SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 2 BẢO THẮNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG Môn: Sinh học
Tên tác giả: Nguyễn Thị Phương
GV môn: Sinh học
dụng các phương pháp dạy học khác có hiệu quả. Thực trạng của việc xây dựng câu hỏi
trong dạy học nói chung và trong dạy học sinh học nói riêng đã khẳng định cần phải rèn
luyện kĩ năng xây dựng câu hỏi trong dạy học sinh học là một vấn đề cấp bách và cần thiết.
Xuất phát từ mục đích đó, là giáo viên ai cũng trăn trở, làm sao phải tìm ra cho
mình một phương pháp dạy học hữu hiệu nhất, phù hợp với đối tượng học sinh, gây được
hứng thú cho học sinh, giúp học sinh có một kết quả cao trong học tập là một vấn đề khó.
Với kinh nghiệm giảng dạy sách giáo khoa đổi mới, bản thân tôi nhận thấy để giờ
dạy học sinh học có hiệu quả cao thì cần phải rèn luyện kĩ năng: “Sử dụng câu hỏi để nâng
cao hiệu quả trong dạy học Sinh học trung học phổ thông”.
I.2. Mục đích nghiên cứu
Bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi để giảng dạy sinh học ở trường trung học phổ
thông nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập và đổi mới phương pháp dạy học hiện
nay.
I.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
I.3.1. Đối tượng
Câu hỏi để giảng dạy sinh học trung học phổ thông.
I.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Sinh học trung học phổ thông.
I.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về xây dựng câu hỏi để giảng dạy sinh học nhằm tích cực hoá
hoạt động của học sinh.
- Sử dụng câu hỏi để giảng dạy sinh học trung học phổ thông.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí thuyết cho chuyên đề.
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học sinh học.
- Các sách giáo khoa sinh học hiện hành và các tài liệu chuyên môn.
Trao đổi với giáo viên, học sinh để tìm hiểu về thực trạng xây dựng và sử dụng câu
hỏi trong dạy học sinh học.
* Phương pháp: Thử nghiệm một vài bài ở trường dạy.
- Chọn lớp thử nghiệm.
nhiệm vụ cần giải quyết và chưa rõ điều cần giải quyết đó là dựa vào những kiến thức nào.
Để thành câu hỏi, có thể diễn đạt vấn đề trên như sau: Hệ thống sống được tổ chức theo
các cấp độ thế nào để mỗi cấp độ tự nó tồn tại và phát triển được ?
Điều đã biết ở đây là tồn tại, phát triển và tồn tại phát triển là đặc điểm cơ bản của mỗi
cấp độ tổ chức của hệ thống sống. Điều cần tìm là sinh giới từ đơn bào đến đa bào, từ bậc
thấp đến bậc cao, từ mỗi cá thể đến tất cả sinh vật bao quanh vỏ Trái Đất, trong lòng đất,
được tổ chức theo từng cấp độ như thế nào.
II.1.2. Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng câu hỏi
Dạy học và sự phát triển gắn bó chặt chẽ với nhau. Dạy học không chỉ nhằm cung cấp
cho học sinh một số lượng tri thức do nội dung chương trình và sách giáo khoa đã qui định,
mà phải tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách tích cực, chủ động, độc lập để phát
triển tư duy khoa học, rèn luyện được trí thông minh, óc sáng tạo, suy nghĩ linh hoạt. Đó là
những phẩm chất trí tuệ của con gnười lao động mới theo đúng mục tiêu đào tạo của nhà
trường, của cấp học khi mà đại bộ phận học sinh tốt nghiệp bậc học này có thể ra đời tham
gia lao động.
Giáo dục đạo đức tình cảm, thái độ hành vi trong ứng xử thân thiện với con người, với
lao động là thể hiện sự “dạy người thông qua dạy chữ”. Thông qua dạy học bộ môn mà góp
phần xây dựng nhân cách con người lao động mới, xây dựng thế giới quan duy vật biện
chứng cùng các phẩm chất về tinh thần ý chí cho học sinh trong hiện tại và ý chí vượt khó để
hoàn thành mọi nhiệm vụ trong lao động, nghiên cứu sau này.
Qua việc hình thành những kiến thức và kĩ năng trên sẽ hình thành và phát triển niềm
tin của học sinh vào tri thức khoa học trong việc nhận thức bản chất và tính qui luật của các
hiện tượng sinh học. Từ đó có ý thức vận dụng các tri thức, kĩ năng đã học được vào thực
tiễn cuộc sống, lao động và học tập.
Hình thành được ý thức tự giác và thói quen bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường
sống, bảo vệ sức khỏe của bản thân và những người xung quanh.
Thực trạng về việc xây dựng và sử dụng câu hỏi để giảng dạy sinh học: Không sử dụng
các câu hỏi dẫn dắt để hướng dẫn học sinh từ quan sát các dấu hiệu bên ngoài của phương
tiện trực quan đến việc rút ra nhận xét, kết luận về bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá
trình…Do đó mà chưa hình thành được ở học sinh năng lực quan sát.
Mỗi câu hỏi đều có 2 thành phần tạo nên, có quan hệ với nhau, nhưng về mặt cấu trúc
ta cần xem thành phần nào nêu trước, thành phần nào nêu sau. Thực tiễn cho thấy, trình tự
này không đòi hỏi nghiêm ngặt, vì rằng, câu hỏi cũng phản ánh hiện thực khách quan nhưng
về hình thức thể hiện của câu hỏi, bài tập lại thông qua cấu trúc lôgic của tư duy con người,
nghĩa là theo lôgic nhận thức. Mà lôgic nhận thức không phải lúc nào cũng tuân thủ lôgic
vận động của sự vật trong thực tại khách quan. Trong thực tại, bao giờ nguyên nhân cũng
xuất hiện trước, từ đó mới xuất hiện kết quả. Nhưng trong nhận thức, lại có thể dựa vào kết
quả mới tìm được nguyên nhân. Do vậy, tuỳ tác giả diễn đạt mà trong câu hỏi có thể nêu
điều đã biết, sau đó mới nêu điều cần tìm, hoặc có thể nêu điều cần tìm trước và kèm theo
điều kiện đã cho.
Ví dụ bài tập: Dựa vào đặc điểm cấu trúc của ADN, hãy giải thích sự phong phú, đa
dạng của sinh vật.
Hoặc: Hãy giải thích sự phong phú, đa dạng của sinh vật bằng đặc điểm cấu trúc của
ADN.
Câu hỏi: Dựa vào đặc điểm cấu trúc của ADN, ta có thể giải thích sự phong phú, đa dạng
của sinh vật như thế nào? Hoặc: Có thể giải thích sự phong phú, đa dạng của sinh vật như thế nào
bằng đặc điểm cấu trúc của ADN?
Câu hỏi vô cùng đa dạng, mà trong dạy học thì câu hỏi được sử dụng trong mọi trường
hợp. Tuy nhiên, trong dạy học không phải trong chủ đề nào của nội dung dạy và học đều có
sẵn các câu hỏi phù hợp với mọi đối tượng. Vì vậy nhiều trường hợp giáo viên phải tự xây
dựng câu hỏi để hướng dẫn người học nghiên cứu, phát hiện kiến thức. Khi lựa chọn và xây
dựng câu hỏi để tổ chức hoạt động học tập, giáo viên phải nắm vững cần có những câu hỏi
thuộc loại nào để đạt được mục tiêu dạy học. Câu hỏi chỉ phát huy được tác dụng dạy học
khi sử dụng loại câu hỏi phù hợp với mục tiêu dạy học.
II.2.3. Sử dụng câu hỏi trong dạy học sinh học ở trường phổ thông.
Trong dạy học, câu hỏi luôn được sử dụng và được sử dụng trong các khâu khác nhau
nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau.
Trong phạm vi của chuyên đề này, chúng ta chỉ nghiên cứu sâu vào việc sử dụng câu
hỏi, bài tập để tổ chức hoạt động nhằm khám phá kiến thức mới hình thành kĩ năng mới, qua
đó phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động và hình thành nhân cách.
Khi một câu hỏi lớn đặt ra, gồm nhiều khía cạnh khác nhau, ta có thể nêu câu hỏi để
gợi ra từng vấn đề nhỏ và nội dung từng vấn đề, sau một loạt câu hỏi gợi ý, dẫn người học
giải quyết được vấn đề lớn.
Ví dụ khi dạy mục “Cấu trúc của prôtêin” bài 9, sau một câu hỏi lớn là: Prôtêin có cấu
trúc như thế nào, ta sẽ lần lượt nêu các câu hỏi gợi ý:
– Đơn phân của prôtêin (axit amin) có cấu tạo như thế nào?
– Các đơn phân liên kết với nhau như thế nào?
– Chuỗi các axit amin sẽ tiếp tục biến đổi thế nào để tạo được cấu trúc bậc 2, bậc 3, bậc
4?
– Cấu trúc không gian ba chiều của prôtêin có vai trò như thế nào?
Sử dụng câu hỏi để hướng dẫn quan sát
Khi quan sát hình vẽ có nhiều chi tiết hoặc quan sát thiên nhiên có nhiều hiện tượng
đồng thời xảy ra, nhưng cần nghiên cứu một hiện tượng trong đó, giáo viên phải rèn luyện
cho học sinh có kĩ năng quan sát và nhận biết, ta thường dùng câu hỏi để hướng dẫn.
Sử dụng câu hỏi để phát triển kĩ năng tư duy
Trong tổ chức hoạt động học tập, ngoài việc hướng tới mục tiêu tri thức, đồng thời phải
hướng tới mục tiêu quan trọng nữa là phát triển tư duy. Trong các kĩ năng tư duy, trước hết
phải sử dụng câu hỏi để phát triển kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp
Sử dụng câu hỏi để tự kiểm tra và kiểm tra kết quả học tập
Để học sinh hoạt động tích cực, tự lực trong học tập, khâu kiểm tra và tự kiểm tra sẽ
góp phần định hướng cho hoạt động dạy và hoạt động học. Do vậy cần xác định mục tiêu
dạy học cụ thể, để từ mục tiêu cụ thể mà sử dụng câu hỏi phù hợp để học sinh tự kiểm tra và
tự điều chỉnh cách học nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng và phát triển năng lực nhận thức.
Để giúp học sinh tự kiểm tra tốt nhất là sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, dạng nhiều
lựa chọn.
Để học sinh tự kiểm tra kiến thức bài 4 (Sinh học 10 Cơ bản), ta có thể sử dụng bài tập
sau:
Hãy ghép số thứ tự các câu đánh số từ I đến IV với các câu đánh số từ 1 đến 10 cho
phù hợp:
I. Đường đơn
– Thứ tư: Thử xác định những nội dung cần trả lời, tìm nội dung trả lời để xác định câu
hỏi này có tìm được đáp số hay không, đáp số này có phù hợp với trình độ hay không. Qua
việc tìm ý trả lời mà xác định việc diễn đạt câu hỏi đã phù hợp hay chưa, nếu chưa phù hợp
cần sửa lại thế nào.
– Thứ năm: Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt câu hỏi để đưa vào sử dụng.
Ví dụ minh hoạ:
Khi thiết kế câu hỏi, bài tập để dạy mục I.2: “Pha tối” trang 41 (SGK Sinh học 11 Cơ bản) ta
tiến hành như sau:
1) Mục tiêu của việc xây dựng câu hỏi là:
+ Hiểu được đặc điểm của pha tối là pha khử CO
2
ở thực vật C
3
.
+ Hình thành năng lực thu thập xử lí thông tin từ SGK – một năng lực tự học cần được hình
thành qua việc dạy học sinh trả lời câu hỏi.
2) Liệt kê những điều cần hỏi và những điều đã biết.
+ Điều đã biết: Chu trình Canvin, đặc điểm các giai đoạn của chu trình.
+ Điều cần hỏi:
Hợp chất tham gia đồng hoá CO
2
.
Sản phẩm đầu tiên khi khử CO
2
.
Các giai đoạn của pha tối.
Giải thích tên gọi của chu trình
Ý nghĩa của chu trình.
3) Diễn đạt điều cần hỏi bằng câu hỏi:
Quan sát hình 9.2, SGK trang 41 và cho biết:
3
). Nhóm thực vật cố định CO
2
theo con đường C
3
(chu trình
Canvin) gọi là thực vật C
3
.
+ Ý nghĩa của chu trình C
3
:
- Chu trình C
3
là chu trình quang hợp cơ bản nhất của thế giới thực vật, xảy ra trong tất
cả thực vật.
- Chu trình C
3
tạo nên nhiều sản phẩm sơ cấp đó là hợp chất C
3
, C
5
, C
6
… là nguyên
liệu để tổng hợp nên các sản phẩm quan trọng như đường, tinh bột, protein, lipit.
5) Chỉnh sửa lại câu hỏi và ý trả lời:
Xem lại câu hỏi và câu trả lời, chỉnh sửa lại nội dung cách diễn đạt cho phù hợp mục
tiêu (nếu cần).
II.2.5. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi
giống nhau. Hướng trả lời là sự khác nhau, giống nhau thể hiện ở hình 2.1, 2.2.
Nếu hỏi: Hệ thống 5 giới sinh vật và hệ thống 3 nhánh sinh vật có những điểm nào
giống, khác nhau? Tuy câu gọn, rõ ý muốn hỏi, nhưng định hướng trả lời chưa rõ về mức độ,
nghĩa là chưa rõ yêu cầu nêu chi tiết đến mức nào.
Do đó câu hỏi càng nêu rõ căn cứ để trả lời và yêu cầu mức độ cần trả lời được thì
người trả lời có cơ hội tìm được câu giải đáp tốt.
– Câu hỏi phải diễn đạt được điều cần hỏi.
Trong một mục hay một bài thường chứa đựng nhiều nội dung, người xây dựng hay sử
dụng câu hỏi cần phân tích thật rõ ràng mục tiêu của nội dung dạy, xác định được câu hỏi
dẫn dắt, câu hỏi rút ra kết luận, kết luận thế nào từ đó mới tìm cách diễn đạt ý muốn hỏi
bằng câu hỏi.
Ví dụ: dạy mục “I – Các cấp tổ chức sống” của bài 1, Sinh học 10, Cơ bản. Khi xây
dựng câu hỏi để tổ chức hoạt động học tập, trước hết người dạy phải xác định được: Vấn đề
cần hỏi ở đây là cái gì? Và hỏi câu hỏi đó để làm gì?
Vấn đề cần hỏi ở mục I là:
+ Về mặt cấu trúc, sự sống được chia thành các mức độ như thế nào ? Câu hỏi này
nhằm giúp học sinh rèn luyện năng lực xác định được nội dung quan trọng qua tự đọc sách,
đồng thời về tri thức là nhớ được các cấp độ tổ chức sống mà các nhà khoa học đã phân chia.
+ Câu hỏi quan trọng hơn là: Mỗi cấp độ tổ chức sống có đặc điểm đặc trưng như thế
nào? Dựa vào cơ sở nào mà chia các cấp độ như vậy? Hiểu được các cấp tổ chức sống có giá
trị gì?
Ba câu hỏi sau mới là điều cơ bản, vì đó là nội dung cốt lõi, nội dung bản chất, nếu
liệt kê được đủ các cấp độ tổ chức sống mới là nêu được dấu hiệu bề ngoài. Trả lời được 3
câu hỏi sau mới là hiểu bản chất, phát triển tư duy.
Phân tích như trên ta sẽ xác định được 4 câu hỏi có yêu cầu từ thấp đến cao:
Câu 1: Cấu trúc của sự sống được chia thành các cấp độ nào? Đây là câu hỏi dẫn dắt.
Câu 2: Mỗi cấp độ tổ chức sống có đặc điểm đặc trưng như thế nào? Đây là câu hỏi
khai thác dấu hiệu bản chất.
Câu 3: Dựa vào cơ sở nào phân chia cấp độ tổ chức sống như vậy? Cũng là câu hỏi
khai thác dấu hiệu bản chất.
Bước 5:
Xác định các tài liệu phụ trợ cho sách giáo khoa
Bước 6:
Diễn đạt các khả năng đó thành câu hỏi
Bước 7:
Sắp xếp các câu hỏi thành hệ thống logic
Bước 8:
Xây dựng câu hỏi để soạn bài dạy
Bước 9:
Tổ chức bài giảng trên lớp
II.2.7. Ví dụ minh họa
BÀI: QUANG HỢP Ở THỰC VẬT
(Sinh học 11 Cơ bản)
I. Mục tiêu
1. Kiến thức
I. KHÁI QUÁT VỀ QUANG HỢP Ở THỰC VẬT
1. Quang hợp là gì? (GV Sử dụng hệ thống câu hỏi để hướng dẫn quan sát)
Quan sát hình bên và cho biết:
- Quá trình quang hợp diễn ra chủ yếu ở cơ quan
nào của cây, tại sao?
(Quang hợp diễn ra chủ yếu ở lá xanh vì lá xanh là
cơ quan chuyên trách quang hợp. Ngoài ra, các
phần có màu xanh khác của cây như vỏ thân, đài
hoa, quả xanh cũng thực hiện quang hợp)
- Điều kiện cần thiết để quang hợp xảy ra là gì?
(diệp lục, ánh sáng, nước từ rễ lên, khí CO
2
từ khí quyển vào lá)
- Sản phẩm chủ yếu của quá trình quang hợp là gì?
(C
6
H
12
O
6
cùng dẫn suất của nó là tinh bột, đường saccarozơ)
Tiếp theo GV nêu câu hỏi rèn luyện kĩ năng tổng hợp để học sinh trình bày khái niệm về
quang hợp:
- Từ các đặc điểm vừa nhận xét em hãy cho biết quang hợp là gì?
(Quang hợp ở thực vật là quá trình sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời đã được diệp lục
hấp thụ để tổng hợp cacbohiđrat và giải phóng ôxi từ khí cacbonic và nước).
- Dựa vào khái niệm quang hợp kết hợp với hình 8.1 SGK, phương trình tổng quát quá trình
quang hợp được viết như thế nào?
Ánh sáng
(6 CO
năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng hoá học dự trữ trong các hợp chất hữu cơ?
Để trả lời được ý trả lời cho câu hỏi trên, nên có những câu hỏi gợi ý như sau:
Bộ máy quang hợp ở cấp cơ quan, bào quan, cấp phân tử là gì? Mỗi cấp có cấu trúc thế nào
phù hợp với hoạt động quang hợp?
(Cấp cơ quan là lá mỏng hướng về phía ánh sáng, cấp bào quan là lục lạp, chất nền có
nhiều loại enzim, electron; cấp phân tử có nhiều loại sắc tố: diệp lục và carotenôit)
1. Hình thái giải phẫu của lá thích nghi với chức năng quang hợp.
- Quan sát hình bên cho biết đặc điểm bên
ngoài của lá thích nghi với chức năng quang
hợp như thế nào? Có thể gợi ý bằng câu hỏi: - Diện tích bề mặt
lá lớn có tác dụng gì đối với quang hợp?
- Diện tích bề mặt lớn: hấp thụ được nhiều
ánh sáng mặt trời.
- Phiến lá mỏng: thuận lợi cho khí khuếch tán vào ra được dễ dàng.
- Trong lớp biểu bì của mặt lá có khí khổng giúp cho khí CO2 khuếch tán vào bên trong lá
đến lục lạp.
- Cách sắp xếp của lá trên thân.
2. Lục lạp là bào quan quang hợp
GV hướng sự chú ý của học sinh vào sự phù hợp giữa cấu trúc và chức năng của lục lạp.
GV nêu yêu cầu: Quan sát hình trên và dựa vào kiến thức về lục lạp trong Sinh học 10, hãy
nêu những đặc điểm cấu tạo của lục lạp thích nghi với chức năng quang hợp?
- Màng tilacôit: Là nơi phân bố hệ sắc tố quang hợp, nơi xảy ra các phản ứng sáng.
- Xoang tilacôit: là nơi xảy ra các phản ứng quang phân li nước và quá trình tổng hợp ATP
trong quang hợp.
- Chất nền (strôma) của lục lạp là nơi diễn ra các phản ứng của pha tối quang hợp.
3. Hệ sắc tố quang hợp
(quang năng) thành hoá năng trong phân tử ATP và NADPH. Các sắc tố khác hấp thụ năng
lượng ánh sáng và truyền năng lượng hấp thụ được cho các phân tử diệp lục a).
- Quá trình truyền năng lượng cho các nhóm sắc tố được thực hiện như thế nào?
Caroteoit Diệp lục b Diệp lục a Diệp lục a ở trung tâm phản ứng.
Cuối bài: GV nêu những câu hỏi có tác dụng kích thích tư duy, học sinh muốn trả lời được
cần có sự phân tích, tổng hợp các thong tin đã có trong bài.
Vì sao lá có màu lục (xanh)?
Diệp lục là nguyên nhân làm cho lá cây có màu lục. Các tia sáng màu lục không được diệp
lục hấp thụ và phản chiếu vào mắt ta làm cho ta thấy lá có màu lục. - Những cây lá có màu đỏ như rau dền đỏ, huyết dụ, … thì có quang hợp không? Tại sao?
(Những cây lá có màu đỏ vẫn có sắc tố màu lục nhưng bị che khuất bởi màu đỏ của nhóm
sắc tố dịch bào. Do vậy, những cây này vẫn quang hợp bình thường nhưng cường độ quang
hợp thường không cao).
- Vì sao thực vật thuỷ sinh lại có nhiều màu sắc?
(Trong điều kiện tự nhiên chỉ trong môi trường nước thành phần quang phổ mới thay đổi
mạnh. Thực vật ở độ sâu khác nhau chịu tác dụng của thành phần quang phổ khác nhau,
trong khi thực vật ở cạn không có sự khác nhau về lượng ánh sáng).
4. Củng cố:
- Mô tả sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng của lá?
5. Hướng dẫn về nhà:
- Trả lời câu hỏi SGK trang 39
- Đọc thêm: “Em có biết”
- Đọc trước bài 9 sgk.
V.Rút kinh nghiệm:
II.3. KIỂM CHỨNG – SO SÁNH
Từ khi thực hiện chuyên đề vào giảng dạy chương trình sinh học trung học phổ thông,
chú ý đến các phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học nhưng các em chưa có kĩ năng
quan sát các phương tiện trực quan. Các câu hỏi xây dựng cũng góp phần nào vào việc định
hướng quan sát cho học sinh.
Qua những kết quả thử nghiệm và quan sát sư phạm tôi thấy rằng: các câu hỏi hướng
dẫn giảng dạy sinh học đã thể hiện nhiều dấu hiệu về triển vọng của việc sử dụng câu hỏi
trong việc nâng cao chất lượng dạy học.
II.5. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Trên đây là kinh nghiệm của bản thân tôi trong một số năm học tập, nghiên cứu và giảng
dạy tôi đưa ra để quý thầy cô tham khảo trong dạy học Sinh học sách giáo khoa đổi mới tốt
hơn.
Để vận dụng được chuyên đề tôi đã trình bày ở trên thành công cần lưu ý các vấn đề
sau:
- Người thầy phải nắm chắc kiến thức chuyên môn cần truyền đạt để có thể sử dụng các câu
hỏi vào bài giảng .
- Nhận dạng được các dạng câu hỏi.
- Khi dùng chuyên đề này giảng dạy cũng phải tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh giỏi, khá,
trung bình, yếu, kém để nâng dần mức độ khó, phức tạp của câu hỏi.
III. KẾT LUẬN
Câu hỏi được thiết kế đảm bảo yêu cầu sư phạm theo mục tiêu bài học thì việc học
không chỉ còn là việc ghi nhớ để trình bày lại mà còn phải sử dụng được kiến thức đã biết
để tìm tòi, khám phá ra những kiến thức, kĩ năng mới theo định hướng của giáo viên. Kết
quả của việc trả lời, việc giải bài tập là nắm vững kiến thức, đồng thời nắm vững phương
pháp học, tư duy phát triển, tạo được cách học tập tích cực, tự lực.
Trong chuyên đề này, chủ yếu chỉ tập trung vào việc bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu
hỏi để tổ chức hoạt động học tập, nghĩa là sử dụng câu hỏi để hướng dẫn học sinh hoạt động
khám phá kiến thức và kĩ năng mới, nên không đi sâu vào việc sử dụng câu hỏi để củng cố,
hoàn thiện hệ thống hoá kiến thức cũng như để kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Để góp
phần đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh, nhằm
nâng cao hiệu quả trong dạy học sinh học.