Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3

2.
Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế quốc
dân nước ta.
4

3.
Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho
hoạt động xuất nhập khẩu.
4

3.1.
Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu.
4

3.2.
Nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
5

II.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương
mại.
7

1.
Khái niệm, bản chất của tín dụng.
7

2.

hàng.
11

2.4.1.
Việc hỗ trợ tài chính phải trên cơ sở thẩm định rõ khách hàng.
11

2.4.2.
Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn
cam kết.
11

2.4.3.
Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã cam kết khi
vay vốn, có hiệu quả kinh tế.
11
III.
Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân
hàng thương mại.
11
Lun vn tt nghip khoỏ 42 - H Ngoi thng H Ni
GVHD: Ts Trn Vit Hựng - SVTH: Trn Th Thu Hng - Lp A15K42D

1.
Ti tr trờn c s thng phiu.
11


1.
Nng lc cho vay ca ngõn hng thng mi
29

2.
Chớnh sỏch xut nhp khu ca Nh nc
29

3.
Mụi trng kinh t, chớnh tr, xó hi trong v ngoi nc
30

4.
Nng lc ca doanh nghip xut nhp khu
31
Chng II:
Thc trng hot ng tớn dng ti tr xut nhp khu ti
Ngõn hng u t v Phỏt trin Vit Nam
31

I.
Mt s nột khỏi quỏt v Ngõn hng u t v Phỏt trin
Vit Nam
31

1.
Lịch sử hình thành và phát triển
31

2.

5.
Nghiệp vụ thuê mua tài chính
51

III.
Kết quả hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của
Ngân hàng Đầu t- và Phát triển Việt Nam
53

1.
Những kết quả đạt đ-ợc trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu của BIDV
53

2.
Một số vấn đề tồn tại trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu của BIDV
54
Lun vn tt nghip khoỏ 42 - H Ngoi thng H Ni
GVHD: Ts Trn Vit Hựng - SVTH: Trn Th Thu Hng - Lp A15K42D

3.
Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động tín dụng tài trợ
xuất nhập khẩu của BIDV
56
Ch-ơngIII:
Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu tại ngân hàng Đầu t- và Phát triển Việt Nam
70


2.
Ph-ơng h-ớng đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu trong những năm tới của BIDV
81

III.
Một số giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu tại BIDV
82

1.
Đối với Ngân hàng Đầu t- và Phát triển Việt Nam
82

1.1.
Tăng c-ờng khả năng nguồn vốn
82

1.2.
Xây dựng chiến l-ợc, chính sách dài hạn để định h-ớng cho
hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV phát triển
83

1.3.
Đ-a ra các biện pháp hạn chế rủi ro trong tài trợ
85

1.4.
Đa dạng hoá các ph-ơng thức tài trợ
88

Hỗ trợ các ngân hàng tham gia tài trợ xuất nhập khẩu
96

3.
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
97

Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

1
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình phát triển xây dựng kinh tế đất nước, Đảng và Nhà
nước ta rất coi trọng vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại. Mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại luôn là một trong những định hướng phát triển hàng đầu
của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xác định được tầm quan trọng của hoạt động ngoại thương, chúng ta phải
tìm cách thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển nhằm phát huy tối đa vai trò
của hoạt động này đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Trong điều kiện của một
nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay thì một trong những biện pháp quan
trọng và hiệu quả nhất là tài trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu bởi
yếu tố vốn là nền tảng căn bản để tiến hành sản xuất kinh doanh. Trong khi đó,
thực lực về vốn của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp và vay vốn ngân hàng
luôn là giải pháp hàng đầu đối với các doanh nghiệp.
Nhận thức được vấn đề này, trong thời gian qua Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV)- một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn
nhất nước ta hiện nay, luôn quan tâm phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu với nhiều sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú. Tuy nhiên,
do gặp nhiều khó khăn xuất phát từ phía khách quan và chủ quan mà hoạt động tài
trợ xuất nhập khẩu của BIDV chưa phát huy hết hiệu quả. Đó cũng là lý do người

Chƣơng III: Một số giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Để có thể hoàn thành khoá luận này, người viết xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo- TS. Trần Việt Hùng cùng
sự giúp đỡ quý báu của các cán bộ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Do còn những hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, khoá
luận chắc chắn không tránh khỏi có nhiều thiếu sót. Người viết rất mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận được hoàn
chỉnh hơn.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

3
CHƢƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
I. Sự cần thiết khách quan của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền
kinh tế và một số vấn đề đặt ra trong hoạt động xuất nhập khẩu.
1. Hoạt động xuất nhập khẩu là một tất yếu khách quan trong nền kinh
tế.
Sự phát triển của các hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó có hoạt động xuất
nhập khẩu của mỗi nước trở thành một lĩnh vực phong phú và đa dạng của nền
kinh tế quốc dân- một thực thể khách quan của nền kinh tế.
Thế giới đang bước vào một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế tri thức.
Loài người đang đứng trước một sự lựa chọn là phải thay thế hệ thống công nghệ
hiện nay hoặc sẽ bị tiêu diệt. Để tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa trong cộng
đồng kinh tế thế giới, đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như Việt
Nam, đặc trưng này vừa tạo ra những thách thức, nguy cơ mới, vừa tạo ra khả

tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Đồng thời, với việc nghiên cứu thị trường
ngoài nước, hoạt động xuất nhập khẩu hướng dẫn, khuyến khích phát triển sản
xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu;
- Xuất nhập khẩu góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân;
- Xuất nhập khẩu góp phần làm tăng thu ngoại tệ và tăng tích luỹ cho Nhà
nước;
- Đối với quốc phòng và bảo vệ an ninh Tổ quốc, thông qua nhập khẩu góp
phần thoả mãn nhu cầu vật chất của quốc phòng;
- Xuất nhập khẩu góp phần thực hiện đường lối mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, đường lối ngoại giao của Đảng và Nhà nước.
3. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho hoạt
động xuất nhập khẩu.
3.1. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

5
Liên quan đến phương tiện tài trợ ngoại thương, những rủi ro trong hoạt
động xuất nhập khẩu quyết định trước hết khả năng tài trợ thuần tuý, bên cạnh đó
quyết định cả chi phí cho việc tài trợ. So sánh với nội thương, trong ngoại thương
nảy sinh thêm nhiều rủi ro mà các rủi ro nhỏ nhất theo thông lệ thường bắt nguồn
từ các khoảng cách lớn hơn, đó là những trật tự kinh tế xã hội và luật pháp ở các
nước xa lạ, cũng phát sinh cả từ rào cản về ngôn ngữ.
Các loại rủi ro xuất hiện trong hoạt động xuất nhập khẩu gồm:
- Rủi ro về khả năng thanh toán: vì có ít thông tin hơn và thông tin khó đánh
giá hơn về khả năng thanh toán của khách hàng và địa vị của họ trên thị trường ở
trong nước họ. Các rủi ro người nhận hàng không thanh toán vì lý do không muốn
thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán.
- Rủi ro về tiêu thụ: Bên cạnh rủi ro về thanh toán, người bán hàng còn phải
chịu rủi ro về tiêu thụ.
- Rủi ro về vận chuyển: những khoảng cách thường rất xa trong ngoại

vì thường giai đoạn này phát sinh rất nhiều chi phí nếu bằng vốn tự có của mình
nhà xuất khẩu không đủ khả năng để trang trải.
- Giai đoạn sản xuất: ở giai đoạn này cũng sẽ nảy sinh nhu cầu tài chính cao
về vật tư và lương cho công nhân sản xuất.
- Cung ứng: cả quá trình cung ứng cũng có thể phát sinh chi phí về vận tải
và bảo hiểm tuỳ theo điều kiện cung ứng.
- Mục tiêu thanh toán: phạm vi chủ yếu của việc tài trợ xuất khẩu chính
trong giai đoạn này. Không có sự giúp đỡ của các ngân hàng và bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu, cả các công ty mạnh về tài chính cũng không thể đáp ứng được toàn bộ
nhu cầu tài trợ này.
3.2.2. Nhu cầu tài trợ của nhà nhập khẩu.
Giống như ở phía nhà xuất khẩu, ở phía nhà nhập khẩu cũng hình thành nhu
cầu tài trợ nhiều mặt:
- Trước khi ký hợp đồng
- Ký hợp đồng: nhu cầu tài trợ cho các khoản đặt cọc
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

7
- Thời gian sản xuất và hoàn thành công trình: có thể phải thanh toán các
khoản giữa chừng
- Cung ứng và vận chuyển hàng hoá: nhu cầu tài trợ cho các phí tổn và vận
tải và bảo hiểm
- Nhận hàng hoá: nhu cầu tài trợ thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Các ngân hàng thương mại với chức năng và đặc điểm trong hoạt động kinh doanh
của mình là nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu.
II. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thƣơng mại.
1. Khái niệm, bản chất của tín dụng.
Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ Latin CREDITIUM với nghĩa là tin
tưởng, tín nhiệm.
Trong từ điển tiếng Việt 1997 thì “Tín dụng” được định nghĩa là sự vay

trường tiêu thụ hàng hoá, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng
nhập khẩu hoặc đủ vốn để thu mua, chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan
hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của ngân hàng.
Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, phức tạp nên
những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của các ngân hàng thương mại
(NHTM). Ngân hàng đem lại cho các nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết về
kĩ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực quan trọng này. Có thể nói sự ra đời và
phát triển của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan, ra
đời gắn liền với các quan hệ giao dịch ngoại thương giữa các nước với nhau.
2.2. Bản chất và vai trò của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu.
Tài trợ xuất nhập khẩu được hiểu là sự chuẩn bị sẵn sàng những phương
tiện tài chính và thay thế về mặt tài chính (vay tín dụng) để hoàn tất nghĩa vụ
thanh toán và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như đảm bảo các quá
trình thanh toán liên quan. Từ đó có thể thấy bản chất của tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu của NHTM là sự vận động của giá trị vốn tín dụng dưới hình thái tiền
tệ hoặc hàng hoá trong xuất khẩu cả trong giai đoạn sản xuất và trong nhập khẩu
trên phương diện từ ngắn hạn đến dài hạn. Hay tín dụng tài trợ xuât nhập khẩu là
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

9
một mảng dịch vụ thuộc hệ thống tất cả các dịch vụ chuyên biệt của ngân hàng
nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Mảng dịch vụ này
có nét chung là ngân hàng cung ứng vốn bằng tiền hoặc bảo lãnh giúp cho các
doanh nghiệp gia tăng hiệu quả kinh doanh và thực hiện thương vụ thành công.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của ngoại thương cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước. Vai trò
của nó được thể hiện ở các mặt sau:
- Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện

hàng; đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc
người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mở tại ngân hàng. Do vậy,
tránh được tình trạng xoay vốn của doanh nghiệp.
- Hiệu quả của ngân hàng trong tài trợ xuất nhập khẩu thể hiện thông qua lãi
suất. Có nhiều loại lãi suất trong quá trình tài trợ: lãi suất cho vay thanh toán, lãi
suất chiết khấu chứng từ, lãi suất vay bắt buộc Tiền thu lãi cao vì thường giá trị
tài trợ ở mức vừa và lớn.
-Thông qua tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được các quan
hệ với các doanh nghiệp và với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của
ngân hàng trên trường quốc tế.
2.3.2. Đối với doanh nghiệp.
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện được
các thương vụ lớn.
- Nếu doanh nghiệp được sự giúp đỡ của ngân hàng về mặt tài chính và các
quan hệ thanh toán quốc tế thì sẽ tạo rất nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong
quá trình đàm phán, thương lượng ký kết hợp đồng ngoại thương.
- Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình
thực hiện hợp đồng.
- Tài trợ xuất nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng sản xuất,
mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, tăng
sức cạnh tranh của sản phẩm nhờ những đổi mới về trang thiết bị công nghệ từ
vốn tài trợ của ngân hàng.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

11
- Tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên trường quốc
tế.
2.3.3. Đối với nền kinh tế quốc dân.
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hàng
hoá xuất nhập khẩu lưu thông trôi chảy, hàng hoá xuất nhập khẩu theo nhu cầu của

1. Tài trợ trên cơ sở thương phiếu.
Thương phiếu bao gồm hối phiếu và kỳ phiếu, là công cụ thanh toán được
sử dụng hết sức phổ biến trong các giao dịch ngoại thương và thường xuất hiện
trong các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng hiện nay
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hối phiếu.
Năm 1930, hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Geneve, các nước
thành viên đã phê chuẩn Công ước về Luật hối phiếu, gọi là công ước Geneve
1930 về Luật hối phiếu thống nhất (Uniform Law for Bill of Exchange- Geneve
Convention 1930, ULB 1930).
Ngày nay, Luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các
nước châu Âu (ngoại trừ Anh). Nhiều nước khác mặc dù không tham gia công ước
Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương tự như ULB 1930.
Ngoài ra hai nước Mỹ và Anh cũng xây dựng riêng Luật về hối phiếu như: hệ
thống luật các nước thuộc khối Anglo-saxon dựa trên cơ sở Luật hối phiếu của
Anh( Bill of Exchange Act 1882)và Luật thương mại thống nhất của Mỹ(Uniform
Commercial Codes of 1962).
Tại Việt Nam, ngày 24/12/1999, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh số 17/1999/PL-UBTVQH10 về Thương phiếu có hiệu lực từ ngày
01/07/2000. Nhìn chung Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam được xây dựng
trên nền tảng của Công ước Geneve 1930.[2]
Các nước tham gia ký kết Công ước Geneve 1930 không đi đến việc thoả
thuận trong việc định ra khái niệm hối phiếu là gì để quy định trong ULB mà các
nước này thoả thuận dùng định nghĩa hối phiếu của Luật hối phiếu 1882 của Anh
làm dẫn chiếu trong khái niệm hối phiếu của ULB.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

13
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát
cho người khác yêu cầu ngưòi này khi nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày xác
định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc

đó nhà xuất khẩu cấp tín dụng thương mại ( bán hàng trả chậm) cho nhà nhập
khẩu nước ngoài dưới hình thức hối phiếu trả chậm do nhà xuất khẩu ký phát yêu
cầu người mua nước ngoài thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Để được ngân hàng
xem xét tài trợ chiết khấu, hối phiếu trả chậm này phải được nhà nhập khẩu ký
chấp nhận trước lên bề mặt hối phiếu, thừa nhận món nợ phải trả ( giá trị hối
phiếu) cho người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn thanh toán.
Kỹ thuật tài trợ chiết khấu hối phiếu khá đơn giản. Ngân hàng sẽ mua lại
quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp
pháp thể hiện trên bề mặt hối phiếu. Số tiền mua lại quyền thụ hưởng này chính là
mức tài trợ chiết khấu hối phiếu và được tính bằng phần còn lại của giá trị hối
phiếu sau khi trừ đi lãi chiết khấu cùng phí hoa hồng nghiệp vụ.
M
d
= M x [1- (r
d
x t/360)] – C
Trong đó: M
d
là mức tài trợ chiết khấu ngân hàng cấp cho khách hàng
M- mệnh giá hối phiếu
t- thời gian còn lại của hối phiếu
r
d
- lãi suất chiết khấu mà ngân hàng áp dụng
C- phí hoa hồng nghiệp vụ
Ta thấy rằng yếu tố quan trọng nhất trong cách tính mức tài trợ chiết khấu là
lãi suất chiết khấu ( r
d
). Lãi suất này do ngân hàng định kỳ công bố dựa theo lãi
suất cơ bản của ngân hàng trung ương và các lãi suất tài trợ đối chiếu khác. Trong

để trả tiền thì họ chỉ phải trả thủ tục phí chấp nhận còn nếu ngân hàng dùng vốn
của mình trả tiền thì nhà nhập khẩu còn phải trả lãi vay vốn.[1]
Một hình thức cũng tương đối phổ biến trong ngoại thương là tái chấp nhận
( Reimbursement Acceptance). Tái chấp nhận là một hình thức chấp nhận trong đó
người xuất khẩu không chuyển hối phiếu đến ngân hàng phục vụ người nhập khẩu
yêu cầu chấp nhận trả tiền mà chuyển đến một ngân hàng hạng nhất mà hai bên đã
thoả thuận yêu cầu chấp nhận.
1.2.3. Cho vay bằng “kỳ phiếu của nhà nhập khẩu”.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

16
Kỳ phiếu ( Promissory note) là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện
do người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc
theo lệnh của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu đó.[1]
Trong loại tài trợ này, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng đứng ra
thanh toán những hối phiếu của người xuất khẩu với điều kiện người nhập khẩu ký
phát kỳ phiếu trả tiền cho ngân hàng. Số tiền của kỳ phiếu lớn hơn số tiền của hối
phiếu, khoản chênh lệch này là lợi tức sinh ra kể từ ngày ngân hàng trả tiền hối
phiếu đến ngày trả tiền của kỳ phiếu.
2. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ.
2.1. Khái niệm phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ.
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán trong đó
người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho
khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua, không
những căn cứ vào hối phiếu do người bán ký phát mà còn căn cứ vào bộ chứng từ
gửi hàng kèm theo điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối
phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng để người mua đi nhận hàng.[1]
Ngân hàng xử lý nghiệp vụ nhờ thu chỉ trên cơ sở chứng từ và hoàn toàn
độc lập với giao dịch mua bán hàng hoá giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.
2.2. Các hình thức tài trợ của ngân hàng trên cơ sở phương thức nhờ thu

trợ cho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng tương đương với giá trị của khoản
chuyển nhượng. Nhưng giá trị của khoản chuyển nhượng này phụ thuộc rất lớn
vào khả năng thanh toán của người vay tín dụng vì không có sự bảo đảm chắc
chắn rằng các chứng từ của người phải thanh toán (nhà nhập khẩu) được chấp
nhận và nó phụ thuộc vào giá trị hàng hoá được thanh toán.
Khi xem xét yêu cầu tài trợ bộ chứng từ nhờ thu ngân hàng thường đặc biệt
quan tâm đến các yếu tố: uy tín của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, quy chế quản
lý hối đoái ở nước nhập khẩu, khả năng thanh lý hàng hóa nếu bị từ chối thanh
toán trong điều kiện D/P, việc chấp nhận thanh toán hối phiếu của nhà nhập khẩu
có được bảo lãnh hay không theo điều kiện D/A, bộ chứng từ có xác lập đầy đủ
quyền sở hữu với hàng hóa.
3. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

18
3.1. Khái niệm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Truyền thống thương mại quốc tế, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ ngoại
thương như hiện nay cho thấy uy tín và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu là
một trong những trở ngại lớn cho sự thành công của thương vụ. Do nhà xuất khẩu
thiếu thông tin về năng lực kinh doanh và tình hình tài chính bên mua cũng như do
sự khác biệt về môi trường kinh tế, chính trị, pháp lý, ngôn ngữ, văn hoá nên nhà
nhập khẩu rất khó thực hiện một phân tích tín dụng đầy đủ và chính xác, và vì thế
mà khó lòng bán hàng cho nhà nhập khẩu, đặc biệt là khi bán hàng trả chậm.
Để thuyết phục nhà xuất khẩu tin tưởng thực hiện giao hàng, nhà nhập khẩu
phải tìm kiếm một giải pháp nâng cao uy tín và khả năng thanh toán của mình một
cách chắc chắn trước đòi hỏi của nhà xuất khẩu. Phương thức tín dụng chứng từ ra
đời đáp ứng yêu cầu đó.
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó ngân hàng
theo yêu cầu của nhà nhập khẩu (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền
nhất định cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối

toán, theo quan hệ với ngân hàng và quyết định mức ký quỹ.
3.2.2. Xác nhận thư tín dụng.
Trong thực tế, có khi uy tín của ngân hàng phát hành vẫn chưa đủ cho nhà
xuất khẩu tin tưởng vào việc thanh toán tiền hàng, hoặc cũng có khi nhà xuất khẩu
cảm thấy lo ngại về rủi ro quốc gia của nhà nhập khẩu và ngân hàng phát hành.
Khi ấy nhà xuất khẩu có thể yêu cầu có thêm một cam kết thanh toán của một
ngân hàng khác, thường là một ngân hàng có uy tín cao, có hiệu lực pháp lý tương
đương với cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành L/C. Cam kết thanh toán
thứ hai dựa theo L/C phát hành này biểu hiện trong thực tế qua nghiệp vụ tài trợ
xác nhận L/C của ngân hàng ở nước xuất khẩu.
Xét về mặt bản chất, việc ký xác nhận vào L/C phát hành của ngân hàng ở
nước xuất khẩu là một nghiệp vụ bảo lãnh cho uy tín thanh toán của ngân hàng
phát hành, nghĩa là thuộc dạng tài trợ liên ngân hàng. Do nghiệp vụ xác nhận L/C
tạo nên một cam kết thanh toán của ngân hàng có hiệu lực tương đương cam kết
của ngân hàng phát hành nên mức phí xác nhận cũng được xác định ngang bằng
với phí cam kết phát hành L/C.
Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội

20
Khi thực hiện nghiệp vụ tài trợ này, ngân hàng xác nhận đã đảm nhận trước
nhà xuất khẩu tất cả rủi ro liên quan đến uy tín và khả năng thanh toán của nhà
nhập khẩu, của ngân hàng phát hành và cả rủi ro quốc gia của nhà nhập khẩu. Sự
phụ thuộc giữa các bên tham gia vào cơ chế giao dịch tín dụng chứng từ vừa là
một ưu thế nổi bật của cơ chế này, vừa là một cơ sở sản sinh rủi ro dây chuyền
đáng lo ngại. Chính vì thế, ngân hàng phải hết sức tỉnh táo trong việc xem xét yêu
cầu của nhà xuất khẩu cũng như của ngân hàng phát hành vê việc tài trợ xác nhận
L/C. Trong thực tế, ngân hàng xác nhận thường có mối quan hệ đại lý với ngân
hàng phát hành và có thể cấp cho ngân hàng phát hành một hạn mức tín dụng nhất
định, đó sẽ là một cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết định có nên bước vào giao
dịch xác nhận L/C hay không. Một số ngân hàng xác nhận cũng áp dụng những

xuất khẩu xuất trình, thời gian cho vay được tính bằng thời gian cần thiết trung
bình để đòi tiền từ nhà nhập khẩu, lãi được tính bằng lãi chiết khấu tính theo ngày.
Mức phí trong chiết khấu có truy đòi tất nhiên sẽ thấp hơn so với chiết khấu miễn
truy đòi do ngân hàng chịu ít rủi ro hơn.
3.2.4. Tài trợ bằng các loại L/C đặc biệt.
- Tài trợ trên cơ sở L/C chuyển nhượng (Transferable L/C): L/C chuyển
nhượng là L/C theo đó người hưởng lợi (người hưởng lợi thứ nhất) có thể yêu cầu
ngân hàng được uỷ quyền (ngân hàng chuyển nhượng) thực hiện việc trả tiền, cam
kết trả tiền sau, chấp nhận hoặc chiết khấu, hoặc trong trường hợp L/C được chiết
khấu tự do, ngân hàng được uỷ quyền trong L/C với vai trò là ngân hàng chuyển
nhượng sẽ phân bổ toàn bộ hay một phần L/C cho một hay nhiều người hưởng lợi
khác (người hưởng lợi thứ hai).[2]
Khi sử dụng L/C chuyển nhượng nhà xuất khẩu (người thụ hưởng gốc)
không cần phải đi vay hoặc sử dụng vốn của mình mua hàng từ nhà cung ứng. Do
đó có thể thấy L/C chuyển nhượng là một biện pháp hỗ trợ cho những nhà xuất
khẩu thiếu vốn hoặc khả năng tài chính eo hẹp.
- Tài trợ trên cơ sở L/C điều khoản đỏ (Red clause L/C): L/C điều khoản đỏ
là một loại L/C đặc biệt thuộc loại không thể huỷ ngang, được phát hành với một
điều khoản trong nội dung của nó cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho
nhà xuất khẩu một phần hoặc toàn bộ giá trị L/C theo các điều khoản quy định cụ
thể. Trong L/C điều khoản đỏ có ghi: trước ngày giao hàng x ngày cho phép người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status