MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 68

MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN
DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
I. KHÁI NIỆM TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan
trọng, thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường
tiêu thụ hàng hoá, thị trường đầu tư trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp không
phải lúc nào cũng đủ vốn thu mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh ra quan
hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của các ngân hàng.
Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp, nên
những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của ngân hàng đem lại cho các
nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết kỹ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh
vực quan trọng này.
Có thể nói sự ra đời của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu
khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước với
nhau. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của ngoại thương cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước. Cùng với
sự phát triển của ngoại thương và hệ thống ngân hàng, hoạt động hỗ trợ xuất nhập
khẩu của ngân hàng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú. Vậy ta thử tìm
hiểu xem tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là gì? Để hiểu rõ về tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu trước hết ta cần biết thế nào là tín dụng?
1.Khái niệm về tín dụng:
Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như: Bán
chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc.
Trong mỗi hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết như sau:
Một bên thì trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc còn bên kia cam kết sẽ hoàn
lại những đối khoản của số tài hoá đó trong một thời gian nhất định và theo một số
điều kiện nhất định.
Như vậy chúng ta có thể hiểu tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên

trang bị hiện đại với sự đáp ứng nhu cầu nhanh nhất.
3.Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu:
Tín dụng tài trợ xuất khẩu: là việc cung cấp cho vay để giúp doanh nghiệp
thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, chế biến hàng xuất khẩu.
Mục đích của tín dụng tài trợ xuất khẩu là đẩy mạnh sản xuất trong nước,
khuyến khích xuất khẩu. Đây còn là một kênh tái tạo ngoại tệ để phục vụ hoạt
động nhập khẩu của ngân hàng.
Tín dụng tài trợ nhập khẩu: là việc cung cấp các khoản vay (ngắn, trung,
dài hạn) để giúp doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu cần thiết phục vụ sản xuất
kinh doanh.
Mục đích của tín dụng tài trợ nhập khẩu là cho vay để giúp các doanh nghiệp
nhập nguyên liệu , vật tư, hàng hoá, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất…
II. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP
KHẨU.
1.Sự cần thiết khách quan của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh
tế.
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuất
trong nước mà còn giao dịch quan hệ với các nước khác. Do khác nhau về điều
kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu… nếu chỉ dựa vào sản xuất trong nước
không thể cung cấp đủ hàng hoá, dịch vụ đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ của
nền kinh tế mà phải nhập những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy
móc thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản
xuất với chi phí cao hơn. Ngược lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng và những lợi
thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước còn có thể
tạo nên thặng dư có thể xuất khẩu sang các nước khác, góp phần tăng ngoại tệ cho
đất nước để nhập khẩu các mặt hàng còn thiếu và để trả nợ.
Như vậy, do nhu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi, giao
dịch hàng hoá giữa các nước với nhau hay nói cách khác hoạt động xuất nhập khẩu
là yêu cầu khách quan của nền kinh tế.
2.VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU.

thanh toán phải thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân hàng. Đối
với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc người nhập
khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mở tại ngân hàng. Do vậy nguồn thu để
trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản lý hết sức chặt chẽ, tránh được tình trạng
quay vòng vốn của doanh nghiệp trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi, dễ xảy ra
rủi ro.
Hiệu quả của ngân hàng trong tài trợ xuất nhập khẩu thể hiện qua lãi suất. Có
nhiều loại lãi suất trong quá trình tài trợ: lãi cho vay thanh toán, lãi chiết khấu
chứng từ, lãi vay bắt buộc (bằng mức lãi quá hạn)… Tiền thu lãi cao thường vì giá
trị tài trợ ở mức vừa và lớn. Ngoài ra, thông qua tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng
còn mở rộng được mối quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài,
nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường quốc tế.
2.3. Đối với doanh nghiệp
Nhờ sự giúp đỡ của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường, mở rộng sản
xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp
đồng thời hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình
thực hiện hợp đồng. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh
nghiệp mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp mua được những
lô hàng lớn, giá hạ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Tín dụng ngân hàng làm giảm rủi ro của hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt động
xuất nhập khẩu thường diễn ra ở hai nước khác nhau. Do vậy, sự hiểu biết giữa
người mua và người bán không được đầy đủ, chính xác. Nhờ sử dụng tín dụng
ngân hàng, Nhà nhập khẩu và xuẩt khẩu sẽ yên tâm nhận đúng số tiền, hàng của
mình thông qua các ngân hàng trung gian đứng ra bảo đảm.
Đặc biệt, nhờ tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện được những thương
vụ lớn. Vốn tài trợ của ngân hàng kịp thời, đúng lúc giúp cho doanh nghiệp đảm

hộ cho khách, cho thuê các phương tiện giữ tiền, kinh doanh chứng kkhoán…
Ngoài các hoạt động dựa trên đồng nội tệ, ngân hàng còn thực hiện các
nghiệp vụ ngân hàng quốc tế liên quan đến đồng ngoại tệ.
Hoạt động ngân hàng quốc tế gồm rất nhiều hình thức như thanh toán quốc
tế, bảo lãnh vay, trả nợ nước ngoài, tài trợ xuất nhập khẩu, tham gia vào thị trường
ngoại hối, tín dụng quốc tế… Thực chất hoạt động ngân hàng quốc tế cũng là các
hoạt động kinh doanh tiền tệ đã nêu ở trên nhưng với phạm vi mở rộng khỏi biên
giới quốc gia và hoà nhập, giao dịch với các ngân hàng khác trên thế giới.
3.2. Mối quan hệ giữa hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh doanh
đối ngoại của Ngân hàng Thương mại
Trong hoạt động xuất khẩu cũng diễn ra quá trình sản xuất, lưu thông hàng
hoá như các ngành kinh tế với mục đích cuối cùng là thực hiện giá trị hàng hoá. Nó
chỉ có điểm khác biệt là việc mua bán diễn ra giữa các đối tác có quốc tịch khác
nhau, hàng hoá được vận chuyển từ nước này sang nước khác, đồng tiền thanh toán
có thể là ngoại tệ. Chính vì vậy khâu cuối cùng của hoạt động xuất nhập khẩu là
khâu thanh toán cũng có những điểm khác với thanh toán trong nước thực hiện trên
cơ sở sau:
Người xuất khẩu và người nhập khẩu ký kết hợp đồng mua bán ngoại
thương trong đó quy định các điều kiện về thanh toán quốc tế:
- Điều kiện về thời gian.
- Điều kiện về địa điểm.
- Điều kiện về phương thức thanh toán.
Trên cơ sở đó, người xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng, sau đó sẽ ký phát hối
phiếu, séc của người nhập khẩu gửi đến ngân hàng nước mình nhờ thu hộ tiền ghi
trên các phương tiện thanh toán đó. Các ngân hàng này chuyển các phương tiện
thanh toán đến các ngân hàng nước nhập khẩu để thu hộ.
Như vậy, cơ sở để hình thành hoạt động kinh doanh đối ngoại của ngân hàng
thương mại là hoạt động ngoại thương. Nói đến ngoại thương là nói đến thanh toán
quốc tế. Nếu thanh toán quốc tế được thực hiện tốt thì giá trị hàng hoá xuất nhập
khẩu mới được thực hiện tốt, thúc đẩy tài trợ ngoại thương góp phần không nhỏ

hạn phục vụ nhu cầu tiền mặt tạm thời.
1.2. Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ.
Trong hình thức thanh toán bằng thư tín dụng, nhà xuất khẩu là người được
hưởng lợi. Khi có toàn bộ chứng từ thanh toán trong tay, nhà xuất khẩu có thể sử
dụng L/C để thế chấp mở L/C khác cho người hưởng lợi khác (L/C giáp lưng) hoặc
nhà xuất khẩu có thể đến các ngân hàng thanh toán để chiết khấu các hối phiếu của
bộ chứng từ thư tín dụng, ngoài ra với một L/C cho phép bán lại chứng từ đòi tiền
nhà nhập khẩu hoặc dưới dạng chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu một thư tín
dụng trả chậm thì nhà xuất khẩu có thể nhận được một khoản tín dụng từ ngân
hàng.
Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ khi sử dụng L/C
điều khoản đỏ, nhà xuất khẩu sẽ có một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu
vào thời điểm xác định trước khi xuất trình toàn bộ chứng từ hàng hoá, các điều
khoản ứng trước thường được quy định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên
thực hiện.
Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hay ngân hàng xác nhận cấp
cho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng. Nhà xuất khẩu chịu chi
phí liên quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước, vật bảo
đảm của nhà xuất khẩu khi nhận tiền ứng trước.
Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trước
cùng với lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán (nếu có bộ chứng từ phù hợp).
Nếu nhà xuất khẩu vì một lý do nào đó không xuất trình được chứng từ phù hợp với
điều kiện của L/C, các ngân hàng cũng có quyền đòi số tiền này ở ngân hàng mở
L/C.
1.3. Tín dụng chiết khấu hối phiếu.
Ở hình thức này ngân hàng mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán
tức là mua lại các khoản nợ phải đòi.
Lượng tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng là giá trị hối phiếu sau
khi trừ đi chi phí chiết khấu và các khoản lệ phí…Chi phí chiết khấu được xác định
theo công thức:

khẩu
10a 10a
10a
5
6 9 10

Chú thích:
1. Nhà xuất khẩu sau khi giao hàng, chuyển chứng từ vận chuyển và hối phiếu
đòi nợ tới nhà nhập khẩu.
2. Nhà nhập khẩu chấp nhận hối phiếu và chuyển hối phiếu đã chấp nhận cho
nhà xuất khẩu.
3. Nhà xuất khẩu đề nghị ngân hàng của mình cấp tín dụng trên cơ sở hối phiếu.
4. Ngân hàng xuất khẩu đồng ý cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu (ghi có vào tài
khoản của nhà xuất khẩu sau khi đã trừ đi chi phí chiết khấu và lệ phí nhờ thu).
5. Ngân hàng xuất khẩu đem hối phiếu đến Ngân hàng Trung ương để tái chiết
khấu và thu hồi khoản tín dụng đã cấp cho nhà xuất khẩu.
6. Khi tới hạn thanh toán, Ngân hàng Trung ương chuyển hối phiếu cho nhà
nhập khẩu và đề nghị thanh toán.
7. Ngân hàng nhà nhập khẩu chuyển hối phiếu cho nhà nhập khẩu và đề nghị
thanh toán.
8. Nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán và cho phép ngân hàng ghi nợ vào tài
khoản của mình.
9. Ngân hàng nhà nhập khẩu ghi Có vào tài khoản ở Ngân hàng Trung ương,
chi phí hối phiếu sau khi đã trừ đi lệ phí nhờ thu và thông báo khoản thu đã được
thực hiện.
Ngân h ngà
nh NKà
Ngân h ngà
nh XKà
Ngân h ng Trungà

khác ra đời và phát triển. Ngân hàng sử dụng dưới hai hình thức: cho vay ngắn
hạn(<12 tháng) và dài hạn. Cho vay ngắn hạn thường áp dụng đối với những yêu
cầu về vốn tạm thời để trang trải những nhu cầu sinh hoạt còn cho vay dài hạn để
cung cấp tiền đầu tư vào máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng… Thông thường, các nhà
xuất nhập khẩu vay ngắn hạn để chi trả tiền lương, chi phí vận chuyển, thu mua
hàng xuất khẩu, trả tiền hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lại sử
dụng tín dụng dài hạn để mua sắm trang thiết bị hiện đại, nâng cấp cơ sở hạ tầng
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Hình thức này có 2 ưu điểm chính sau:
Cho vay theo phương thức này được áp dụng trong mọi lĩnh vực, mọi đối
tượng, mọi cá nhân trong nền kinh tế khi có nhu cầu đều có thể đến ngân hàng để
xin được cấp vốn. Sau khi xem xét hồ sơ thấy khách hàng có đủ mọi yêu cầu trong
nguyên tắc tín dụng ngân hàng đều có thể tiến hành cho vay.
Cho vay theo phương thức này bao giờ cũng phải có tài sản để bảo đảm cho
món vay. Vì vậy nói chung khản vay khá an toàn.
Tuy nhiên, hình thức này còn có nhược điểm là:
Khó khăn trong việc định giá tài sản tài chính, đặc biệt là khi bán chúng vì
giá cả thị trường thường xuyên biến động, hàng hoá, tài sản có thể bị hỏng hóc,
mất mát.
Có hai hình thức mới phát triển trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu
là thanh toán “factoring” và thanh toán “forfaithing”:
Factoring là một hình thức tài chính trong hoạt động xuất khẩu. Đó là hoạt
động mua bán những khoản thanh toán chưa đến hạn và ngắn hạn từ các hoạt động
xuất khẩu, cung ứng hàng hoá, dịch vụ. Đặc điểm nổi bật của nghiệp vụ này là tính
miễn truy đòi tương đối đối với nhà nhập khẩu hoặc người sở hữu trước đó nếu các
chứng từ là bằng chứng cho các khoản nợ không được thanh toán khi đến hạn. Khác
với hoạt động mua lại chứng từ thanh toán, hoạt động factoring không sử dụng các
tín dụng thư cũng như hối phiếu. Để có thể chào khách hàng bằng cách tài trợ này,
gần như tất cả các ngân hàng tiến hành lập cơ sở đặc biệt, chuyên dụng vì factoring
không phải là nghiệp vụ ngân hàng. Hoạt động factoring chỉ sử dụng cho những hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status