MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT - Pdf 63

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
MẶT HÀNG SỮA BỘT
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm về mặt hàng sữa bột
Sữa bột là loại sữa được làm khô trong chu trình chế biến để chuyển từ dạng
nước thành dạng bột đồng thời khi chế biến còn được bổ sung thêm một số chất : canxi,
DHA,AA,ARA, hỗn hợp prebitoric….và một số các chất phụ gia khác tùy theo tính
chất của từng sản phẩm. ( theo tạp chí về thực phẩm)
Các dạng sữa bột hiện nay : sữa bột nguyên kem, sữa bột tan nhanh, sữa bột gầy.
+ Sữa bột nguyên kem : Là sữa bột chứa từ 26% đến 42% hàm lượng chất béo.
+ Sữa bột tan nhanh: Là sữa bột chứa từ 1,5% đến 26% hàm lượng chất béo.
+ Sữa bột gầy :Là sữa bột chứa nhỏ hơn 1,5% hàm lượng chất béo.
2.1.2 Đặc điểm của mặt hàng sữa bột
Trên thị trường Việt Nam hiện nay có hai nhóm sản phẩm là: sữa bột nguyên
kem, sữa bột gầy.Nhóm nguyên liệu và vật liệu phụ trong thành phần sữa bột thường
bao gồm: (1) độ tinh khiết cảu tất cả các loại nguyên liệu và vật liệu phụ phải đảm bảo
yêu cầu đối với sản xuất thực phẩm, (2) chủng sữa tinh khiết,(3) các vitamin, (4) dầu
thực vật,(5) đạm, ( 6) đường sữa, đường sacaroza, glucoza,lactoza, (7) tinh bột, (8) axit
lacticDL, axit xitric, (9) muối khoáng, (10) nước uống, (11) các chất phụ gia khác tùy
theo tính chất của từng sản phẩm.
Để phân biệt được các loại sản phẩm sữa bột trên thị trường có rất nhiều cách,
dưới đây là một số cách đơn giản:
+) Tùy theo công dụng sản phẩm được chia ra các loại như sau:
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ đẻ non và trẻ đến 3 tháng tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 4 đến 12 tháng.
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 1 tới 3 tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho bà mẹ mang thai.
- Loại sản phẩm dùng cho người già.
+) Tùy theo phương pháp chế biến sản phẩm được chia:
- Loại sản phẩm sữa bột không có phụ gia.
- Loại sản phẩm sữa bột có phụ gia.

Chỉ tiêu vi sinh: tổng số vi khuẩn hiếu khí, số VSV gây bệnh như ecoli,
salmonella,clostridium…
- Chỉ tiêu hóa lý: độ ẩm, tỷ trọng, khả năng hòa tan, độ chua, kích thước hạt, hàm lượng
các chất dinh duwongx như hàm lượng chất béo,lactose, vitamin, protein,..
- Khả năng hòa tan của sữa bột được xác định qua các chỉ tiêu: chỉ số hòa tan, độ thấm
ướt, độ phân tán…
- Chỉ số hòa tan: phương pháp chung xác định chỉ số hòa tan là cho 10g sữa bột gầy
( hoặc 13g sữa bột nguyên kem) vào 100ml nước ở 20 khuấy trộn trong một thời gian
xác định, sau đó đem li tâm trên thiết bị chuẩn với số vòng quay và thời gian xác định.
Sau quá trình li tâm, ta tách bỏ một thể tích xác định phần lỏng, tiếp cho một lượng
nước cất vào ống ly tâm, lắc đều rồi đem ly tâm lần hai. Thể tích cặn thu được chính là
chỉ số hào tan của sản phẩm sữa bột. Vậy chỉ số hòa tan càng lớn thì độ hòa tan càng
thấp.
- Độ thấm ướt: Là thời gian cần thiết tính bằng giây để làm ướt 10 g sữa gầy hoặc 13g
sữa bột nguyên cream khi ta đổ sữa vào 100ml nước ở 20 .
- Độ phân tán: Là tỉ lệ % sữa bột không tan, thông thường người ta thường cho 10g sữa
bột gầy hoặc 13g sữa bột nguyên cream vào 100ml nước ở 20 , khuấy đều trong 20 giây
rồi cho hỗn hợp vào bình thử.
2.1.5 Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột
Quản lý có thể hiểu với ý nghĩa thông thường, phổ biến, với phạm vi rất rộng là
hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào đối tượng nhất định để
điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định
và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước (công
quyền) để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội
(chính trị- kinh tế- xã hội), giữ gìn trật tự xã hội (thể chế chính trị) và phát triển xã hội
theo những mục tiêu đã định.
Quản lý nhà nước về thương mại: là một khoa học, có đối tượng nghiên cứu là
các mối quan hệ tương tác giữa các thực thể có liên quan tới hoạt động thương mại và
quản lý hoạt động thương mại của một nước, ngoài ra còn nghiên cứu tính quy luật của

họa để đầu cơ tăng giá, ép giá.
- Pháp lệnh quy định, cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá có quyền: đình
chỉ việc thực hiện giá bán hàng, dịch vụ do tổ chức, cá nhân liên kết độc quyền về giá
quy định. Trường hợp cần điều chỉnh giá thì tổ chức, cá nhân phải lập phương án giá
trình cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá xem xét, quyết định. Các hành vi
không bị coi là bán phá giá là: hạ giá bán hàng tươi sống, hàng tồn kho do chất lượng
giảm, lạc hậu về hình thức, hàng theo mùa vụ; hàng để khuyến mại theo quy định của
pháp luật.
2.2.2. Quản lý nhà nước về chất lượng
Trước hết phải thấy rằng quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp mang
tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội, có mục tiêu, biến đổi theo thời gian và thông qua các cơ
chế, chính sách và hệ thống tổ chức.
Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là “để đảm bảo nâng cao chất
lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên và lao động, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ,
tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác kỹ
thuật, kinh tế và thương mại quốc tế” (Pháp lệnh Chất lượng Hàng hóa 1999).
Để thực hiện những mục tiêu nói trên, các biện pháp sau đây được tiến hành: Ban hành
và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa; Kiểm tra và chứng nhận chất lượng hàng
hóa, áp dụng và chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng; công nhận năng lực kỹ thuật
và quản lý của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chất lượng. thanh tra và xử lý các
vi phạm về chất lượng. Những biện pháp quản lý của nhà nước về chất lượng này được
thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng. Điều đó phù hợp
với xu hướng chung của quản lý nhà nước bằng pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status