và phổ biến kỹ thuật, trình độ canh tác của nông dân bước đầu được
cải thiện nhưng do phần lớn lao động nông thôn thiếu kiến thức cơ bản để tiếp thu
và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp nên hiệu quả sản xuất nhìn chung
còn thấp.
Như vậy, cả về thể lực và trí lực, lao động nông thôn còn nhiều hạn chế
trước yêu cầu phát triển hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
2. Đặc điểm kinh tế xã hội
2.1 Thu nhập
Trước khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế, kinh tế nông nghiệp
nông thôn rất thấp trong khi là khu vực thu hút nhiều lao động nông thôn nhất.
Một số nguyên nhân là: nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt đã làm
cho kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng suy sụp. Thứ
9
9
hai, hình thức sở hữu lúc đó là sở hữu nhà nước mang tính “bao cấp” vì vậy
không phát huy được năng lực của mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình dẫn đến phát
triển chậm chạp. Thứ ba, do trình độ kỹ thuật của lao động nông thôn còn kém
nên trong nông nghiệp hình thức lao động chủ yếu là lao động giản đơn chưa áp
dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, chi phí thời gian lao động nhiều nên
việc phát triển công nghiệp và dịch vụ còn chậm chạp.
Nhưng kể từ sau khi “đổi mới kinh tế” xu hướng tự do hoá kinh tế trong
nông nghiệp, sự thừa nhận chính thức các thành phần kinh tế tư nhân và ngoài
quốc doanh đã phát huy được những nguồn lực vốn có của người nông dân (trong
đó có nguồn nhân lực). Sự phát triển của kinh tế hộ và hình thức phát triển tất yếu
của kinh tế hộ- kinh tế trang trại, sự phát triển của các hộ sản xuất, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trong các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ,
đã là những yếu tố quyết định tạo nên sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của nông
nghiệp trong suốt một thập niên vừa qua, luôn ổn định ở mức tăng trưởng bình
quân hàng năm là 4,17% (giai đoạn 1989-1999). Sự tăng trưởng nông nghiệp, quá

tố chủ quan có ảnh hưởng khá lớn tới tạo việc làm. Thu nhập thấp sẽ làm cho tỷ lệ
hộ nghèo tăng.
Bảng5: Tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ cả nước (%)
1996 1999
Cả nước 15,7 13,33
Thành thị 6,85 4,61
Nông thôn 17,73 15,86
Tây Bắc và Đông Bắc 20,14 17,07
Đồng bằng sông Hồng 9,17 7,55
Bắc Trung Bộ 21,17 19,29
Duyên hải Nam Trung Bộ 14,51 14,02
Tây Nguyên 24,53 21,27
Đông Nam Bộ 9,6 5,17
Đồng bằng sông Cửu Long 13,41 10,22
Nguồn: Điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê
Trong 8 vùng lãnh thổ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc và Đông Bắc
là những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao hơn cả.Tây nguyên có hộ nghèo cao nhất
chiếm 24,53% tổng số hộ cả nước.Tuy nhiên năm 1999 có giảm xuống 21,27%
nhưng vẫn là vùng đứng đầu.Thấp nhất là Đông Nam Bộ tỷ lệ hộ nghèo chiếm
9,6%(năm 1996) và đến năm 1999 có giảm xuống 5,17%.Khu vực nông thôn có
11
11
số hộ nghèo nhiều hơn khu vực thành thị vì thu nhập bình quân đầu người/tháng ở
nông thôn là 80.000 đồng trong khi ở thành thị là 150.000 đồng (theo chuẩn mới)
2.2 Văn hoá xã hội
Nước ta đi lên từ một nước thuộc địa nghèo và lạc hậu. Bằng bàn tay và trí
óc của con người, con người Việt Nam đã đưa đất nước mình trở thành một cường
quốc độc lập về kinh tế, chính trị xã hội. Có thể nhận thấy điều đó qua nhận thức
của người lao động nông thôn nói riêng và của người Việt Nam nói chung.
- Người Việt Nam có phản ứng tích cực, nhận thức nhanh nhạy đối với thời

nhiều cái tốt phải biết giữ gìn và nâng cao.
- Nước ta còn nghèo, dân ta còn nhiều người túng thiếu, gần 50% trẻ em
suy dinh dưỡng nhưng vẫn còn bộ phận đua đòi, tiêu xài lãng phí. Điều này đặc
biệt là ở nông thôn chưa bỏ được tục lệ cưới xin, ma chay, giỗ tết… linh đình tốn
kém. Mức sống thấp, lối sống không hợp lý làm sao phát triển nhanh được!
- Dễ mắc vào các tệ nạn xã hội do sống thiếu bản lĩnh cá nhân. Đó là các tệ
nạn buôn lậu, hối lộ, mại dâm, ma tuý,... đã ảnh hưởng tới tư duy, nhân cách con
người.
Để hạn chế những mặt xấu trên cần phải phát triển hệ thống giáo dục đặc
biệt với giới trẻ hiện nay. Tương lai là nguồn lực tri thức phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước nên không chỉ cần có trình độ chuyên môn kỹ
thuật mà cần có trình độ văn hoá và nhận thức đúng về thời đại. Một xã hội phát
triển trong tương lai là xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
II. THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
VIỆT NAM.
1. Quy mô tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn Việt Nam
Để người lao động có việc làm, Bộ Luật lao động đã quy định: “... Giải
quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có
việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn thể xã
hội”(Điều 13). Như vậy, do nguồn lao động hàng năm tăng lên làm cho nhu cầu
về việc làm cũng tăng lên tức là quy mô về việc làm mới cũng tăng lên. Trong
những năm qua, nhận thức được vai trò của con người và tầm quan trọng của việc
làm trong việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cùng với sự giúp đỡ của các
cấp, các ngành, các địa phương số việc làm mới được tạo ra hàng năm tăng lên.
Bảng6: Số việc làm mới được tạo ra hàng năm
13
13
Đơn vị: Triệu người
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Lao động Xã Hội 35,866 36,297 37,407 37,783 38,643 39,489

Trong số các doanh nghiệp thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 14,16% ,các hợp tác
xã chiếm 5,76%, còn lại 80,08% là các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn. Khoảng 17,3% các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực
chế biến nông-lâm-thủy sản, gần 32,5% -trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
xây dựng và 49,8%-trong ngành dịch vụ (Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang
chủ biên – Phát triển nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn CNH-HĐH ở Việt
Nam, NXB Nông nghiệp, Hà nội, 2000). Tổng số việc làm được tạo ra ở trên 1,35
triệu đơn vị, cơ sở kinh doanh ngành nghề ở nông thôn là gần 10 triệu bằng
khoảng 29,25% lực lượng lao động nông thôn.
15
15
Quy mô tạo việc làm theo thành phần, 90% việc làm phi nông nghiệp ở
nông thôn được tạo ra ở các hộ ngành nghề, 10% được tạo ra ở các doanh nghiệp
cơ sở ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Nhìn từ góc độ ngành thì các hoạt động
chế biến nông-lâm-thuỷ sản tạo được việc làm cho 17,9% lao động phi nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tạo được 40,7% và dịch vụ, thương mại tạo được
41,34% tổng số việc làm cho lao động phi nông nghiệp nông thôn.
Quy mô sử dụng lao động ổn định trung bình của các cơ sở, đơn vị ngành
nghề từ 4-6, và 2-3 lao động thời vụ; khoảng 90% đơn vị sử dụng dưới 50 lao
động và chỉ có 7% cơ sở sử dụng trên 100 lao động. Tính riêng, bình quân mỗi
doanh nghiệp tạo được 27 việc làm và một hộ thu hút được 4-6 lao động ổn định.
Trong đó, 5 lao động nông nghiệp được thu hút vào một cơ sở công nghiệp và 2
lao động vào hộ ngành nghề.
Nông thôn Việt Nam có đặc trưng phát triển các làng nghề truyền thống do
vậy ngoài việc tạo việc làm ở các hộ ngành nghề, ở các doanh nghiệp, các doanh
nghiệp cơ sở ngành nghề tiểu thủ công nghiệp còn tạo việc làm ở các làng nghề.
Hiện nay các nước có trên 1000 làng nghề, trong đó nhiều làng nghề có lịch sử
hoạt động và phát triển nhiều năm và những làng nghề mới hình thành trong thời
kỳ đổi mới kinh tế. Tiềm năng để phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn
là lớn, với số lượng các đơn vị, cơ sở ngành nghề phi nông nghiệp, các làng nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status