LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong
khoa Kinh tế lao động & dân số trường Đại học kinh tế
quốc dân; các cán bộ, nhân viên trong Phòng Nội vụ –
Lao động Thương binh và xã hội huyện Mỹ Hào tỉnh
Hưng Yên; đặc biệt em xin cám ơn sự chỉ bảo tận tình
của Tiến sỹ: Vũ Hoàng Ngân đã giúp em hoàn thiện báo
cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cám ơn !
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình dân số huyện Mỹ Hào giai đoạn
2001-2005............................................................................26
Bảng 2.2: Tình hình lao động của huyện Mỹ Hào giai
đoạn 2001-2005..................................................................30
Bảng 2.3: Trình độ văn hoá của người lao động ở huyện
Mỹ Hào giai đoạn 2001-2005................................31
Bảng 2.4: Trình độ chuyên môn của người lao động ở
huyện Mỹ Hào giai đoạn 2001-2005....................32
Bảng 2.5: Lao động phân theo khu vực nông thôn, xã, thị
trấn ở huyện Mỹ Hào từ năm 2002 đến năm 2005
.................................................................................33
Bảng 2.6: Lao động phân theo ngành nghề ở huyện Mỹ
Hào từ năm 2002 đến năm 2005..........................34
Bảng 2.7: Lao động theo giới tính ở huyện Mỹ Hào năm
2005.....................................................................................36
Bảng 2.8: Số lao động dư thừa ở huyện Mỹ Hào qua các
năm......................................................................................38
Bảng 2.9: Kết quả giải quyết việc làm ở huyện Mỹ Hào giai
như vậy vì huyện Mỹ Hào còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, cơ
sở hạ tầng còn yếu kém. Vì vậy trong thời gian tới Huyện uỷ – UBND huyện
đưa vấn đề tạo việc làm cho người lao động lên hàng đầu.
Nhận thấy được vai trò của việc tạo việc làm cho người lao động, trong
thời gian thực tập tại phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và xã hội huyện
Mỹ Hào, bằng phương pháp nghiên cứu các tài liệu sẵn có, đi tìm hiểu thực tế
em xin chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp tạo việc làm cho người lao
động ở huyện Mỹ Hào – tỉnh Hưng Yên” làm đề tài cho báo cáo chuyên đề
thực tập tốt nghiệp của mình. Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề thực tập
này là vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng
Yên trong giai đoạn 2001 – 2005. Bằng cách phân tích thực trạng tạo việc làm
cho người lao động ở huyện Mỹ Hào trong khoảng thời gian trên, mục đích
nghiên cứu này là tìm hiểu được những tồn tại và nguyên nhân của những tồn
tại đó, từ đó xin đề xuất ra một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động ở
huyện Mỹ Hào.
Chuyên đề thực tập của em gồm có ba phần :
Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG
Chương 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG Ở HUYỆN MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO
ĐỘNG Ở HUYỆN MỸ HÀO – HƯNG YÊN
5
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Lao động
Theo Mác: “Lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và
giới tự nhiên, là quá trình trong đó bằng hoạt động của mình con người làm
trung gian và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.
được quy định nam từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi, nữ từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi.
Việc xác định độ tuổi lao động giữa các quốc gia là không thống nhất. Tuỳ
vào điều kiện của từng nước mà người ta có thể quy định giới hạn trong độ
tuổi lao động cho hợp lý.
1.1.3. Việc làm
Việc làm là một khái niệm phức tạp, nó gắn với hoạt động thực tiễn của
con người, vì vậy để hiểu rõ được khái niệm về việc làm thì chúng ta phải
hiểu rõ khái niệm người có việc làm.
7
Tại Hội nghị lần thứ 13 năm 1983 tổ chức lao động thế giới (ILO) đưa
ra quan niệm : “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có
được trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những
người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vị lợi ích
hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”.
Người có việc làm là những người lao động ở tất cả các khu vực (công và tư)
có thu nhập đem lại nguồn sống cho bản thân và gia đình, xã hội.Tại nhiều
nước trên thế giới sử dụng khái niệm này.
Khi điều tra thống kê về lao động và việc làm, khái niệm trên được cụ
thể hoá bằng các tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc vào mỗi nước trên thế giới
đặt ra. Trong đó có thể chia ra thành hai nhóm :
Nhóm thứ nhất : Là nhóm có việc làm và đang làm việc, đó là những
người đang làm bất cứ công việc gì được trả công hoặc làm việc trong các
trang trại hay cơ sở sản xuất kinh doanh của gia đình.
Nhóm thứ hai : Là những người có việc làm nhưng hiện không làm
việc, đó là những người có việc làm nhưng hiện tại đang nghỉ ốm hoặc các lý
do cá nhân khác.
Những người không thuộc hai nhóm trên được gọi là những người
không có việc làm.
Theo điều 13 bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật găn cấm
VL C/V
Trong đó : VL : việc làm
C : tư liệu sản xuất
V: lực lượng lao động.
1.1.4.Thất nghiệp
9
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại
khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm
được việc làm ở mức tiền công thịnh hành”.
Như vậy người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu
tìm việc làm và có đăng ký tìm việc theo quy định.
Để xem xét và so sánh tình hình thất nghiệp người ta sử dụng các con
số chủ yếu là tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất
nghiệp với dân số hoạt động dân số.
UR = U/LF
Trong đó : UR: tỷ lệ thất nghiệp
U : Số người thất nghiệp
LF : Dân số hoạt động dân số.
Thất nghiệp là một khái niệm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã
hội, nó mang nghĩa ngược với có việc làm. Nói đến thất nghiệp là nói đến sự
khó khăn cho việc hoạch định chính sách của các quốc gia. Tuy nhiên trên
thực tế tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế. Vì vậy cần phải giữ mức tỷ lệ thất nghiệp sao cho hợp lý với trình độ phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia.
1.1.5. Thiếu việc làm
Thiếu việc làm là việc làm không tạo điều kiện, không đòi hỏi người
lao động sử dụng hết thời gian lao động làm việc theo chế độ và mang lại thu
nhập dưới mức tối thiểu.
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để
tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng
hoá và dịch vụ theo yêu cầu thị trường.
Vấn đề tạo việc làm cho người lao động là một vấn để rất phức tạp
nhưng là rất cần thiết mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương luôn phải quan tâm.
Việc tạo việc làm cho người lao động chịu ảnh hưởng của không những là nền
11
kinh tế xã hội mà còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác. Vì vậy khi
xem xét để đưa ra chính sách tạo việc làm cho người lao động cần phải quan
tâm đến rất nhiều nhân tố khác.
Thực chất của tạo việc làm cho người lao động là tạo ra trạng thái phù
hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và cả số
lượng. Chất lượng, số lượng của tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư,
những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất cũng như việc sử
dụng và quản lý các tư liệu đó.
Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số. Chất lượng
lao động phụ thuộc vào kết quả đào tạo, phát triển của giáo dục và y tế. Ngoài
ra vấn đề môi trường cho sự kết hợp giữa các yếu tố này là hết sức quan
trọng, nó bao gồm các chính sách, điều kiện khuyến khích người lao động
cũng như người sử dụng lao động trong công việc. Thị trường lao động chỉ có
thể được hình thành khi người lao động với người sử dụng lao động gặp gỡ
trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động, do vậy vấn để tạo việc
làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động
đồng thời không thể không thể kể đến vai trò của Nhà nước.
Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người
lao động, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước. Để
có quan hệ lao động thì giữa người lao động và người sử dụng lao động phải
có những điều kiện nhất định. Đó là người sử dụng lao động cần phải có vốn,
công nghệ, kinh nghiệm và thị trường tiêu thụ. Còn người lao động cần phải
có sức khoẻ, trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp với công việc của
Trước tiên chúng ta nói đến vốn. Vốn có vai trò rất quan trọng, không
thể thiếu được trong quá trình sản xuất. Vốn được biểu hiện bằng tiền của tư
liệu sản xuất và đối tượng lao động được sử dụng vào trong quá trình sản
xuất. Trong công nghiệp vốn có vai trò rất quan trọng, là yếu tố thiết yếu để
ngành phát triển. Vốn trong công nghiệp được sử dụng rất nhiều và là yếu tố
hàng đầu để cho ngành tồn tại, vốn được sử dụng rất nhiều ngay cả khi chưa
13
hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua
sắm thiết bị nguyên vật liệu, máy móc, vốn để dự trữ cho quay vòng. Càng có
nhiều vốn để đầu tư, quy mô sản xuất ngày càng được nâng cao, hiệu quả sản
xuất càng cao và số lao động thu hút làm việc sẽ ngày một nhiều hơn.
Trong sản xuất nông nghiệp thì vốn cũng có vai trò hết sức quan trọng.
Sự tác động của vốn đến hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp không
phải bằng cách trực tiếp mà thông qua cây trồng, vật nuôi, yếu tố kỹ thuật
trong nông nghiệp. Cơ cấu chất lượng của vốn sản xuất phải phù hợp với từng
loại đối tượng sản xuất, từng loại đất đai. Ngoài ra trong sản xuất nông nghiệp
cần phải có một lượng vốn lưu động nhằm tránh tình trạng bị ứ đọng vốn do
thời tiết xấu. Có thể nói vốn là một yếu tố rất quan trọng để phát triển sản
xuất nông nghiệp, khi diện tích đất đai là không đổi thì vốn đóng một vai trò
quan trọng trong việc phát triển chiều sâu. Do đó khi nguồn vốn được sử dụng
trong nông nghiệp tăng thì càng tạo ra được nhiều chỗ làm việc cho người lao
động trong nông thôn, nhất là khi mà lượng thiếu việc làm của người lao động
nông thôn còn tồn tại rất nhiều.
Vốn trong ngành thương mại dịch vụ có vai trò đặc biệt quan trọng. Chỉ
có thể hoạt động sản xuất thương mại dịch vụ khi mà có vốn. Khi mà vốn
tăng thì hoạt động dịch vụ sẽ được mở rộng và do đó sẽ tạo nhiều chỗ làm cho
người lao động trong lĩnh vực này.
Như vậy, trong bất cứ hoạt động nào thì yếu tố vốn cũng đóng vai trò
quan trọng và gián tiếp ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động.
Yếu tố thứ hai nhưng đóng vai trò quan trọng nhất trong tư liệu sản
thời họ cũng chọn chỗ thoáng mát, gần nguồn điện, nguồn nước…Nhưng việc
lựa chọn mà họ quan tâm nhiều nhất là địa điểm đó phải có đông dân cư. Nơi
có đông dân cư thì sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ lớn đồng thời việc tìm
kiếm lao động ở nơi này sẽ dễ dàng hơn.
Ngày nay thì việc lựa chọn địa điểm để hoạt động sản xuất kinh doanh
là rất khó. Mặt khác thì đang có chiều hướng người lao động chuyển dần sang
15
lĩnh vực hoạt động công nghiệp và ngành này đang là ngành tạo nhiều chỗ
làm việc mới cho người lao động. Vì vậy chúng ta cần phải khai thác phát
triển ngành công nghiệp để giải quyết việc làm cho nhiều người lao động đặc
biệt là người lao động ở nông thôn.
Trong hoạt động thương mại dịch vụ, đất đai không đóng vai trò quan
trọng bằng ngành nông nghiệp và dịch vụ nhưng cũng không thể thiếu được.
Như vậy thì trong bất cứ ngành nào thì đất đai cũng là một điều kiện
tiền đề để ngành tồn tại và phát triển. Do đó chúng ta cần phải có một chính
sách sử dụng đất hợp lý.
Ngoài yếu tố vốn và đất đai thì yếu tố về cơ sở hạ tầng cũng đóng vai
trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho người lao động. Các yếu tố đó là
các hệ thống thuỷ lợi, giao thông, kho tàng, thông tin liên lạc, bến bãi…Các
yếu tố này phát triển tốt là tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội và do đó
tạo điều kiện để phát triển các ngành khác và tạo thêm việc làm cho người lao
động. Đồng thời khi phát triển yếu tố cơ sở hạ tầng thì cũng cần một lượng
lao động hoạt động trong lĩnh vực này. Do đó thì phát triển yếu tố này sẽ thúc
đẩy các nền kinh tế phát triển và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Nhưng yếu tố này cũng không phải là yếu tố không thể thay thế được mà nó
có thể mua được bằng vốn.
Yếu tố tư liệu sản xuất là yếu tố hàng đầu tác động đến quá trình tạo
việc làm cho người lao động. Vì vậy các nhà đầu tư nên lựa chọn yếu tố này
một cách kỹ lưỡng để người lao động có điều kiện làm việc thuận lợi nhất và
tạo thêm nhiều chỗ làm cho người lao động.
Ngoài ra môi trường xã hội còn bao gồm các chính sách cho vay vốn
với lãi suất thấp, ra luật đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có
khả năng tự tạo chỗ làm cho bản thân và gia đình đồng thời tạo việc làm cho
người lao động ở lân cận. Các yếu tố như công tác tuyên truyền, giáo dục, đào
tạo cho người dân sẽ nâng cao chất lượng lao động và sẽ tạo điều kiện dễ
dàng cho họ tìm được công việc phù hợp.
17
Việc xây dựng môi trường xã hội không những ở địa phương mà ngay
cả ở nơi làm việc của người lao động cũng phải có một môi trường thuận lợi.
Đó là việc xây dựng văn hoá trong doanh nghiệp để từ đó kích thích tâm lý
người lao động, để nâng cao năng suất lao động. Đồng thời doanh nghiệp
cũng phải đảm bảo các quyền lợi của người lao động để người lao động yên
tâm làm việc.
Môi trường kinh tế cũng tác động đến việc tạo việc làm cho người lao
động. Đó chính là xu hướng phát triển của các ngành công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ. Đồng thời môi trường kinh tế cũng là sự vận động của thị
trường hàng hoá diễn ra trong khu vực. Do đó thì môi trường kinh tế sẽ tác
động đến sự phát triển của các ngành kinh tế nên sẽ ảnh hưởng đến việc tạo
việc làm cho người lao động tại khu vực đó.
Như vậy thì các yếu tố về môi trường đều tác động đến vấn đề tạo việc
làm cho người lao động. Do vậy khi nghiên cứu chính sách tạo việc làm cho
người lao động thì các nhà hoạch định không thể bỏ qua yếu tố môi trường.
1.2.3. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề tạo việc làm cho
người lao động. ở những địa phương có nguồn nhân lực dồi dào thì ở đó nhu
cầu về việc làm lớn và người sử dụng lao động sẽ dễ dàng tìm kiếm lao động
ở những nơi này. Và cũng ở đây đòi hỏi phải có chương trình tạo việc làm cho
người lao động có quy mô lớn hơn và gây áp lực rất nhiều cho các nhà ra
chính sách.
Bản thân người lao động có ảnh hưởng nhiều nhất đến vấn đề tạo việc
tiêu quốc gia về việc làm bao gồm các hoạt động chủ yếu được chia làm ba
nhánh chính : phát triển kinh tế – xã hội tạo mở việc làm; Đẩy mạnh xuất
khẩu lao động và chuyên gia; Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để
19
giải quyết việc làm cho người thất nghiệp, người thiếu việc làm và các đối
tượng yếu thế trong thị trường lao động.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm tạo điều kiện cho người lao
động có nhiều cơ hội được làm việc và luôn hướng về việc phát triển kinh tế
xã hội toàn diện. Vì thế mà hiện nay các địa phương trong cả nước đều dựa
vào những thuận lợi hiện có của mình và thực hiện theo chương trình mục
tiêu quốc gia về việc làm để tạo việc làm cho người lao động.
1.3. Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
Vào bất cứ thời điểm nào và tại bất cứ nơi nào thì việc tạo việc làm cho
người lao động là hết sức cần thiết. Người lao động có việc làm không những
có lợi cho chính bản thân họ và gia đình đồng thời cũng có lợi cho cả địa
phương và quốc gia. Khi một quốc gia có tỷ lệ người thất nghiệp cũng như
người thiếu việc làm cao thì chứng tỏ rằng quốc gia đó chưa khai thác và sử
dụng hết nguồn lực của con người trong xã hội.
Đối với người thất nghiệp thì họ không có việc làm nên không có thu
nhập do đó khiến họ bắt buộc phải đi làm những công việc để kiếm thu nhập
trang trải cuộc sống. Đôi khi vì mục đích kiếm tiền mà người lao động đã làm
những công việc trái pháp luật mà bản chất họ không phải là như vậy. Còn đối
với người thiếu việc làm thì họ luôn bị áp lực về kinh tế bởi có mức tiền công
thấp và có khả năng bị mất việc làm. Hiện nay số người thất nghiệp ở thành
thị còn tồn tại rất nhiều và đây cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra những tệ
nạn xã hội như mại dâm, ma tuý…Đối với xã hội thì thất nghiệp và thiếu việc
làm gây ra sự lãng phí nguồn lực xã hội. Thất nghiệp không những làm giảm
thu nhập của người lao động mà còn làm giảm thu nhập của toàn xã hội và xã
hội phải bỏ chi phí trợ cấp thất nghiệp do đó đời sống xã hội giảm. Thất
nghiệp làm thiệt hại cho nền kinh tế, gây khó khăn cho gia đình và xã hội dẫn
được thành lập gặp nhiều khó khăn nhưng trong những năm qua thì tỉnh Hưng
Yên đã đạt những thành tích đáng kể trong việc phát triển kinh tế, ổn định xã
hội. Một trong những huyện đi đầu trong việc phát triển kinh tế của tỉnh là
huyện Mỹ Hào.
Huyện Mỹ hào là huyện nằm trọn ở châu thổ đồng bằng sông hồng, là
cái nôi của nền văn minh lúa nước. Với vị trí dọc theo quốc lộ 5 (Hà Nội –
Hải Phòng), phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp Hải Dương, phía
nam giáp huyện Mỹ Hào. Toàn huyện có 13 xã, thị trấn với diện tích tự nhiên
là 79,1 km
2
diện tích đất canh tác là 9859 ha với dân số là 84655 người. Do vị
thế nằm ở vị trí trung tâm kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng -
Quảng Ninh) cho nên hiện nay có rất nhiều công ty được thành lập dọc theo
quốc lộ 5 làm cho ngành công nghiệp của huyện phát triển mạnh thu hút
22
nhiều lao động làm việc trong lĩnh vực này. Đồng thời vị trí thuận lợi nên dễ
dàng giao lưu buôn bán với các tỉnh khác.
Ngoài ra huyện còn nằm ở đồng bằng Châu thổ sông Hồng hàng năm
được lượng phù sa bồi đắp cho nên rất thích hợp cho việc sản xuất nông
nghiệp – cũng là một trong những thế mạnh của huyện. Vì có vị trí thuận lợi
như vậy cho nên ngành nông nghiệp của huyện có nhiều loại cây trồng có giá
trị kinh tế cao, thu hút được một lượng lao động lớn không có trình độ chuyên
môn tham gia vào sản xuất, giải quyết được tình trạng thiếu việc làm ở nông
thôn.
Mỹ Hào nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên khí hậu chia làm bốn
mùa rõ rệt, độ ẩm trung bình là 85% với lượng mưa trung bình
1500mm/năm.Với điều kiện khí hậu thuận lợi như vậy đã tạo điều kiện cho
việc phát triển nông nghiệp với những loại cây ngắn ngày có giá ttị kinh tế
cao, đã thu hút một lực lượng lao động lớn vào làm việc, giảm bớt số lao động
nhàn dỗi trong ngành nông nghiệp.
2.1.2.1.Về sản xuất nông nghiệp
Trong năm 2005 huyện đã tập trung cao trong việc chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn. Tổng giá trị xản xuất nông nghiệp đạt 241 tỷ tăng 5% so với năm
2004.
Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 9549 ha giảm 3,5% so với năm
2004, hệ số quay vòng đất 2,2 lần. Diện tích trồng lúa đạt 8623 ha giảm 3,4%
so với năm 2004. Cây vụ đông đạt 480 ha đạt 73,8% so với kế hoạch. Công
tác chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục được quan tâm, các mô
hình chuyển đổi diện tích từ lúa kém hiệu quả sang đào ao nuôi trồng thuỷ sản
kết hợp với chăn nuôi, trồng cây có giá trị kinh tế cao đi vào hoạt động ổn
định và có bước phát triển tốt. Đến nay toàn huyện có 136 mô hình kinh tế
trang trại trong đó có 24 mô hình đạt tiêu chí theo quy định tại Quyết định số
46/2005/QĐ - UB của UBND tỉnh Hưng Yên. Đàn lợn tiếp tục tăng, tổng số
24
đàn lợn 47.210 con tăng 6,8% so với năm 2004 (đàn lợn nạc 30.660 con
chiếm 65% so với tổng số đàn lợn); đàn bò, bê 1.639 con bằng 132,8%so với
năm 2004 (trong đó bò lai Sind, bò sữa là 1.310 con chiếm 80% tổng đàn bò);
đàn gia cầm 517.000 con bằng 101,9%so với năm 2004. Diện tích nuôi trồng
thuỷ sản được duy trì và ổn định, sản lượng cá thịt đạt 900 tấn bằng 138,4%
năm 2004, sản lượng cá giống đạt 25 triệu con.
Như vậy thì nền sản xuất nông nghiệp của huyện Mỹ Hào tuy diện tích
gieo trồng có giảm 3,5% nhưng tổng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng
5%. Sở dĩ có sự tăng này là do chăn nuôi trong huyện phát triển và thay đổi
cơ cấu chăn nuôi, mặt khác ngành trồng trọt đã đi sâu vào việc khai thác chiều
sâu của đất đai, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Mặc dù như
vậy thì diện tích đất trồng trọt giảm khiến người lao động trong nông nghiệp
đã thiếu việc làm lại càng thiếu hơn. UBND huyện đã khuyến khích cho
người lao động vay vốn để mở trang trại để tạo việc làm cho bản thân và gia
đình nhưng lượng lao động nhàn dỗi trong khu vực này vẫn còn rất nhiêu.