khóa luận tốt nghiệp phát triển hệ thống phân phối hàng hoá việt nam trong điều kiện hội nhập wto - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI HÀNG HOÁ VIỆT
NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP WTO

Hà Nội – 11/2006 1
Lời Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập với kinh tế khu vực và
thế giới đang đặt nền kinh tế nước ta trước những cơ hội mới, đồng thời đối diện với
những thách thức to lớn không những trên thị trường quốc tế nói chung mà ngay cả
trên thị trường trong nước.
Trong cuộc cạnh tranh này, hệ thống phân phối hàng hóa với vai trò liên kết
giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, có tác động trực tiếp đến lợi nhuận của nhà
sản xuất và lợi ích của người tiêu dùng nên bản thân hệ thống phân phối hàng hóa
đã và đang trở thành lĩnh vực kinh doanh mang tính cạnh tranh cao độ. Cùng với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động
trong lĩnh vực phân phối phải đương đầu với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp
nước ngoài không chỉ mạnh về tiềm lực kinh tế mà còn rất dày dạn kinh nghiệm.
Mặt khác, hệ thống phân phối hệ thống phân phối hàng hóa đang phát triển ở nước
ta ngày càng làm cho quá trình chuyển dịch hàng hóa gắn liền với nhu cầu thực tế
của thị trường, giúp người sản xuất có những điều chỉnh thích hợp. Vì thế, bằng
việc định hình và tăng cường hiệu quả cho các hệ thống phân phối hàng hóa, nhà
nước sẽ tạo lập nên những cầu nối để dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu
cầu thị trường, qua đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại nói riêng và nền kinh

một số tỉnh thành phố lớn điển hình. Đề tài có mở rộng nghiên cứu hệ thống phân
phối hàng hóa ở một số nước như Trung Quốc, Thái Lan dưới góc độ là bài học
kinh nghiệm để ứng dụng vào thực tế xây dựng và phát triển hệ thống phân phối ở
Việt Nam. Do giới hạn về thời gian và phạm vi nghiên cứu nên đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu hệ thống phân phối qua hai kênh phân phối truyền thống (chợ và cửa
hàng truyền thống) và hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi).
Trong đó siêu thị đang là lĩnh vực kinh doanh bán lẻ nhạy cảm chịu nhiều tác động
trực tiếp nhất khi Việt Nam mở của thị trường phân phối. Do đó đề tài sẽ tập trung
sâu vào phân tích thực trạng của hoạt động siêu thị hiện nay ở nước ta, đồng thời
nghiên cứu các loại hình phân phối khác ở một mức độ nhất định để từ đó có thể
đưa ra các giải pháp phát triển chung cho hệ thống phân phối Việt Nam từ nay tới
năm 2010. 3
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài khóa luận ngoài việc sử dụng những phương pháp truyền thống như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, liệt kê, thống kê, đối chiếu và so sánh; còn sử
dụng tới những phương pháp hiện đại khác như: phiếu điều tra xã hội học, phỏng
vấn trực tiếp khách hàng và nhân viên tại các siêu thị, các hộ gia đình tại Hà Nội.
5. Bố cục của đề tài
Đề tài được kết cấu làm 3 chương với nội dung như sau
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hệ thống phân phối hàng hóa
Chương 2: Thực trạng hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam
đến năm 2010.
Để hoàn thành tốt được khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Bình, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian
làm khoá luận, Thạc Sỹ Võ Văn Quyền – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thị trường
trong nước và anh Phan Hữu Việt Đức – chuyên viên Vụ Chính sách thị trường

Hệ thống phân phối hàng hóa là một chuỗi các mối quan hệ giữa các tổ chức
liên quan trong quá trình mua và bán hàng hóa. Mỗi doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh chắc chắn phải tham gia vào một hoặc một số hệ thống phân phối hàng
hóa nhất định.
Mỗi hệ thống phân phối hàng hóa thông qua các dòng vận động (dòng chảy)
để đảm bảo hàng hóa đến được địa điểm tiêu dùng như: chuyển quyền sở hữu, đàm
phán, vận động vật chất của hàng hóa, thanh toán, thông tin, xúc tiến đặt hàng, chia 1
Nguồn: Trần Minh Đạo (2002), Giáo trình marketing căn bản, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.
2
Nguồn: Lê Trinh Minh Châu (2004), Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập, Nhà xuất bản Lý Luận Chính Trị, Hà Nội 5
sẻ rủi ro, tài chính, thu hồi, tái sử dụng lại bao gói. Các dòng chảy này kết nối các
thành viên của hệ thống phân phối với nhau
Các hệ thống phân phối hàng hóa có sự phân công lao động và chuyên môn
hóa trong từng hệ thống lẫn tầm vĩ mô. Các tổ chức kinh doanh nhất định chuyên
môn hóa một hoặc một số công việc phân phối nhất định. Sở dĩ những trung gian
thương mại hoặc tổ chức bổ trợ khác được sử dụng để thực hiện công việc phân
phối bởi họ thực hiện các chức năng phân phối hiệu quả hơn so với các nhà sản xuất.
Hàng hóa lưu thông trong các hệ thống phân phối hàng hóa thông qua cơ chế
“kéo đẩy”. Cơ chế “kéo” nghĩa là các doanh nghiệp dùng các biện pháp tác động
vào nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng để tạo nên lực hút hàng hóa ra thị trường.
Cơ chế “đẩy” là việc doanh nghiệp sử dụng các biện pháp thúc đẩy hệ thống phân
phối tăng cường hoạt động tiêu thụ, tạo thành lực đẩy hàng hóa ra thị trường
2. Vai trò của hệ thống phân phối

bán buôn, bán lẻ để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.
Mâu thuẫn thư hai lá sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng.
Thông thường, việc sản xuất thường tập trung lại một địa điểm nhất định, còn tiêu
dùng lại phân bổ rộng khắp, hoặc ngược lại.
Tạo sự ăn khớp về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng đòi hỏi phải tối thiểu
hóa tổng số các trao đổi. Sự xuất hiện cấu trúc hệ thống phân phối hàng hóa nhiều
cấp độ với các trung gian thương mại chính là để giảm tổng số các trao đổi và tạo
điều kiện vận chuyển sản phẩm với khối lượng lớn ở cự ly dài, nhờ đó giảm chi phí
vận chuyển.
Mâu thuẫn thứ ba lá sự khác biệt về thời gian do thời gian sản xuất và thời
gian tiêu dùng không trùng khớp. Vì sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian
với nhu cầu tiêu dùng nên đã nảy sinh nhu cầu dự trữ hàng hóa. Sự ăn khớp về thời
gian giữa sản xuất và tiêu dùng được giải quyết thông qua dòng chảy sản phẩm của
các kênh lưu thông và dự trữ hàng hóa trong hệ thống phân phối hàng hóa đảm bảo
đúng thời gian mong muốn của khách hàng.
Ngoài ba vấn đề cơ bản trên, trong nền kinh tế còn chứa đựng nhiều mâu
thuẫn khác như sự khác biệt về thông tin và giá trị, sự khác biệt về quyền sở hữu…
Sơ đồ1.1 thể hiện khái quát vai trò của hệ thống phân phối hàng hóa giải
quyết những vấn đề khác biệt và mâu thuẫn của nền kinh tế thị trường. 7

(2) Vai trò của hệ thống phân phối hàng hóa đối với việc tạo lập và nâng cao sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp
Các quyết định về hệ thống phân phối hàng hóa đã và đang trở thành những
chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, là một công cụ cực kỳ quan trọng và phức
tạp trong chiến lược marketing hỗn hợp của doanh nghiệp.
Hệ thống phân phối giúp doanh nghiệp đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm,
đảm bảo hoạt dộng kinh doanh phát triển bền vững, tạo lập được lợi thế cạnh tranh

lợi thế cạnh tranh so với những doanh nghiệp không tiến hành liên kết bằng những
hình thức giá cả cao hơn, chi phí thấp hơn hoặc ít rủi ro hơn.
Các doanh nghiệp của Việt Nam nếu tạo dựng được cho mình những hệ thống
phân phối hàng hóa hiệu quả cũng có nghĩa là tạo lập được lợi thế cạnh tranh, đảm
bảo cho lợi ích của mình trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khi nước ta thực
hiện các cam kết hội nhập kinh tế vào khu vực và thế giới.
3. Phân loại hệ thống phân phối hàng hóa
4

Theo mức độ liên kết giữa các thành viên, hệ thống phân phối hàng hóa phân
thành hệ thống phân phối truyền thống và hệ thống marketing liên kết dọc (Vertical
marketing system-VMS)
Hệ thống phân phối truyền thống: là hệ thống phân phối hình thành một cách
ngẫu nhiên tự phát. Đó là một mạng lưới rời rạc, kết nối một cách lỏng lẻo các nhà
sản xuất, bán buôn, bán lẻ hoạt động độc lập có hoạt động buôn bán trực tiếp với
nhau. Nhược điểm của các hệ thống phân phối này là các quan hệ buôn bán thường
không liên tục và ổn định, thiếu sự lãnh đạo tập trung, hiệu quả hoạt động kém và
có nhiều xung đột tai hại
Hệ thống phân phối liên kết dọc: là hệ thống phân phối hàng hóa có chương
trình trọng tâm và quản lý chuyên nghiệp được thiết kế nhằm đạt hiệu quả phân
phối cao và ảnh hưởng tối đa tới thị trường. Các thành viên trong hệ thống phân 4
Nguồn: Lê Trinh Minh Châu (2004), Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập, Nhà xuất bản Lý Luận Chính Trị, Hà Nội 9
phối có sự liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất. Sử dụng

5
Nguồn: Lê Trinh Minh Châu (2004), Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập, Nhà xuất bản Lý Luận Chính Trị, Hà Nội 10
trung gian thương mại mới. Do vậy, hệ thống phân phối hàng hóa phải được điều
chỉnh cho phù hợp với những thay đổi đó. Để phát triển hệ thống phân phối hàng
hóa hiệu quả, các doanh nghiệp và các cấp quản lý cần phân tích đầy đủ những yếu
tố này. Những yếu tố tác động tới sự phát triển của hệ thống phân phối hàng hóa
gồm có yếu tố môi trường vĩ mô và yếu tố môi trường vi mô.
4.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô
Các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm tất cả các yếu tố môi trường quốc gia
và quốc tế như: tự nhiên, kinh tế, xã hội- văn hóa, chính trị- luật pháp, công nghệ…
đều ảnh hưởng và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển và hoạt dộng
của các hệ thống phân phối hàng hóa trên thị trường.
Cụ thể như, khi nền kinh tế suy thoái, nhà sản xuất thường sử dụng các hệ
thống phân phối hàng hóa ngắn và bỏ bớt những dịch vụ không cần thiết làm giá
bán tăng.
Những quy định và ràng buộc pháp lý cũng ảnh hưởng đến kiểu hệ thống phân
phối. Luật pháp ngăn cản việc phát triển các hệ thống phân phối có xu hướng triệt
tiêu cạnh tranh và tạo dộc quyền.
Sự phân bố lại dân cư cũng kéo theo sự thay đổi của hệ thống phân phối hàng
hóa
Sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng internet đã tạo điều kiện cho
sự phát triển các loại hệ thống phân phối hàng hóa sử dụng các hình thức thương
mại điện tử. Các doanh nghiệp có thể cải thiện dòng thông tin của hệ thống phân
phối nhờ các phương thức truyền tin qua mạng. Các doanh nghiệp có thể sử dụng
internet để quảng bá cho sản phẩm. Một số doanh nghiệp kinh doanh trong những
ngành hàng nhất định có thể phát triển các hệ thống bán hàng trực tiếp qua mạng

hệ thống phân phối hoàn toàn khác với hệ thống của đối thủ cạnh tranh. Nhìn chung,
cạnh tranh càng mạnh thì nhà sản xuất càng cần những hệ thống phân phối có sự
liên kết chặt chẽ
Đặc điểm của chính các doanh nghiệp sản xuất: gồm sức mạnh về tài chính,
tập hợp sản phẩm, các hệ thống phân phối truyền thống, những chính sách
marketing hiện tại cũng là căn cứ quan trọng khi phát triển hệ thống phân phối của
họ. Quy mô của doanh nghiệp sẽ quyết định quy mô thị trường và khả năng của 12
doanh nghiệp tìm được những thành viên phân phối thích hợp. Dòng sản phẩm của
doanh nghiệp có ảnh hưởng tới kiểu hệ thống phân phối. Chiến lược marketing khác
nhau thì kiểu hệ thống phân phối doanh nghiệp sử dụng cũng khác nhau.
II. Các nội dung liên quan tới hệ thống phân phối
1. Cấu trúc hệ thống phân phối hàng hóa
6

Cấu trúc hệ thống phân phối hàng hóa mô tả tập hợp mỗi thành viên của hệ
thống phân phối và các công việc phân phối được phân chia cho họ.
Có ba yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến cấu trúc hệ thống hàng hóa là: chiều dài
của hệ thống phân phối; chiều rộng của hệ thống phân phối; các loại trung gian ở
mỗi cấp độ của hệ thống phân phối.
Chiều dài của hệ thống phân phối được xác định bởi số cấp độ trung gian có
mặt trong hệ thống phân phối. Khi số cấp độ trung gian trong hệ thống tăng lên, hệ
thống này đương nhiên sẽ tăng lên về chiều dài. Ví dụ: Hệ thống phân phối từ người
sản xuất – người bán buôn – người bán lẻ - người tiêu dùng, rõ ràng là dài hơn hệ
thống phân phối từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Chiều rộng của hệ thống phân phối biểu hiện ở số lượng trung gian ở mỗi cấp
độ trung gian
Các loại trung gian ở mỗi cấp độ của hệ thống phân phối

Hệ thống phân phối D là hệ thống dài nhất, còn gọi là hệ thống phân phối ba
cấp, được nhiều nhà sản xuất và nhà bán lẻ nhỏ sử dụng. Ở đây, đại lý được sử dụng
để tập hợp hàng hóa và phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn. Một số
doanh nghiệp lớn kinh doanh trên phạm vi thị trường rộng lớn cũng có thể sử dụng
các đại lý trên các khu vực thị trường để đảm nhiệm cung cấp hàng hóa cho các khu
vực thị trường đó.
Người SX (NK)
Người SX (NK)
Người SX (NK)
Người SX (NK)
Đại lý
Người bán buôn
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Sơ đồ 1.2 Các hệ thống phân phối hàng hóa tiều dùng cá nhân phổ biến
B
A
C
D 14
Các hệ thống phân phối hàng hóa cho tiêu dùng công nghiệp do số lượng
khách hàng ít và quy mô khách hàng lớn nên thường có ít cấp trung gian hơn (Sơ đồ

Nhà PPCN

Người SDCN

Nhà PPCN
Người SDCN
Người SDCN

Người SDCN

A
Sơ đồ 1.3 Các hệ thống phân phối hàng hóa cho công nghiệp phổ biến
B
C
D 15
(2) Theo chủng loại mặt hàng bán, thì có các dạng sau: cửa hàng chuyên
doanh; cửa hàng bách hóa tổng hợp; siêu thị; cửa hàng bán hàng tiêu dùng thường
ngày
(3) Theo giá bán, thì có các dạng sau: cửa hàng hạ giá; các kho – cửa hàng;
các cửa hàng giới thiệu sản phẩm bán theo catalog.
(4) Theo tính chất phục vụ thương mại thì có các dạng sau: bán lẻ qua đơn đặt
hàng qua bưu điện hay điện thoại; máy bán hàng tự động; phục vụ đơn đặt hàng có
chiết khấu; bán hàng lưu động.
(5) Theo hình thức sở hữu cửa hàng, thì có các dạng sau:
Cửa hàng bán lẻ độc lập: cửa hàng bán lẻ độc lập do một cá nhân làm chủ và
tự quản lý
Chuỗi tập đoàn bán lẻ: chuỗi tập đoàn bán lẻ thường gồm nhiều cửa hàng bán

mình ít dịch vụ hơn, bao gồm: nhà bán buôn bằng tiền mặt và không vận chuyển
hàng; nhà bán buôn chào hàng không chỉ bán mà trước hết còn tự vận chuyển hàng
đến chỗ người mua; nhà bán buôn- ký; các hợp tác xã sản xuất nông sản; nhà bán
buôn qua bưu điện.
(2) Các nhà môi giới và đại lý
Các nhà môi giới và đại lý khác với các nhà bán buôn thực sự ở hai chỉ tiêu:
Họ không giành lấy quyền sở hữu hàng hóa và chỉ làm một số chức năng phân phối
nhất định. Chức năng cơ bản của họ là hỗ trợ việc mua bán, qua đó hưởng một tỷ lệ
phần trăm trên doanh số bán.
Các nhà môi giới
Chức năng cơ bản của các nhà môi giới là đưa người mua đến với người bán và
giúp họ thỏa thuận với nhau. Người nào sử dụng môi giới sẽ phải trả tiền cho họ.
Nhà môi giới không dự trữ hàng hóa, không tham gia vào việc cấp vốn cho các
thương vụ, không gánh chịu một sự rủi ro nào.
Đại lý
Đại lý đại diện cho người mua và người bán trên cơ sở lâu dài, họ cũng thực hiện
nhiều chức năng phân phối hơn, có trách nhiệm và quyền lợi hơn so với các môi 17
giới. Các đại lý có thể chia ra làm nhiều dạng như: Đại lý của các nhà sản xuất, đại
lý độc quyền tiêu thụ, đại lý thu mua và các nhà bán buôn ăn hoa hồng.
(3) Các chi nhánh và đại diện bán của nhà sản xuất
Loại hình này do chính những người mua và người bán tự xúc tiến mua bán,
không thu hút những người bán buôn độc lập. Có hai loại hính xí nghiệp thực hiện
hoạt động này, bao gồm: bộ phận và văn phòng tiêu thụ; văn phòng thu mua
(4) Những nhà bán buôn chuyên doanh
Trong một số ngành kinh tế có những tổ chức bán buôn chuyên doanh riêng,
như: các nhà bán buôn nông sản; những cơ sở bán buôn xăng dầu…
3. Tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa

doanh nghiệp bán lẻ, bởi lẽ nếu không lựa chọn thị trường mục tiêu và không xác
định tính chất đặc điểm của nó thì doanh nghiệp không thể thông qua được những
quyết định tiếp theo cần tương hợp với nhau về chủng loại hàng hóa, cách trang trí
cửa hàng, nội dung quảng cáo, giá cả…
Quyết định về chủng loại hàng hóa và dịch vụ
Nhà bán lẻ phải quyết định về ba yếu tố quan trọng có liên quan đến sản phẩm:
chủng loại hàng hóa họ bán, hỗn hợp các dịch vụ khách hàng và bầu không khí của
cửa hàng.
Chủng loại hàng hóa mà doanh nghiệp bán lẻ bán phải phù hợp với ý đồ mua
sắm của thị trường mục tiêu. Thực tế đây là yếu tố có tính chất quyết định trong
cuộc cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ cùng loại với nhau. Đồng thời, họ cũng phải
quyết định về chất lượng hàng hóa bởi vì khách hàng quan tâm đến chất lượng khi
lựa chọn mua
Các doanh nghiệp bán lẻ còn phải quyết định về hỗn hợp dịch vụ dành cho
khách hàng như giao nhận tận nhà, bán chịu, bảo hành, sửa chữa…
Bầu không khí của cửa hàng là yếu tố thứ ba dùng để cạnh tranh của nhà bán
lẻ. Mỗi cửa hàng đều có cách trưng bày hàng hóa riêng để hấp dẫn khách hàng, tạo
ra một cảm giác riêng của khách hàng
Quyết định về giá bán 8
Nguồn: Philip Kotler, Marketing căn bản, Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải, Hà Nội
19
Giá cả là yếu tố cạnh tranh chủ yếu gắn liền với chất lượng hàng hóa và các
dịch vụ kèm theo. Giá bán lẻ được xác định trên cơ sở giá mua vào cộng với chi phí
của nhà bán lẻ, vì vậy muốn giảm giá bán phải giảm được chi phí mua vào. Nhà bán

Quyết định về giá cả
Cách định giá của doanh nghiệp bán buôn thường dựa trên giá mua cộng thêm
chi phí và lợi nhuận cho họ, kết hợp với nhiều phương pháp định giá khác như: định
giá kết hợp với chiết khấu hoa hồng.
Quyết định về xúc tiến hỗn hợp
Đa số các doanh nghiệp bán buôn không quan tâm nhiều đến hoạt động xúc
tiến. Họ thường thực hiện các chương trình quảng cáo hạn chế và các phương pháp
bán hàng trực tiếp.
Quyết định về địa điểm
Các doanh nghiệp bán buôn thường đặt địa điểm ở nơi giá rẻ, thuế thấp và chi
phí rất ít cho trưng bày hàng cũng như văn phòng. Họ thường quan tâm đến xây
dựng những khu kho hiện đại được tự động hóa.
3.3 Lựa chọn các hình thức liên kết trong hệ thống phân phối
9

3.3.1 Hình thức phân phối liên kết dọc tập đoàn
Liên kết dọc tập đoàn là sự kết hợp các giai đoạn sản xuất và phân phối về
cùng một chủ sở hữu. Theo hình thức này, Các nhà phân phối có thể phát triển các
cơ sở sản xuất để cung cấp hàng cho họ. Tổng công ty xăng dầu là một ví dụ về
kênh tập đoàn khi họ sở hữu toàn bộ hệ thống từ nhập khẩu đến bán buôn và bán lẻ.
Trong các hệ thống phân phối tập đoàn, sự hợp tác và giải quyết xung đột được thực
hiện qua mệnh lệnh hành chính và quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.
3.3.2 Hình thức phân phối liên kết dọc hợp đồng
Theo hình thức này, các doanh nghiệp tham gia hệ thống phân phối ký kết các
bản hợp đồng, trong đó chỉ rõ trách nhiệm thực hiện các công việc phân phối của
mỗi người và lợi ích họ sẽ nhận được. Trên thị trường thế giới hiện nay, hình thức 9
Nguồn: Lê Trinh Minh Châu (2004), Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội

chủ quyền trong kinh doanh trên một khu vực thị trường.
Có ba loại hình thức phân phối đặc quyền kinh tiêu phổ biến nhất là: hình thức
đặc quyền kinh tiêu của người bán lẻ do nhà sản xuất bảo trợ; hình thức đặc quyền 22
kinh tiêu của người bán buôn do nhà sản xuất bảo trợ; hình thức đặc quyền kinh tiêu
bán lẻ do công ty dịch vụ bảo trợ.
3.3.3 Hình thức phân phối liên kết dọc được quản lý
Hình thức phân phối liên kết dọc được quản lý tạo ra sự liên kết giữa các
thành viên trong hệ thống nhờ khả năng chi phối của một thành viên trong hệ thống
phân phối tới hoạt động của những thành viên khác. Ví dụ, các nhà bán lẻ có thương
hiệu nổi tiếng có thể nhận được sự hợp tác kinh doanh mạnh mẽ từ những nhà sản
xuất. Những thành viên thành viên khác trong hệ thống sẵn sàng chấp nhận thực
hiện những chính sách phân phối do thành viên có sức mạnh lãnh đạo yêu cầu.
4. Hoạt động quản lý nhà nước đối với sự hình thành và phát triển hệ thống
phân phối hàng hóa
10

Mỗi nền kinh tế đều có một hệ thống các hệ thống phân phối hàng hóa vĩ mô
hoạt động rất phức tạp. Hoạt động thương mại của một nước thực chất được thể
hiện ở hoạt động của hệ thống phân phối hàng hóa vĩ mô. Các hệ thống phân phối
hàng hóa của vô số các doanh nghiệp đan xen vào nhau trên thị trường, chảy theo
nhiều chiều hướng với nhiều cường độ khác nhau. Các hệ thống phân phối hàng hóa
của các doanh nghiệp khác nhau vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau trên thị
trường. Nhà nước phải đảm bảo các điều kiện về môi trường kinh doanh để các hệ
thống phân phối hoạt động có hiệu quả, bảo vệ các dòng chảy hàng hóa hợp pháp,
hạn chế những dòng chảy hàng hóa tiêu cực, bất hợp pháp. Đặc điểm quản lý vĩ mô
của nhà nước đối với các hệ thống phân phối hàng hóa là không can thiệp trực tiếp
vào hoạt động phân phối của các doanh nghiệp và các hệ thống phân phối cụ thể mà

điều kiện hội nhập mở cửa thị trường
Để có được những bài học kinh nghiệm tốt ứng dụng vào việc phát triển hệ
thống phân phối Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO, sau đây đề tài sẽ nghiên
cứu kinh nghiệm của một số nước mà cơ cấu hệ thống phân phối của họ có nhiều
nét tương đồng với Việt Nam, đó là: Thái Lan và Trung Quốc.
Thực tế kinh nghiệm phát triển hệ thống phân phối của hai nước trên khi tiến
hành mở cửa thị trường chính là kinh nghiệm về việc mở cửa thị trường dịch vụ bán
lẻ và phát triển dịch vụ bán lẻ. Do đó, đề tài sẽ đi vào nghiên cứu các vấn đề sau:
khái quát về hệ thống bán lẻ, tác động của việc mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ và
chính sách của chính phủ hai nước Thái Lan và Trung Quốc. 24
1. Thái Lan
11

1.1 Khái quát hệ thống bán lẻ của Thái Lan
Cũng như ở các nước khác, hệ thống bán lẻ ở Thái Lan bao gồm hệ thống bán
lẻ truyền thống (hệ thống chợ và cửa hàng truyền thống) và hệ thống bán lẻ hiện đại
(đại siêu thị; siêu thị; cửa hàng tiện lợi; siêu thị bán buôn; các cửa hàng chuyên
doanh cao cấp; các cửa hàng chuyên doanh giá rẻ; các cửa hàng bách hóa). Cho đến
trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, hệ thống bán lẻ truyền thống vẫn chiếm
vị trí quan trọng, chiếm tới 70% tổng số thương mại của nước này, còn hệ thống
bán lẻ hiện đại chỉ chiếm 30%. Cho tới năm 2002 (sau 7 năm gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới) với việc mở cửa thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ, thị phần
của hệ thống bán lẻ truyền thống đã giảm xuống còn 46% so với hệ thống bán lẻ
hiện đại là 54%.
1.2 Tác động của việc mở cửa thị trường bán lẻ:
(1) Cơ hội
Sự góp mặt của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường phân phối đã làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status