Tạo việc làm cho người lao động ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định - Pdf 22

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu.
Tạo việc làm cho người lao động luôn là một vấn đề hết sức cấp bách,
được các cấp chính quyền quan tâm rất nhiều. Có rất nhiều chương trình hỗ
trợ tạo điều kiện cho người lao động tìm kiếm việc làm, số người có việc làm
ngày một tăng lên tương ứng với nó là tỷ lệ thất nghiệp giảm. Mỗi địa phương
khác nhau có những đặc điểm khác nhau ảnh hưởng đến tạo việc làm cho
người lao động. Do đó, khi nghiên cứu địa phương nào đó cần căn cứ vào tình
hình cụ thể ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động để đưa ra biện
pháp và hiệu quả phù hợp.
Huyện Trực Ninh nói riêng và tỉnh Nam Định nói chung đã và đang đẩy
mạnh chương trình XĐGN và tạo việc làm, chương trình tạo thêm được nhiều
chỗ làm việc mới và giảm đáng kể hộ nghèo. Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn
còn cao, thời gian làm việc ở nông thôn thấp, công tác XĐGN và tạo việc làm
chưa được kiểm soát chặt chẽ.
Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian thực tập ở Phòng Nội vụ Lao
động TBXH, với chuyên ngành theo học là kinh tế lao động em đã chọn đề
tài: “Tạo việc làm cho người lao động ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định”.
Qua đây em cũng xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị về vấn đề tạo việc
làm cho người lao động để nâng cao hiệu quả tạo việc làm ở huyện Trực
Ninh.
Chuyên đề gồm 3 phần:
+ Phần 1: Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động.
+ Phần 2: Phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động ở huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
+ Phần 3: Giải pháp và kiến nghị về tạo việc làm cho người lao động ở
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần 1: Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động.
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã

- Hoạt động đó không được pháp luật cấm (đó là tính pháp lý của việc
làm). Hoạt động có ích không giới hạn về hành vi, ngành nghề và hoàn toàn
phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay
được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc
làm cho người khác trong khuân khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối sử
trong các thành phần kinh tế.
Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ nhau, là điều kiện cần và đủ của
mọi hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu hoạt động đó tạo ra thu nhập
nhưng lại vi phạm pháp luật cũng không được coi là việc làm. Một hoạt động
dù là hợp pháp và có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa
nhận là việc làm - chẳng hạn như nội trợ của phụ nữ cho chính gia đình mình.
Tuy nhiên, khái niệm trên còn có những hạn chế:
- Tính hợp pháp của hoạt động được thừa nhận là việc làm tùy thuộc vào
luật pháp và thể chế của mỗi quốc gia và cũng có thể thay đổi theo từng thời
kỳ. Có hoạt động được thừa nhận là việc làm ở nước này nhưng lại không
được thừa nhận là việc làm ở nước khác (Mại dâm của phụ nữ được thừa nhận
là việc làm ở Thái Lan, Philippines. Nhưng nghề này không được thừa nhận ở
Việt Nam).
- Không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình, cho xã hội
đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì
thuê người làm công (công việc nội trợ).
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng đưa ra khái niệm: Việc làm là
những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
b) Phân loại việc làm.
Theo khái niệm việc làm của Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam, việc làm thể hiện dưới các dạng:
- Công việc mà người lao động nhận được tiền lương, tiền công bằng

của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần,
trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người
có tổng số giờ làm việc bằng số giờ theo quy định trong tuần, tháng, năm
nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập.
2. Nội dung tạo việc làm cho người lao động.
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để
tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng
hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường.
Hay tạo việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra số lượng, chất
lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện
kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu của dân số. Chất lượng
lao động phụ thuộc vào kết quả đào tạo, phát triển của giáo dục, y tế. Ngoài ra
vấn đề môi trường cho sự kết hợp các yếu tố này hết sức quan trọng. Nó bao
gồm các chính sách, điều kiện khuyến khích người lao động trong công việc.
Thực tế thị trường lao động chỉ có thể được thi hành khi người lao động với
người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao
động. Do vậy vấn đề tạo việc làm cho người lao động phải được nhìn nhận ở
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời không thể thiếu vai
trò của Nhà nước. Đó chính là cơ chế ba bên của tạo việc làm, cơ chế này đòi
hỏi sự tham gia tích cực của người lao động, Nhà nước và người sử dụng lao
động.
Về phía người lao động, muốn tìm được việc làm phù hợp có thu nhập
đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động
của mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội )
để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nhất định – điều kiện cần
thiết cho người lao động tham gia vào thị trường lao động.
Về phía Nhà nước, tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính

mở rộng sản xuất phát triển kinh tế phải dựa vào các tiền đề vật chất. Do đó
tiền đề vật chất là nhân tố tiên quyết trước hết ảnh hưởng đến tạo việc làm.
Điều kiện tự nhiên của một vùng là có sẵn ngoài ý muốn chủ quan của
con người. Chẳng hạn độ màu mỡ tự nhiên của đất đai, diện tích canh tác bình
quân. Điều kiện khí hậu, thủy văn thuận lợi hay bất lợi cho phát triển các loại
cây trồng, vật nuôi. Trữ lượng hầm mỏ, tài nguyên rừng… Trước hết đất đai
là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Thực tế nó tham gia
vào mọi quá trình sản xuất nhưng còn tùy thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai
trò củ đất là khác nhau.
Trong nông nghiệp, đất đai không chỉ tham gia là yếu tố thông thường
mà là yếu tố tích cực không thể thay thế được .
Tuy nhiên mỗi vùng, mỗi địa phương lại có giới hạn khác nhau về diện
tích đất, địa hình, trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng vùng đó. Hiện
nay với diện tích đất có hạn, dân số đông, diện tích đất bình quân trên đầu
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người thấp nhất thì vấn đề sử dụng ruộng đất đạt hiệu quả cao là rất khó khăn.
Vì vậy, khai thác chiều sâu của ruộng đất để mỗi đơn vị ruộng đất ngày càng
cho ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu về nông lâm thủy sản cho con người.
Nếu đất được sử dụng đúng mục đính hợp lý thì chất lượng của đất ngày càng
tốt hơn. Do đó để tạo nhiều việc làm cho người lao động, nhất là lao động
nông thôn thì vấn đề chú trọng công tác vừa chăm sóc đất, vừa kết hợp trồng
lúa, hoa màu sen kẽ là hết sức cần thiết, tránh tình trạng nông nhàn cho người
nông dân.
Trong công nhiệp, đất đai thường được sử dụng trong xây dựng nhà
máy, công ty, xí nghiệp. Do đó đất cũng trở thành tư liệu sản xuất hàng đầu.
Tuy vậy vấn đề đầu tư cho công nghiệp đang hết sức được chú trọng, phần
lớn lao động được thu hút vào làm việc trong lĩnh vực này. Cơ cấu lao động
đang có xu hướng chuyển mạnh sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nên các
cấp các ngành đều tạo điều kiện cho sự phát triển, xây dựng quy mô các

hưởng quyết định đến tạo việc làm cho người lao động là sức lao động trên cả
hai phương diện là số lượng và chất lượng. Nhân tố này bao gồm những đòi
hỏi mà người lao động cần có để đáp ứng được những yêu cầu của người sử
dụng lao động.
Trước hết cần hiếu sức lao động là khả năng trí lực, thế lực của con
người. Đó là tri thức, sức khỏe, kỹ năng, kinh nghiệm của người lao động.
Trong bối cảnh của một nước đang phát triển như Việt Nam, cung về
số lượng lao động không phải là vấn đề đáng bàn vì đang dư cung, quan trọng
hơn là vấn đề về sức lao động. Vì thế, người lao động muốn kiếm được việc
làm có thu nhập cao, phù hợp với năng lực, trình độ, cần phải có các thông tin
về thị trường lao động, tức là cần đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và
trí lực. Do đó, thông tin thị trường lao động giúp cho người lao động lựa chọn
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được ngành nghề mà thị trường lao động đang cần và sẽ cần trong tương lai
để thực hiện đầu tư vào vốn con người có hiệu quả. Mỗi người lao động cũng
cần phụ thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mình, tranh thủ các
nguồn tài trợ để tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm
nâng cao nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm. Đó cũng chính là điều kiện
cần thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập và nâng cao vị
thế của bản thân mỗi người lao động.
c) Cơ chế, chính sách kinh tế xã hội ảnh hưởng đến tạo việc làm.
Cơ chế chính sách của chính phủ, chính quyền địa phương, các quy định
của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố rất quan trọng tạo việc làm cho người
lao động. Đó chính là môi trường kinh tế và môi trường xã hội ảnh hưởng đến
tạo việc làm cho người lao động.
Môi trường kinh tế thể hiện sự hoạt động của thị trường hàng hóa đang
diễn ra trong khu vực, giá trị kinh tế của vùng, sự hoạt động của các ngành
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá
những yếu tố này để tìm ra xu hướng, tiềm năng phát triển kinh tế của vùng

là điều kiện đủ tạo điều kiện thuận lợi cho vấn đề tạo việc làm.
4. Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động.
Tạo việc làm cho người lao động được coi là vấn đề búc xúc trong mọi
thời đại. Bởi nếu người lao động bị thất nghiệp, thiếu việc làm thì đó là biểu
hiện của việc không sử dụng và khai thác hết nguồn lực con người vốn có
trong xã hội, là sự lãng phí nguồn lực của xã hội và mất đi một phần thu nhập
của người dân. Với xã hội, thất nghiệp làm giảm thu nhập và mất khoản chi
phí trợ cấp thất nghiệp, đời sống kinh tế xã hội giảm. Với người thất nghiệp
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
họ phải làm bất cứ việc gì miễn là kiếm được tiền trang trải cuộc sống thậm
chí vi phạm pháp luật. Nhất là ở khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp ngày
càng cao dẫn đến tệ nạn xã hội ngày càng nhiều. Còn đối với những người
đang có việc làm họ sẽ bị sức ép về kinh tế, làm việc ở mức tiền công thấp,
ngày làm việc kéo dài nhưng lại luôn bị đe dọa mất việc làm. Thất nghiệp còn
dẫn đến thiệt hại cho nền kinh tế, đem lại khó khăn cho gia đình và xã hội. Từ
những khó khăn về kinh tế gây tác động và ảnh hưởng đến lĩnh vực xã hội
dấn tới hiện tượng tiêu cực xã hội. Do đó, tạo việc làm có ý nghĩa vô cùng to
lớn đối với sự phát triển của một nền kinh tế và đối với xã hội. Tạo việc làm
cho người lao động chính là khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con
người, giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất, là yêu cầu của sự phát triển
nền kinh tế.
Ngày nay, tạo việc làm có ý nghĩa sống còn đối với một nền kinh tế, là
biện pháp hữu hiệu nhất để đẩy lùi nạn thất nghiệp bởi thất nghiệp gắn chặt
với nghèo đói và tệ nạn xã hội.
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ghi nhận: Tạo việc
làm cho người lao động đáp ứng quyền lợi của người lao động – quyền có việc
làm và nghĩa vụ phải làm việc của người trong tuổi lao động, có khả năng lao
động.
Tạo việc làm cho người lao động cũng là công cụ quan trọng của Đảng,

Phần 2: Phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động ở
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Quê hương Trực Ninh nổi tiếng về những ngày hội truyền thống tưng
bừng ở các ngôi chùa cổ, với những làng nghề truyền thống có thời gian đã
từng là bí truyền đến nỗi quy định con trai – con gái trong làng không được
kết hôn với người làng khác để gìn giữ công nghệ và bí quyết nghề làng mình,
hay những mùa lúa tám đặc sản thơm lừng. Con người Trực Ninh hiền lành,
cần cù chịu khó và hiếu khách, họ luôn biết tìm tòi và vượt lên trên những
gian khổ khó khăn. Trực Ninh còn được thiên nhiên ưu đãi cho những vùng
đất trù phú, khí hậu ôn hòa đồng thời cũng thuận tiện trong giao thông cả
đường bộ và đường thủy. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa – Trực Ninh có nhiều
ưu thế cả về thiên nhiên, con người và xã hội.
I. Những đặc điểm cơ bản ảnh hưởng đến việc làm ở huyện Trực Ninh,
tỉnh Nam Định.
1. Đặc điểm tự nhiên.
Huyện gồm 21 xã, thị trấn (19 xã, 2 thị trấn), với tổng diện tích là 143,5
km2; nằm ở cửa ngõ phía nam của tỉnh Nam Định, nằm trên quốc lộ 21, đi
qua quốc lộ 10 nối liền với thủ đô Hà Nội – trung tâm của cả nước bởi quốc lộ
1A. Phía nam giáp huyện Hải Hậu, phía tây giáp huyện Nam Trực, phía đông
giáp Thái Bình. Đây là vị trí thuận lợi cho giao thông liên lạc và giao lưu phát
triển kinh tế của huyện. Một mặt tiếp giáp với vùng biển Quất Lâm (Giao
Thủy, Hải Hậu) là điều kiện cho huyện đẩy mạnh phát triển kinh tế biển. Nằm
trong khu vực Đông Bắc Bộ, khí hậu phân thành 4 mùa rõ rệt thuận tiện rất
nhiều trong sản xuất kinh doanh; Gần các con sông lớn như sông Hồng, sông
Ninh Cơ thuận lợi cho tưới tiêu, đất đai màu mỡ thích hợp phát triển cây trồng
vật nuôi. Gần đây các chuyên gia địa chất trong và ngoài nước đang lấy mẫu
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và tiến hành phân tích trữ lượng dầu mỏ trong lòng đất. Vì vậy, rất có thể
công nghiệp Trực Ninh sẽ có thêm ngành mới là ngành công nghiệp khai thác

Là một huyện có trên 70% lao động làm việc trong ngành nông nghiệp,
thậm chí trong 21 xã, thị trấn có những xã chỉ là thuần nông. Nhưng bên cạnh
đó, Trực Ninh còn có một số ngành thuộc các lĩnh vực công nghiệp – dịch vụ
cũng khá phát triển góp phần tạo việc làm và tăng GDP hàng năm cho cả
huyện.
Bảng 1: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế ( theo giá hiện hành).
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng GTSX (Triệu đồng)
Trong đó:
+ Nông – lâm – thủy sản (trđ)
% so với tổng GTSX (%)
+ Công nghiệp – xây dựng (trđ)
% so với tổng GTSX (%)
+ Dịch vụ (trđ)
% so với tổng GTSX (%)
933.654
434.473
46,53
187.757
20,11
311.424
33,36
1.067.557
431.981
40,46
271.212
25,41
364.364
34,13
1.305.737

công nghiệp – xây dựng: 736.100 triệu đồng; dịch vụ: 460.098 triệu đồng.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên tốc độ tăng của các ngành là khác nhau, công nghiệp – xây dựng có
tốc tăng nhanh nhất. Vì thế ngành công nghiệp – xât dựng mới chỉ chiếm
20,11% tổng GTSX năm 2002 nhưng đến năm 2006 thì con số này đã lên đến
40,78%, điều này làm cho GTSX công nghiệp – xây dựng vượt ngành nông
nghiệp và đứng đầu về GTSX. Ngành nông nghiệp giảm về tỷ trọng trong
tổng GTSX nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng đóng góp phần lớn vào tổng
GTSX. Ngành dịch vụ GTSX cũng đã tăng, tuy nhiên tốc dộ tăng của ngành
này còn chậm nên vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng GTSX của huyện, thâm chí
còn giảm (năm 2002 là 33,36%, năm 2006 là 25,49%). Công nghiệp và dịch
vụ tăng lên là một điều đáng mừng và đây là những ngành có tiềm năng về
thu hút lao động và phát triển kinh tế. Theo con số thống kê thì trong năm
2005 GTSX của một số ngành được tổng hợp cụ thể như sau:
+ Lương thực, thực phẩm đạt 13.600 triệu đồng.
+ Công nghiệp dệt: 43.600 triệu đồng.
+ Chế biến gỗ - tre nứa: 11.000 triệu đồng.
+ Vật liệu xây dựng: 32.400 triệu đồng.
+ Sản xuất sản phẩm kim loại: 2.800 triệu đồng.
+ Bàn ghế - giường tủ: 19.000 triệu đồng.
+ Ươm tơ: 130 tấn.
+ Thêu ren: 15.000 m2.
+ Mây tre đan xuất khẩu: 500 triệu đồng.
Những con số trên phần nào nói lên khả năng phát triển kinh tế của
huyện. Số lượng sản phẩm làm ra rất đa dạng, liên tục tăng, năm sau cao hơn
năm trước, tỷ lệ hàng bán và doanh thu cũng vì thế mà tăng lên. Do đó, riêng
năm 2005 tổng thu từ ngân sách huyện đạt 97.209 triệu đồng, tăng 112.3%.
Tính bình quân tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện 5 năm gần đây đạt
17

nghề như: Ươm tơ, dệt may, mây tre đan, trạm khắc gỗ, thêu ren… nằm rải
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rác ở khắp các xã, thị trấn. Những nghề này chủ yếu thu hút lực lượng lao
động tự do, những lúc nông nhàn họ tham gia sản xuất để tăng thêm thu nhập
đảm bảo cuộc sống. Nhưng cũng có một số làng nghề nổi tiếng như: Ươm tơ
ở làng Cổ Chất – xã Phương Định; trạm khắc gỗ ở Trung Lao – xã Trung
Đông… toàn bộ lao động tự do trong khu vực này tham gia làm nghề truyền
thống, họ không làm nông nghiệp hoặc nếu có làm thì đến ngày thu hoạch họ
thêu lao động khu vực khác, công việc chính của họ là làm nghề thủ công
truyền thống. Còn lại, ở những khu vực khác lao động tự do làm thêm các
ngành nghề này quanh năm nhưng đến mùa vụ nông nghiệp họ lại nghỉ vài
ngày và khi xong họ lại trở lại làm những công việc kia. Chính vì luân phiên
có công việc làm như vậy cho nên tính bình quân toàn huyện tỷ lệ sử dụng
thời gian lao động nông thôn đạt tới 81% (theo số liệu thống kê năm 2006).
Và theo số liệu của phòng Nội vụ LĐTBXH những ngành nghề này thu hút
khoảng 34% dân số cả huyện. Có một ưu điểm ở đây là: Những ngành nghề
này nhẹ nhàng, dễ làm nên thu hút được nhiều tầng lớp lao động tham gia (cả
người già, trẻ em – những người ngoài độ tuổi lao động). Ngoài ra, trong
huyện còn có một số ngành như trồng cây cảnh, vật nuôi cảnh… sản phẩm
làm ra được nhiều nơi ưa chuộng do hiện nay trồng cây cảnh, nuôi vật cảnh là
một thú chơi rất phổ biến. Đây chính là lợi thế để phát triển và mở rộng
ngành. Kể đến nữa là những người bán hàng sáo, bán lẻ, sửa chữa xe máy, xe
đạp, đồ điện tử… Người lao động làm công việc này nằm rải rác ở khắp mọi
khu vực trong huyện, đặc biệt những nơi gần chợ tiện đường giao thông, gần
trung tâm kinh tế - văn hóa của huyện.
Về văn hóa, giáo dục, y tế: Trực Ninh nổi tiếng với ngôi chùa Cổ Lễ
được công nhận là di tích lịch sử và đưa vào sử dụng như một khu du lịch
sinh thái. Ở các xã cũng có những đền, chùa, nhà thờ hàng năm tổ chức các lễ
hội dân gian rất phong phú, đa dạng đem lại những nhu cầu về tinh thần

1. Quy mô và tỷ lệ lao động có việc làm qua các năm ở huyện Trực
Ninh, tỉnh Nam Định.
Là một huyện đông dân, với mật độ dân số thuộc hàng cao, huyện Trực
Ninh có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạt 54,4%, hàng năm huyện có
khoảng 1000 người bước vào độ tuổi lao động. Tuy nhiên, số lao động có việc
làm chiếm tỷ lệ chưa cao so với tổng số lao động trên địa bàn huyện.
Bảng 3: Quy mô và tỷ lệ lao động có việc làm qua các năm của
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Chỉ tiêu Đơn vị 2002 2003 2004 2005 2006
1. Tổng số lao động (1).
+ Số lao động có việc làm.
+ % so với (1).
2. Số lao động được giải
quyết việc làm mới.
Người
Người
%
Người
113.743
99.662
87,62
2.950
114.573
100.236
87,49
3250
115.047
100.844
87,65
3750

duy trì lâu dài.
Số lao động có việc làm chiếm tỷ lệ chưa cao so với tổng số lao động
(khoảng 88%) và tỷ lệ này thay đổi không đáng kể, thậm chí là không đổi qua
các năm 2004 đến 2006 là 87,65%. Do số lao động có việc làm tăng chậm và
tăng tương ứng với tổng số lao động nên dẫn đến số tương đối gần như không
đổi.
Số chỗ việc làm mới tăng dần qua các năm, tăng nhiều nhất là năm 2003-
2004 (chênh lệch 500 chỗ việc làm) do bắt đầu từ năm 2004 huyện tập trung
phát huy triệt để các dự án giải quyết việc làm cho người lao động. Đó là dự
án cho vay vốn đối với các tổ chức sản xuất kinh doanh và hộ gia đình để phát
triển sản xuất kinh doanh và chương trình xóa đói giảm nghèo với việc hỗ trợ
về vốn, tư liệu sản xuất. Năm 2004, Ngân hàng chính sách xã hội huyện Trực
Ninh đã giải ngân cho vay vốn xóa đói giảm nghèo được trên 8 tỷ đồng với
trên 3000 lượt hộ nghèo tạo thêm được hàng nghìn chỗ việc làm mới. Ngoài
ra huyện thực hiện dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn và khuyến
nông.
2. Cơ cấu và phân bố việc làm qua các năm của huyện Trực Ninh, tỉnh
Nam Định.
a) Việc làm qua các năm phân theo thành phần kinh tế của huyện Trực
Ninh, tỉnh Nam Định.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trực Ninh là một huyện mà lao động chủ yếu trong ngành nông nghiệp,
chủ yếu lao động làm việc trong khu vực ngoài nhà nước. Những năm gần
đây do huyện chú trọng phát triển nông nghiệp thông qua chuyển đổi cơ cấu
cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại dịch vụ phát triển đa dạng nhiều thành phần – từ đó giá trị
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ ngày càng
được nâng cao. Mà chủ yếu những ngành này thuộc thành phần kinh tế khu
vực ngoài nhà nước nên lao động thuộc thành phần kinh tế này tăng lên đáng

97.098
96,3
101.125
3.706
3,7
97.419
96,3
101.486
3.714
3,7
97.772
96,3
(Nguồn: Phòng Nội vụ LĐTBXH-Báo cáo kết quả giải quyết việc làm của
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định giai đoạn 2002-2006)
Số liệu cho thấy về quy mô hầu hết số lao động làm việc trong các thành
phần kinh tế đều tăng. Tuy nhiên, xét về tỷ lệ thì sự tăng giảm này là khác
nhau. Cụ thể, số lao động làm việc trong thành phần kinh tế khu vực trong
nhà nước năm 2002 là 3.299 người (3,3% so với tổng số lao động có việc
làm), từ các năm 2003 đến 2006 số lao động làm việc trong khu vực này tăng
lên nhưng không đáng kể (giữ ở mức khá ổn định khoảng 3.700 người – tỷ lệ
không đổi ở mức 3,7%). Nguyên nhân là do cơ hội việc làm không nhiều
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt là khi quy định mới cho độ tuổi hưu
của người lao động.
Đối với thành phần kinh tế ngoài nhà nước, hàng năm số lao động làm
việc trong khu vực này không ngừng tăng lên. Cụ thể năm 2002 số lao động
làm việc trong khu vực này là 96.363 người đến năm 2006 là 97.772 người.
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực này so với tổng số lao động
có việc làm cũng ổn định và không đổi trong bốn năm từ 2003 đến 2006 là

1. Nông – lâm – thủy sản.
+ % so với (1)
2.Công nghiệp – xây dựng.
+ % so với (1)
3. Dịch vụ .
+ % so với (1)
Người
Người
%
Người
%
Người
%
99.662
74.851
75,1
15.757
15,8
9.054
9,1
100.236
74.352
74,2
16.085
16,0
9.799
9,8
100.844
68.808
68,2

Ngành đứng thứ hai thu hút nhiều lao động đó là ngành công nghiệp –
xây dựng. Số lao động làm việc trong ngành công nghiệp tăng qua các năm.
Cụ thể năm 2002 là 15.757 người đến năm 2006 là 21.687 người. Tuy nhiên,
tốc độ tăng này còn thấp nên số lao động làm việc trong ngành này cũng mới
25

Trích đoạn Giải pháp tạo việc làm cho người lao động ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status