Lời nói đầu
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng là một điều kiện tất yếu để
phát triển nền kinh tế của một quốc gia. ở Việt Nam, sau gần 20 năm đổi
mới, sự phát triển kinh tế thị trờng đã tạo thúc đẩy các chủ thể kinh tế phát
huy khả năng, sức sáng tạo và tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Trong lĩnh
vực dịch vụ tài chính, kinh tế thị trờng đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm
phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự lớn mạnh chung của toàn ngành bảo hiểm,
bảo hiểm xây dựng lắp đặt phát triển không ngừng và ngày càng tỏ rõ vai trò
quan trọng đối với tiến trình mở cửa hội nhập ngày nay.
Tuy nhiên, bảo hiểm xây dựng lắp đặt không thể phát huy đợc vai trò của
mình nếu tách rời tái bảo hiểm. Nhận thức đợc mối quan hệ này, ngày
27/9/1994 Thủ tớng chính phủ đã ký quyết định 100/CP thành lập Công ty tái
bảo hiểm quốc gia Việt Nam, ngày nay đổi tên là Tổng công ty cổ phần tái
bảo hiểm quốc gia Việt Nam (tên giao dịch là Vinare) với t cách là bà đỡ
cho thị trờng bảo hiểm trong nớc. Qua 10 năm thực hiện nghiệp vụ xây dựng
lắp đặt, Vinare đã đạt đợc những thành tựu to lớn song vẫn còn tồn tại rất
nhiều khó khăn cần khắc phục.
Trong thời gian thực tập tại Vinare, dới sự hớng dẫn của các cán bộ Phòng
Tái Bảo Hiểm Xây dựng Lắp đặt kết hợp với những kiến thức đã học, em xin
chọn đề tài:
Tình hình thực hiện tái bảo hiểm xây dựng lắp đặt tại Tổng công ty cổ
phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam.
Em xin cảm ơn cô giáo, thạc sỹ Nguyễn Thị Chính và các cán bộ nghiệp
vụ Phòng Tái Bảo Hiểm Xây dựng Lắp đặt đã giúp em hoàn thành đề tài này.
1
Chơng I
Khái quát chung về bảo hiểm xây dựng lắp đặt và
tái bảo hiểm xây dựng lắp đặt
I. khái quát về bảo hiểm xây dựng lắp đặt.
1. Sự cần thiết của bảo hiểm Xây dựng Lắp đặt.
họ bảo toàn đợc vốn kinh doanh, hạn chế đợc ngắn nhất thời gian gián đoạn
kinh doanh có thể xảy ra do gặp rủi ro.
Mặt khác, các công trình xây dựng lắp đặt thờng có giá trị rất lớn. Ví
dụ, một số công trình có giá trị lớn ở Việt Nam nh: nhà máy nhiệt điện Hải
Phòng: 628 triệu USD; Nhà máy điện Đại Ninh: 500 triệu USD; Cầu Thanh
Trì: 400 triệu USD; Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn: 105 triệu USD; Nhà máy
xi măng Tam Điệp: 100 triệu USD
Đứng trớc các công trình có giá trị đầu t lớn nh vậy, nguy cơ rủi ro dẫn
đến phá sản, mất vốn kinh doanh là điều khó tránh khỏi. Do vậy, tham gia
bảo hiểm hay nói cách khác là chuyển rủi ro cho nhà bảo hiểm là một giải
pháp hữu hiệu cho các nhà thầu hay chủ đầu t.
Bên cạnh đó, có thể thấy một trong những tác dụng hữu hiệu của bảo
hiểm xây dựng lắp đặt cũng nh bảo hiểm nói chung đó là góp phần đề phòng
hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, giúp cuộc sống con ngời an toàn hơn, xã hội
trật tự hơn, giảm nỗi lo cho những ngời có liên quan. Điều này có thể thấy
một cách khá rõ ràng qua việc nhà bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng
hạn chế rủi ro đối với các công trình xây dựng, cũng nh tuyên truyền sâu
rộng các kiến thức cần thiết về các loại rủi ro, các nguy cơ và hậu quả của
chúng.
Một điều cần đề cập nữa là bảo hiểm xây dựng lắp đặt mang lại một
nguồn đầu t đáng kể cho nền kinh tế.
Với nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi không nhỏ, các công ty bảo hiểm có
thể cho vay, mua trái phiếu, kinh doanh bất động sản, tham gia vào thị trờng
chứng khoán, hoạt động kinh tế nhờ vậy mà sôi động hơn, hiệu quả hơn.
Cuối cùng, cần nói thêm một đóng góp đáng kể của bảo hiểm xây dựng
lắp đặt- tất nhiên điều này cũng quyết định sự cần thiết phải triển khai loại
hình bảo hiểm này trong mỗi nớc. Đó là giúp Nhà nớc trong việc khắc phục
những khoản chi tơng đối lớn trong việc khắc phục hậu quả tổn thất khi đã có
hệ thống bảo hiểm, tránh những biến động chi tiêu ảnh hởng đến kế hoạch
của ngân sách Nhà nớc. Đồng thời, hoạt động bảo hiểm này còn góp phần
bảo hiểm cho các công trình xây dựng khổng lồ nh bến cảng, sân bay, các
con tàu vũ trụ Nh vậy, có thể nói rằng bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là
những mắt xích không thể thiếu đợc trong bảo hiểm kỹ thuật. Đơn bảo hiểm
mọi rủi ro lắp đặt( EAR- Erection All Risks Insurance Policy) đầu tiên đợc
cấp tại Đức vào năm 1924 với sự hỗ trợ về tái bảo hiểm của công ty tái bảo
hiểm Munich Re. Một vài năm sau đó, dựa trên cơ sở những điều kiện bảo
hiểm của đơn bảo hiểm lắp đặt sản phẩm, bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ
thầu( CAR- Contractors All Risks Insurance Policy) cũng ra đời tại Anh vào
năm 1929. Đơn bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu đầu tiên bảo hiểm cho việc
xây dựng cầu Lamberth bắc qua sông Thames ở Luân Đôn.
2. Đặc điểm của bảo hiểm xây dựng lắp đặt.
Xét về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, bảo hiểm xây dựng lắp đặt là những
loại hình bảo hiểm tơng đối phức tạp so với các loại hình bảo hiểm khác, các
4
loại đơn bảo hiểm rất đa dạng, nh bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, bảo hiểm
mọi rủi ro lắp đặt, Có thể liệt kê một số nét đặc thù chủ yếu của bảo hiểm
xây dựng lắp đặt nh dới đây:
- Đây là loại hình bảo hiểm có nhiều rủi ro mang tính kỹ thuật nh rủi ro
liên quan đến thiết kế, cơ chế vận hành của máy móc, nguyên vật liệu kém,
máy móc cũ Vì vậy đòi hỏi đội ngũ cán bộ tái bảo hiểm phải có những kiến
thức kỹ thuật nhất định.
- Thời hạn bảo hiểm thờng dài, tuỳ theo giá trị và tính chất của công
trình.
- Giá trị bảo hiểm rất lớn có xu hớng ngày càng tăng do sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật và sự khan hiếm nguyên vật liệu, vì vậy nếu tổn thất xảy ra
trách nhiệm bồi thờng là rất lớn.
- Rủi ro mang tính chất tích luỹ vì càng gần giai đoạn cuối của thời hạn
bảo hiểm giá trị bảo hiểm trên công trình càng lớn.
- Các rủi ro đợc bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng lắp đặt khác nhau
đáng kể về quy mô. Sự phân tán rủi ro thấp vì số lợng tơng đối ít, lại thiếu
- Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng( construction works): Hạng
mục này chiếm phần lớn giá trị công trình. Hạng mục này chiếm phần lớn
giá trị công trình. Nó bao gồm tất cả các công việc thực hiện bởi chủ thầu
chính (bên B) và tất cả các chủ thầu phụ của chủ thầu chính theo quy định
của hợp đồng xây dựng ký kết giữa bên A và bên B: từ công tác chuẩn bị, dọn
dẹp mặt bằng, xây dựng các công trình tạm thời phục vụ cho công tác thi
công đến công việc đóng cọc, làm móng và xây dựng cấu trúc chính của
công trình.
- Trang thiết bị xây dựng ( equipments of construction): ví dụ nh rào chắn,
kho bãi, nhà xởng, giàn giáo
- Máy móc xây dựng (construction machines): bao gồm các máy móc
phục vụ công tác thi công nh máy xúc, máy ủi, cần cẩu, thuộc quyền sở hữu
của ngời đợc bảo hiểm hay đi thuê.
- Tài sản có sẵn trên và xung quanh công trờng thuộc quyền sở hữu,
quản lý, trông nom hay coi sóc của ngời đợc bảo hiểm.
- Chi phí dọn dẹp hiện trờng: bao gồm các chi phí phát sinh do việc thu
dọn và di chuyển mảnh vụn, đất đá do các rủi ro đợc bảo hiểm gây ra trên
phạm vi công trờng.
- Bên cạnh phần tổn thất vật chất, bảo hiểm xây dựng cũng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của ngời thứ ba: bao gồm các trách nhiệm pháp lý do
thiệt hại tài sản, thơng tật thân thể của bên thứ ba phát sinh trong quá trình
thi công công trình hoặc xung quanh khu vực công trờng nếu ngời mua bảo
hiểm có yêu cầu.
b. Đối tợng của bảo hiểm lắp đặt
6
Đối tợng bảo hiểm lắp đặt đợc hiểu là các máy móc lắp đặt, trang thiết
bị phục vụ cho công tác lắp đặt và một số công việc, hạng mục liên quan tới
công việc lắp đặt. Đối tợng đợc bảo hiểm đợc phân loại nh sau:
- Các máy móc, các dây chuyền đồng bộ trong một xí nghiệp hay trong
khi tiến hành lắp đặt các máy móc thiết bị đó.
Thứ hai: Rủi ro loại trừ áp dụng đối với phần thiệt hại vật chất bao gồm:
- Bất kỳ loại tổn thất nào có tính chất chất hậu quả.
- Lỗi thiết kế.
- Chi phí thay thế, sửa chữa hay khắc phục các khuyết tật của máy móc,
nguyên vật liệu và/hoặc do tay nghề (các tổn thất h hại do hậu quả thì đợc
bảo hiểm).
Thứ ba : Rủi ro loại trừ áp dụng đối với phần bảo hiểm trách nhiệm:
- Khiếu nại tổn thất liên quan đến tai nạn đợc bảo hiểm hay có thể đợc
bảo hiểm trong phạm vi của phần bảo hiểm vật chất của đơn bảo hiểm xây
dựng.
- Khiếu nại phát sinh do dịch chuyển, rung động hay suy yếu của cột
chống.
b. Phạm vi bảo hiểm lắp đặt
Những rủi ro chính đợc bảo hiểm trong đơn bảo hiểm lắp đặt đợc chia làm
3 loại chính:
- Các rủi ro thiên tai bao gồm động đất, động biển gây ra sóng thần, gió
mạnh (do bão, gió xoáy, cuồng phong), ma lớn, lũ, lụt, đóng băng, sét đánh,
cháy do sét đánh hay do hoạt động của núi lửa, đất lún, sụt lở.
- Các hiểm hoạ tổn thất gây ra bởi hoạt động của con ngời trên công trờng
nh: thiếu kinh nghiệm hay kỹ năng, lỗi của con ngời, bất cẩn, trộm cắp, hành
động ác ý, phá hoại, vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu, lỗi thiết kế, tập
trung cao độ hay cờng độ công việc cao do thời gian lắp đặt quá ngắn, phối
hợp công việc thiếu hợp lý, trông nom, bảo vệ công trờng không tốt, thiếu
những biện pháp ngăn ngừa tổn thất, lỗi vận hành, lỗi ngời vận hành máy.
- Các rủi ro kỹ thuật, vận hành bao gồm áp suất ép quá lớn (nổ vật lý),
chân không (nổ bên trong), nhiệt dộ quá lớn (đoản mạch), lực li tâm, lỗi
nguyên vật liệu, mất kiểm soát phản ứng hoá học (nổ hoá học), lỗi của hệ
thống hay thiết bị điều hành hay điều khiển.
Bảo hiểm lắp đặt có các loại trừ sau:
- Loại trừ chung: áp dụng cho cả phần bảo hiểm vật chất và phần bảo
và nguy cơ đe doạ các doanh nghiệp bảo hiểm càng nhiều. Vì vậy, để ổn
định hoạt động sản xuất kinh doanh các công ty bảo hiểm phải phân tán
rủi ro mình đã chấp nhận cho các nhà bảo hiểm khác, tức là cần thiết phải
tái bảo hiểm.
Tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro mà ngời bảo hiểm phải
gánh chịu, nói cách khác, tái bảo hiểm là quá trình ngời bảo hiểm chuyển
một phần trách nhiệm đã chấp nhận với ngời đợc bảo hiểm cho ngời bảo
hiểm khác bằng cách nhợng lại cho họ một phần phí bảo hiểm qua hợp đồng
tái bảo hiểm.
9
Trong tái bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc ký hợp đồng với ngời tham
gia và sau đó chuyển giao rủi ro cho các công ty nhận tái bảo hiểm. Công ty
nhận gọi là công ty nhận tái bảo hiểm.
Mặc dù ra đời muộn hơn so với bảo hiểm, tuy nhiên ngày nay tái bảo
hiểm đã phát triển không ngừng và hỗ trợ đắc lực cho bảo hiểm trong những
tác động tích cực đối với sự phát triển mỗi nớc. Sở dĩ nh vậy là vì tái bảo
hiểm có những tác dụng không thể phủ nhận đợc.
Nh trên đã trình bày, có thể thấy nhiệm vụ chủ yếu của tái bảo hiểm là
phân chia các rủi ro đã đợc bảo hiểm của các công ty bảo hiểm gốc cho một
tập thể những công ty tái bảo hiểm và thông qua đó sẽ tận dụng đợc một cách
tối u các quy luật thống kê. Với nhiệm vụ trên, tái bảo hiểm ổn định kinh
doanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho các công ty này có
thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vợt quá khả năng tài chính của mình.
Thứ hai, tái bảo hiểm có tác dụng phân tán rủi ro, góp phần ổn định tài
chính cho các công ty gốc đặc biệt trong trờng hợp xảy ra những biến cố bảo
hiểm có tính thảm hoạ hay tính tích luỹ rủi ro.
Thứ ba, tái bảo hiểm còn giúp cho các công ty nhỏ hoặc mới thành
lập ổn định và phát triển lâu dài nhờ sự t vấn về nghiệp vụ từ các công ty
tái bảo hiểm.
Thứ t, tái bảo hiểm còn góp phần ổn định Ngân sách Nhà nớc thông
của ngành bảo hiểm nói chung và ngành tái bảo hiểm nói riêng. Bị tổn hại
nhiều nhất phải kể đến các công ty tái bảo hiểm Đức.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 với sự thắng lợi của
Hồng quân Liên xô và phe đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít đến tận
gốc rễ. Nó đã mở ra một giai đoạn mới của lịch sử loài ngời cũng nh của nền
kinh tế và ngành bảo hiểm. Tái bảo hiểm giai đoạn này đợc đặc trng thông
qua các biến động lớn sau đây:
- Sự phục hồi nhanh chóng của các công ty tái bảo hiểm của cộng hoà
liên bang Đức.
- Sự thành lập các công ty bảo hiểm nhà nớc ở các nớc xã hội chủ nghĩa.
- Trong những nớc chậm phát triển hoặc mới giành đợc độc lập những tổ
chức độc quyền tái bảo hiểm, cục bộ hay toàn phần đã đợc thành lập nhằm
bảo vệ lợi ích riêng của họ (Ví dụ nh ở Aschentina, Braxin, Chile, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ai Cập và một số nớc ở Châu Phi, Đông Nam á ). Sự kiện này làm thu
hẹp khả năng hoạt động của các công ty tái bảo hiểm quốc tế ở những nớc
đó.
- Nhiều công ty tái bảo hiểm mới đợc thành lập và ngày càng có nhiều
công ty bảo hiểm tiến hành đồng thời dịch vụ tái bảo hiểm. Do đó cuộc cạnh
tranh giữa họ ngày càng gay gắt và dới nhiều hình thức khác nhau.
1.2 Các hình thức tái bảo hiểm.
Sự ra đời và quá trình lịch sử phát triển của tái bảo hiểm cho thấy vào
thời gian ban đầu không có sự phân biệt rõ ràng nào về hình thức tái bảo
11
hiểm, bởi vì trong nhiều thế kỷ chỉ có một hình thức tái bảo hiểm duy nhất đ-
ợc biết và ứng dụng rộng rãi trên thị trờng bảo hiểm thế giới. Đó là: tái bảo
hiểm lựa chọn cho từng rủi ro riêng biệt.
Đầu thế kỷ 19, để đáp ứng nhu cầu của ngành bảo hiểm đang ngày
càng phát triển mạnh mẽ, ngành tái bảo hiểm bắt đầu phát triển nhanh chóng
và lúc đó, các hình thức tái bảo hiểm mới đợc tạo lập. Có thể phân chia tái
bảo hiểm thành 3 hình thức cơ bản sau:
nh là một sự chấp nhận.
Trớc khi chính thức có ý kiến nhận hay khớc từ, nhà tái bảo hiểm có
thể yêu cầu biết thêm những chi tiết khác để đánh giá rủi ro mà mình sẽ nhận
nh: những chi tiết về việc định giá phí bảo hiểm Cuối cùng, chỉ khi nào
nhận đợc thông báo chấp nhận của nhà tái bảo hiểm thì dịch vụ theo hình
thức tuỳ ý lựa chọn mới coi nh hoàn thành.
Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn có nhiều u điểm và nhợc điểm. Có thể
xem qua một số u nhợc điểm chủ yếu sau:
u điểm:
+ Giúp công ty nhợng, nhất là công ty bảo hiểm của các quốc gia đang
phát triển và non trẻ, có kinh nghiệm ít có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm
cho những đơn vị rủi ro ở địa phơng mà có giá trị bảo hiểm lớn, vợt quá khả
năng tài chính thông thờng của mình bằng việc sử dụng chuyên môn và khả
năng của thị trờng tái bảo hiểm quốc tế.
+ Giúp công ty nhợng có điều kiện lựa chọn để duy trì kim ngạch bảo
hiểm của mình đợc cân đối, tức là giúp cho công ty nhợng có thể loại bỏ đợc
những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi tổn thất thuộc đơn vị
rủi ro này xảy ra có thể làm ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của mình trong
năm kế hoạch ở một nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt nào đó.
+ Giúp cho công ty nhợng có quyền chủ động trong việc chấp nhận
bảo hiểm phục vụ nhu cầu của ngời đợc bảo hiểm về những loại rủi ro mà có
thể không đợc chấp nhận trong các hợp đồng tái bảo hiểm truyền thống của
mình, chẳng hạn nh: rủi ro về động đất, ngập lụt, đình công, bạo loạn, chiến
tranh hay những rủi ro tơng tự khác
Nh ợc điểm:
+ Công ty nhợng phải thông báo đầy đủ chi tiết của nghiệp vụ bảo
hiểm gốc; có nghĩa là khi áp dụng hình thức này nhiều lần thì nhà tái bảo
hiểm thờng xuyên cần phải tiếp xúc và biết đợc ý đồ bên trong của các hợp
đồng bảo hiểm gốc và kim ngạch bảo hiểm của công ty nhợng dẫn đến có thể
bị tiết lộ những thông tin có lợi cho sự cạnh tranh trong thị trờng bảo hiểm
có liên quan đến những rủi ro đợc bảo hiểm với mục đích bảo vệ quyền lợi
chung của công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm. Ngợc lại, nhà tái bảo hiểm
chia sẻ những vận may rủi với công ty nhợng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn
thất thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm để thoả thuận.
Cũng nh loại hình bảo hiểm tùy ý lựa chọn, tái bảo hiểm bắt buộc cũng
tồn tại u và nhợc điểm nhất định:
u điểm:
+ Từ những phân tích trên có thể thấy với hình thức tái bảo hiểm, nhà
tái bảo hiểm và nhà bảo hiểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau hơn là những
dịch vụ bảo hiểm nhợng theo hình thức tuỳ ý lựa chọn.
+ Với hình thức này, nhà tái bảo hiểm thu đợc số phí lớn nhất do mọi
rủi ro đều đợc san sẻ giữa hai bên, điều này phù hợp với quy luật số đông
14
giúp nhà tái bảo hiểm thực hiện đợc tốt vai trò kinh tế quốc dân của họ về
đẩy mạnh những tiến bộ khoa học kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc
chấp nhận những rủi ro mới và các dạng bảo hiểm mới.
Nh ợc điểm:
Bên cạnh những u điểm trên thì một nhợc điểm nổi trội cần bàn đến
đó là hình thức tái bảo hiểm bắt buộc không khai thác hết khả năng tài
chính của nhà bảo hiểm; điều này đợc thể hiện ở chỗ, có nhiều rủi ro mà
nhà bảo hiểm có khả năng đảm nhận đợc nhng vẫn bắt buộc phải tái đi theo
quy định.
1.2.3. Tái bảo hiểm kết hợp tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc.
Mỗi hình thức tái bảo hiểm có những hạn chế và u điểm nhất định do
đó để khai thác u điểm của hình thức này và hạn chế nhợc điểm của hình
thức kia ngời ta thờng kết hợp các hình thức đó lại trong một hợp đồng tái
bảo hiểm gọi là tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc. Đây là hình thức tái
bảo hiểm mà công ty nhợng không bắt buộc phải nhợng tất cả các dịch vụ
mình đã nhận ngợc lại nhà tái bảo hiểm bắt buộc phải chấp nhận các dịch vụ
mà công ty nhợng chuyển giao với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù
- Trách nhiệm của công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm đợc tính theo tỷ lệ
tơng ứng của mỗi bên tham gia.
- Phí và bồi thờng đợc chia sẻ giữa công ty nhợng và nhà tái bảo hiểm
theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên về số tiền bảo hiểm.
Chẳng hạn, nếu phần tham gia của nhà tái bảo hiểm trên một rủi ro là
40% của giá trị rủi ro đó thì họ cũng sẽ nhận đợc 40% của số phí bảo hiểm và
sẽ đóng góp tiền bồi thờng vào mỗi vụ tổn thất thuộc rủi ro đó là 40%. Tức
là, phần phí bảo hiểm do nhà tái bảo hiểm nhận đúng nh phần rủi ro họ đảm
nhận tính theo tỷ lệ.
Phơng pháp tái bảo hiểm tỷ lệ đợc chia thành 2 dạng chính là:
- Tái bảo hiểm thặng d vốn (hay còn gọi là tái bảo hiểm mức dôi ra)
(surplus), và
- Tái bảo hiểm phân ngạch thuần (hay còn gọi là tái bảo hiểm số
thành hay tái bảo hiểm tham gia) (Quota share).
Tuy cùng là phơng pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ nhng 2 dạng này có những
đặc điểm khác nhau rõ rệt. Có thể khái quát một số điểm khác biệt sau:
- Trong tái bảo hiểm số thành, tỷ lệ tái bảo hiểm và tỷ lệ mức giữ lại của
công ty nhợng đợc ấn định bằng một số tơng đối (tức là bằng tỷ lệ phần trăm)
nhất định do đó số phí đợc hởng và số tiền bồi thờng phải trả của nhà tái bảo
hiểm và của công ty nhợng đợc phân chia tơng xứng theo tỷ lệ ấn định đó.
- Ngợc lại, trong tái bảo hiểm mức dôi, mức giữ lại đợc ấn định theo số
tuyệt đối (tức là bằng số tiền), mức tái bảo hiểm là mức chênh lệch giữa giá
trị bảo hiểm và mức giữ của công ty nhợng và đợc giới hạn bằng một số tiền
tối đa do hai bên thoả thuận. Do đó, tỷ lệ tái bảo hiểm và tỷ lệ mức giữ lại
16
thay đổi tùy thuộc vào giá trị bảo hiểm của từng đơn vị rủi ro riêng biệt;
chính vì vậy, kết quả bồi thờng của nhà tái bảo hiểm cho toàn bộ các dịch vụ
đợc tái bảo hiểm có thể khác xa so với kết quả bồi thờng của công ty nhợng.
Để hiểu rõ hơn về những khác biệt trên ta đi sâu tìm hiểu về từng dạng
cụ thể:
dạng tái bảo hiểm tỷ lệ (số thành và mức dôi) để phân tán rủi ro.
17
Trong hợp đồng tái bảo hiểm số thành, các đơn vị rủi ro đợc đem tái
bảo hiểm theo các phần ấn định (fixed share), hay nói cách khác bằng một
thoả ớc phân ngạch. Nhà tái bảo hiểm và công ty nhợng cùng có nghĩa vụ
phải đảm bảo tất cả các rủi ro đợc bảo hiểm của một nghiệp vụ hay một hạng
rủi ro nhất định và nghĩa vụ đó đợc phân chia giữa các bên theo một tỷ lệ
đồng nhất đã đợc quy định bằng thoả thuận từ trớc.
Trái với dạng tái bảo hiểm mức dôi, dạng tái bảo hiểm số thành không
mang tính chất san bằng đối với các giá trị đợc bảo hiểm. Nó cung cấp một
sự đảm bảo giản đơn và có hiệu quả trong mọi trờng hợp, đặc biệt trong trờng
hợp có sự tích luỹ của một số lớn các vụ bồi thờng tổn thất nhỏ hoặc trung
bình mà gây ra bởi cùng một sự cố (chẳng hạn, trong nghiệp vụ bảo hiểm về
ma đá hay bảo hiểm giông bão đối với nông nghiệp thờng xảy ra trờng hợp
tổn thất theo kiểu này).
Đứng trên quan điểm thống kê và kế toán thì dạng tái bảo hiểm số
thành là tái bảo hiểm giản đơn nhất để xử lý. Về cơ bản, dạng tái bảo hiểm
này chỉ có một mức (one line), trong đó tỷ lệ mức giữ lại và mức tái bảo hiểm
đợc ấn định bằng một tỷ lệ đều nhau cho mọi rủi ro nằm trong phạm vi hợp
đồng tái bảo hiểm.
Dạng tái bảo hiểm số thành có những u nh ợc điểm chính nh sau:
-Ưu điểm:
+ Là dạng tái bảo hiểm giản đơn, dễ xử lý, chi phí hành chính và cách
quản lý đơn giản, ít tốn kém.
+ Đối với nhà tái bảo hiểm, tái bảo hiểm số thành có tính cân đối và dễ
chấp nhận hơn so với dạng tái bảo hiểm mức dôi, có khả năng phân tán rủi ro
tốt hơn so với các loại tái bảo hiểm khác. Nhà tái bảo hiểm có điều kiện tham
gia vào mọi đơn vị rủi ro mà công ty nhợng nhận tái bảo hiểm; đồng thời
công ty nhợng có thể yên tâm nhận mọi rủi ro mà có giá trị nằm trong phạm
vi hạn mức khống chế tối đa đã quy ớc vì mọi rủi ro này đều đợc chia sẻ cho
phải bảo vệ phần giữ lại gộp của mình bằng một hợp đồng tái bảo hiểm số
thành.
Thông thờng khi áp dụng hai dạng tái bảo hiểm kết hợp này, công ty
nhợng đem tái bảo hiểm cho cùng một số nhà tái bảo hiểm, tức là cả hai
khoản nhợng này đều cùng đợc đa tái bảo hiểm vào một thoả ớc chung và đ-
ợc thể hiện ở nhiều dạng khác nhau. Thờng thì trong dạng tái bảo hiểm kết
hợp, dạng tái bảo hiểm số thành là hợp đồng cơ sở và dạng tái bảo hiểm mức
dôi làm hợp đồng bổ sung tự động.
Dạng tái bảo hiểm kết hợp có u và nh ợc điểm sau:
Ưu điểm:
+ Công ty nhợng đảm bảo khả năng gia tăng về nhận trách nhiệm bảo
hiểm một cách tự động mà không ảnh hởng đến mức giữ lại của bản thân
công ty (tức là không phải tăng mức giữ lại).
19
+ Hợp đồng cơ sở (số thành) ổn định hơn và phân tán tái bảo hiểm dễ
dàng hơn.
Nh ợc điểm:
+ Thủ tục và chi phí điều hành phức tạp hơn sử dụng hợp đồng số
thành thuần tuý.
+ Phần đem tái bảo hiểm vào hợp đồng mức dôi cần phải có bảng
thông báo tái bảo hiểm.
+ Thủ tục phí tái bảo hiểm thu đợc của phần đa vào hợp đồng mức dôi
thấp hơn so với thủ tục phí tái bảo hiểm đa vào hợp đồng số thành (vì tỷ trọng
giữa phí và trách nhiệm thấp).
1.3.2. Tái bảo hiểm theo mức bồi thờng (tái bảo hiểm không tỷ lệ).
Tái bảo hiểm theo mức bồi thờng là một hình thức tái bảo hiểm mà
trong đó công ty nhợng ấn định một giới hạn bồi thờng bằng một số tiền mà
họ có thể tự gánh chịu cho tổn thất là hậu quả của mỗi một sự cố đối với một
loại hay các loại bảo hiểm mà mình đảm trách và phần tổn thất vợt quá hạn
mức đó đợc chuyển cho nhà tái bảo hiểm gánh chịu.
tính toán số phí tái bảo hiểm ban đầu, điều chỉnh thanh toán phí bổ sung và
chi phí thông báo, giải quyết thanh toán bồi thờng của nhà tái bảo hiểm khi
có tổn thất vợt trên điểm tự bồi thờng của công ty nhợng.
Nh ợc điểm:
- Phơng pháp tính phí phức tạp và khó chính xác, đòi hỏi phải có kinh
nghiệm và kỹ thuật tính toán cao, đặc biệt đối với dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ
trên cơ sở thảm hoạ lớn.
- Mức tự bồi thờng nếu tính quá cao thì có thể ảnh hởng đến kết quả
kinh doanh của công ty nhợng, nhng nếu tính quá thấp thì chi phí hành chính
cuả nhà tái bảo hiểm lại tăng.
- Không có tác dụng nhiều trong việc hỗ trợ dàn mỏng tài chính của
hoạt động kinh doanh của công ty nhợng (công ty nhợng có khó khăn
trong việc thanh toán phí tái bảo hiểm vì phí tái bảo hiểm thờng phải
đóng trớc).
- Phải trả thêm phí tái bảo hiểm trong trờng hợp có bồi thờng thuộc
trách nhiệm hợp đồng tái bảo hiểm và có điều khoản tái lập trách nhiệm bảo
vệ (Reinstatement).
Tái bảo hiểm theo mức bồi thờng có thể chia thành 2 loại cơ bản: tái
bảo hiểm vợt mức bồi thờng và tái bảo hiểm vợt tỷ lệ bồi thờng.
1.3.2.1. Tái bảo hiểm vợt mức bồi thờng (Excess of loss).
Ngời nhợng giữ lại mức tự bồi thờng bằng một số tiền nhất định; phần
vợt quá thuộc về trách nhiệm của ngời nhận tái.
Công ty nhợng bồi thờng theo hạn mức giữ lại gọi là mức tự bồi th-
ờng; nhà tái bảo hiểm bồi thờng phần vợt quá gọi là hạn mức trách nhiệm
của nhà tái bảo hiểm.
21
Khi yêu cầu cần bảo vệ có hạn mức trách nhiệm quá cao thì số tiền bảo
hiểm có thể chia thành nhiều lớp (layers) đảm bảo khác nhau. Trong trờng
hợp nh vậy, mức cao nhất (trần) của lớp thứ nhất sẽ là mức thấp nhất (sàn)
của lớp thứ hai và trần của lớp thứ hai sẽ là sàn của lớp thứ ba
chất thật quan trọng hay khốc liệt.
1.3.2.2 Tái bảo hiểm vợt tỷ lệ bồi thờng (stop loss or loss ratio)
Là dạng tái bảo hiểm mà nhà tái bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi th-
ờng trong trờng hợp khi kết quả toàn bộ nghiệp vụ của công ty nhợng có một
tỷ lệ bồi thờng vợt quá một tỷ lệ hoặc một mức tiền ấn định trớc. Điểm vợt
mức mà trên mức đó nhà tái bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thờng phải đợc
quy định sao cho công ty nhợng không thể kiếm lời về phần họ chịu trách
nhiệm. Hay nói cách khác, tái bảo hiểm vợt tỷ lệ bồi thờng nhằm mục đích
bảo vệ cho công ty nhợng chống lại một sự gia tăng đột biến của tỷ lệ bồi th-
ờng trong một ngành bảo hiểm hay một dạng dịch vụ bảo hiểm nhất định nào
đó trong một khoảng thời gian quy định, bất luận tình trạng đó do nguyên
nhân nào gây ra.
Khoảng thời gian này thờng là năm kế hoạch (năm tài chính) và tỷ lệ
bồi thờng đợc biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổn thất phải bồi thờng và số
phí đã thu hoặc đã đợc hởng của năm tài chính, hoặc cũng có thể biểu thị
bằng một mức tiền ấn định. Trong một số trờng hợp, giới hạn trách nhiệm
của nhà tái bảo hiểm sẽ quy định vừa bằng số tơng đối (tỷ lệ %), vừa bằng số
tuyệt đối (số tiền) và giới hạn đó sẽ ứng dụng với số nào có kết quả nhỏ hơn.
1.3.2.3 Tái bảo hiểm kết hợp mức dôi và vợt mức bồi thờng.
Thực hiện hình thức này việc phân chia trách nhiệm đợc tiến hành trớc
hết cho hợp đồng mức dôi; nhng khi tổn thất xảy ra, công ty nhận tái bảo
hiểm vợt mức bồi thờng sẽ bảo vệ cho công ty nhợng hoặc công ty nhận tái
bảo hiểm mức dôi.
1.4. Hợp đồng tái bảo hiểm
1.4.1. Định nghĩa
Hợp đồng tái bảo hiểm là một thoả ớc đợc ký kết giữa công ty nhợng
và nhà tái bảo hiểm; trong đó nhà tái bảo hiểm cam kết bồi thờng cho công ty
nhợng phần trách nhiệm mà công ty nhợng phải gánh chịu trong hợp đồng
bảo hiểm của mình.
Từ định nghĩa này, ta thấy hợp đồng tái bảo hiểm có ba đặc trng:
bằng một tỷ lệ phần trăm cố định của số phí tái bảo hiểm.
Thứ hai: Thủ tục phí theo thang luỹ tiến (Sliding Scale Commission)
Để tránh sự ảnh hởng của kết quả bồi thờng đối với thủ tục phí tái bảo
hiểm theo hình thức cố định, ngời ta có thể thoả thuận về thủ tục phí đợc điều
chỉnh tăng giảm theo nấc thang.
Cơ sở để tính thủ tục phí theo thang luỹ tiến là lấy mức thủ tục phí cố
định làm chuẩn từ đó quy định mức tăng giảm theo tỷ lệ của bồi thờng.
Thang luỹ tiến đợc khống chế ở mức tối đa và mức tối thiểu. Nh vậy kết quả
24
bồi thờng càng thấp bao nhiêu thì tỷ lệ thủ tục phí tái bảo hiểm lại tăng lên
bấy nhiêu và ngợc lại.
Tỷ lệ bồi thờng Tỷ lệ thủ tục phí
75% 20%
73% 21%
71% 22%
69% 23%
67% 24%
63% 25%
61% 26%
59% 27%
57% 28%
55% và dới 29%
Với thang luỹ tiến này, số tiền thủ tục phí tái bảo hiểm ít nhất sẽ là
20% và hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả nghiệp vụ.
Vào cuối kỳ quy định theo thoả thuận, thủ tục phí tái bảo hiểm sẽ đợc
tính lại và điều chỉnh theo tỷ lệ của thang luỹ tiến trên cơ sở của tỷ lệ bồi th-
ờng của năm nghiệp vụ.
Tỷ lệ bồi thờng này đợc tính theo công thức sau:
Trong đó: