Một số vấn đề pháp lí cơ bản của luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu hướng chung của sự phát triển quốc tế là khu vực hóa, toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng như các nước khác đang bước nhanh
vào tiến trình hội nhập. Quan hệ giữa các quốc gia diễn ra trong điều kiện hết
sức đa dạng, khác biệt về bản sắc văn hóa cùng các điều kiện về chính trị, kinh
tế, xã hội. Hình thành và phát triển trong điều kiện quan hệ quốc tế đó, Điều ước
quốc tế (ĐƯQT) có chức năng duy trì và ổn định tương đối trật tự pháp lý quốc
tế, giữ gìn quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia, bảo đảm hài hòa lợi ích chung
của cộng đồng và lợi ích quốc gia, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của
luật quốc tế được thực thi và tuân thủ.
Nhận thức được rõ vai trò của điều ước quốc tế trong thời kì các quốc gia
trên thế giới đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại và hợp tác, chúng ta cũng nhìn
nhận được tầm quan trọng của vấn đề ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước
quốc tế đối với thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng. Việt Nam – một
quốc gia nhỏ, đang phát triển, tiếng nói chưa có sức nặng trên trường quốc tế thì
việc làm sao để khi ký kết, thực hiện điều ước quốc tế vừa phù hợp xu hướng
quốc tế chung, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia là rất quan trọng. Do đó, vấn đề ký
kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế đối với Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay đặt ra rất cấp thiết. Đây cũng là lí do vì sao tôi chọn đề tài: “Một số
vấn đề pháp lí cơ bản của luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc
tế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
Bài khóa luận này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về điều ước
quốc tế của luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005 trong tương
quan với hệ thống pháp luật Việt Nam và Luật điều ước quốc tế (Công ước Viên
1969).
Phân tích những qui định của pháp luật hiện hành và thực tiễn kí kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế tại Việt Nam. Đưa ra những nhận xét, đánh
giá cũng như một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa việc ký kết, thực hiện
điều ước quốc tế trong bối cảnh hội nhập trước mắt cũng như trong tương lai.

hiện ĐƯQT phát sinh giữa các quốc gia - chủ thể cơ bản của luật quốc tế. Sự ra
đời của công ước Viên 1969 cùng với sự ra đời của Công ước Viên 1986 về luật
ĐƯQT giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế với
nhau (gọi tắt là Công ước Viên 1986) đã thúc đẩy việc sử dụng ĐƯQT làm công
cụ pháp lý điều chỉnh mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới ngày
một rộng rãi. Hơn nữa, Công ước Viên 1969 là cơ sở pháp lý quan trọng để xác
định nghĩa vụ pháp lý quốc tế của một quốc gia trước những thoả thuận và cam
kết quốc tế đã được xác lập một cách hợp pháp. Đây là một trong những điều
kiện chủ yếu về phương diện pháp lý để một quốc qia có thể hội nhập vào xu thế
chung của thế giới hiện đại: xu thế toàn cầu hoá và liên kết khu vực. Quá trình
ký kết, thực hiện ĐƯQT luôn tạo ra những tác động nhiều mặt đến lợi ích thiết
thực của mỗi quốc gia đặt trong mối tương quan chung của lợi ích quốc tế.
1.1. Khái niệm điều ước quốc tế
1.1.1. Về định nghĩa ĐƯQT
3
Trong lịch sử phát triển của khoa học luật quốc tế đã có rất nhiều quan
điểm khác nhau về ĐƯQT, đã từng có những quan điểm cho rằng ĐƯQT là một
hợp đồng như quan điểm của Andress Bello (ĐƯQT “là một hợp đồng giữa các
dân tộc”) hay Laghi quan niệm ĐƯQT “thực sự là một hợp đồng theo cả nghĩa
triết học và nghĩa pháp lý của ngôn từ”.
Một số khác lại dừng lại ở việc nhận thức ĐƯQT là sự thoả thuận hay sự
ưng thuận nhằm tạo lập, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp lý như Diena
và Mc Nair.
Trước những quan điểm khác nhau như vậy thì chúng ta phải hiểu như thế
nào là một ĐƯQT ? Điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1969 đã xác định:
“ĐƯQT là một thoả thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các
quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả
thuận đó được ghi nhận trong văn kiện duy nhất hay trong hai hay nhiều văn
kiện có quan hệ với nhau cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các
văn kiện đó.”

Chủ thể ĐƯQT là các chủ thể của luật quốc tế, trong đó các quốc gia
chiếm vị trí chủ yếu. Mặc dù trong Điều 6 Công ước Viên 1969 chỉ đề cập đến
tư cách ký kết ĐƯQT của các quốc gia nhưng Điều 3 Công ước lại qui định
rằng:
“Việc Công ước này không áp dụng đối với các hiệp định quốc tế được
ký kết giữa các quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế hoặc giữa các
chủ thể khác của pháp luật quốc tế với nhau, cũng như không áp dụng đối với
những hiệp định quốc tế không thành văn, sẽ không phương hại gì đến: giá trị
pháp lý của các hiệp định đó…” (Điều 3)
Điều này chứng tỏ rằng bên cạnh quốc gia, các chủ thể khác của luật quốc
tế cũng có tư cách để ký kết ĐƯQT. Công ước Viên 1986 đã thừa nhận năng
lực ký kết điều ước của các tổ chức quốc tế. Ngoài ra, một số phong trào giải
phóng dân tộc cũng được chấp nhận là thành viên của một số Hiệp định quốc tế
(dù ở mức độ hạn chế).
Khách thể của ĐƯQT là các quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế về các
vấn đề tài sản hoặc phi tài sản, hành động hoặc không hành động. Thực tế, bất
5
cứ khách thể nào của luật quốc tế cũng có thể là khách thể của ĐƯQT, ví dụ:
Công ước về luật biển quốc tế, Hiệp ước về hoạch định biên giới, Hiệp định
tương trợ tư pháp…Theo quan điểm chung hiện nay, những vấn đề liên quan
đến công việc nội bộ tuyệt đối của quốc gia không thể là khách thể của ĐƯQT
như vấn đề về đảng nào sẽ nắm vai trò lãnh đạo trong hệ thống chính trị quốc
gia…
Mục đích của ĐƯQT là cái mà các chủ thể của luật quốc tế muốn thực
hiện hoặc đạt được qua việc ký kết ĐƯQT. Hay nói cách khác ĐƯQT là công cụ
để các chủ thể luật quốc tế thực hiện mục đích mà họ mong muốn.
Vậy có thể đi đến kết luận: ĐƯQT là sự thoả thuận rõ ràng về mặt ý chí
của các chủ thể luật quốc tế nhằm ấn định thay đổi hoặc huỷ bỏ các các quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống quốc
tế.

của nhiều quốc gia trong đó một quốc gia tham gia điều ước với tư cách là một
bên khác.
ĐƯQT đa phương được chia thành 2 loại: ĐƯQT đa phương phổ biến (có
sự tham gia của tất cả các quốc gia) và ĐƯQT với số lượng hạn chế, ví dụ như
các điều ước đa phương khu vực.
Căn cứ lĩnh vực quan hệ điều chỉnh (khách thể của điều ước) ĐƯQT có
thể được chia thành nhiều loại như: chiến tranh và hoà bình, kinh tế, nhân
quyền, môi trường, tương trợ tư pháp,…
Căn cứ vào tính chất điều ước, ĐƯQT được phân thành 2 loại: ĐƯQT
mở và ĐƯQT đóng.
ĐƯQT mở là ĐƯQT được ký kết với các điều kiện mở ra khả năng tham
gia của bất kỳ quốc gia nào, không phụ thuộc vào việc có sự đồng ý hay không
của các quốc gia đã tham gia điều ước.
ĐƯQT đóng là ĐƯQT được ký kết với điều kiện sự tham gia của các
quốc gia khác sau này phải phụ thuộc sự đồng ý của các quốc gia đã tham gia
điều ước (những thành viên ban đầu).
7
Pháp luật mỗi quốc gia lại có sự phân loại ĐƯQT khác nhau. Về tổng thể
việc phân loại ĐƯQT theo pháp luật quốc gia chủ yếu tạo cơ sở dễ dàng cho
công tác ký kết, thực hiện và quản lý nhà nước đối với ĐƯQT. Công ước Viên
1969 không đưa ra bất cứ một sự phân loại mang tính hệ thống nào, nó tiếp cận
theo hướng ĐƯQT dù là được ký kết ở cấp nào thì vẫn mang danh nghĩa của
quốc gia, tức là quốc gia mới là thành viên của ĐƯQT đó.
ĐƯQT thường được ký kết trên cơ sở các ngôn ngữ nhất định, ngôn ngữ
của điều ước do các bên ký kết quyết định. Ngôn ngữ của ĐƯQT song phương
thường là ngôn ngữ cua hai bên ký kết, tuy nhiên cũng có trường hợp các bên có
thể chọn một ngôn ngữ khác. ĐƯQT đa phương hình thành trên cơ sơ ngôn ngữ
mà các bên thoả thuận.
Thông thường các ĐƯQT được ký kết dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc
hoặc các tổ chức chuyên môn của nó được thể hiện thông qua các ngôn ngữ

định thời điểm sau khi có đủ số lượng quốc gia nhất định ký kết…theo Công
ước Viên 1969, trật tự và ngày có hiệu lực được các bên thoả thuận quy định rõ
trong chính ĐƯQT đó. Trong trường hợp điều ước không quy định rõ ngày bắt
đầu có hiệu lực pháp lý (chủ yếu là điều ước song phương) thì ngày điều ước bắt
đầu có hiệu lực là ngày các bên ký kết điều ước.
Thời hạn hết hiệu lực của điều ước có thể được ghi rõ trong điều ước hoặc
không quy định rõ (gọi là điều ước vô hạn). Đối với điều ước vô hạn thì điều
ước sẽ hết hiệu lực về mặt thời gian khi các bên thoả thuận sau đó hoặc ký các
ĐƯQT mới thay thế điều ước đang tồn tại.
Không gian có hiệu lực của điều ước được hiểu theo hai nghĩa: số lượng
các quốc gia chịu sự chi phối bởi điều ước (khu vự hoặc toàn cầu) và khoảng
không gian của trái đất chịu sự chi phối của điều ước (như châu Nam cực,
khoảng không vũ trụ,…)
- Về điều ước quốc tế không hợp pháp, hết hiệu lực và bị đình chỉ hiệu
lực.
ĐƯQT không hợp pháp là ĐƯQT được ký kết không phù hợp với quy
định của luật quốc tế về các điều kiện hợp pháp của điều ước.
9
ĐƯQT hết hiệu lực là ĐƯQT không còn giá trị pháp lý ràng buộc các
bên. ĐƯQT có thể hết hiệu lực trong các trường hợp như: theo quy định của
điều ước; theo sự thỏa thuận của các bên tham gia điều ước; hoặc có ĐƯQT mới
của các bên đó về cùng một vấn đề.
Theo quy định của điều ước, các trường hợp làm điều ước quốc tế hết
hiệu lực thường là hết thời hạn, xuất hiện quy phạm juscogen mới, khách thể tác
động của điều ước không còn hoặc các chủ thể ký kết không còn tồn tại.
ĐƯQT bị đình chỉ hiệu lực là ĐƯQT không có hiệu lực trong một thời
gian nhất định. Ví dụ theo quy định của luật quốc tế hiện hành khi một hoặc tất
cả các bên ký kết lâm vào tình trạng chiến tranh, các điều ước quốc tế có liên
quan trong quan hệ giữa các bên có thể bị đình chỉ hiệu lực.
Hủy bỏ ĐƯQT là hành động đơn phương của một bên tuyên bố về việc

quốc tế thông qua sự hình thành của hệ thống các điều ước đa dạng về nội dung.
Mặt khác với sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế nảy sinh trong các lĩnh
vực của đời sống quốc tế. Vì vậy sự phát triển của luật ĐƯQT như hiện nay
đang là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự hoàn thiện và sự phát triển của
luật quốc tế theo xu thế toàn cầu hoá. Quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới đã
chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác cùng có lợi, các vấn đề quốc tế hầu hết
đều được giải quyết thông qua việc ký kết ĐƯQT. Luật ĐƯQT phát triển với tư
cách là một ngành luật độc lập thuộc hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại ngày
càng khẳng định hơn nữa vai trò quan trọng của mình trong đời sống quốc tế.
Luật ĐƯQT điều chỉnh quan hệ về ký kết ĐƯQT giữa các quốc gia, các
tổ chức quốc tế liên quốc gia. Trong luật quốc tế quốc gia được coi là một thực
thể có chủ quyền và năng lực ký kết ĐƯQT là một trong những thuộc tính của
chủ quyền quốc gia. Điều 6 Công ước Viên 1969 quy định: “ mọi quốc gia đều
có tư cách để ký kết các ĐƯQT”. Năng lực ký kết ĐƯQT của quốc gia là năng
lực đầy đủ. Điều này có nghĩa là quốc gia hoàn toàn có đầy đủ tư cách để tham
gia ký kết các ĐƯQT ở mọi loại hình và trên mọi lĩnh vực của đời sống pháp lý
quốc tế. Tổ chức quốc tế cũng là một thực thể được thừa nhận có năng lực ký
kết ĐƯQT. Tuy nhiên nếu quốc gia trên cơ sở của chủ quyền quốc gia có năng
11
lực ký kết ĐƯQT đầy đủ thì tổ chức quốc tế chỉ có năng lực ký kết điều ước hạn
chế. Bởi lẽ năng lực ký kết ĐƯQT của tổ chức quốc tế là do quốc gia thành viên
chuyển giao một phẩn quyền năng ký kết ĐƯQT của mình cho tổ chức quốc tế.
Có thể nói năng lực ký kết ĐƯQT của tổ chức quốc tế là sự hợp nhất chủ quyền
của các quốc gia thành viên trong một tổ chức về một số vấn đề thuộc một hay
một số lĩnh vực nhất định của quan hệ pháp lý quốc tế, hay nói cách khác đó là
sự triển khai chủ quyền của các quốc gia thành viên trên thực tế. Tính chất hạn
chế của năng lực ký kết ĐƯQT của tổ chức quốc tế được xác định bởi hiến
chương hay điều lệ thành lập tổ chức quốc tế đó.
Ngoài ra, một số thực thể đặc biệt củng có quyền năng ký kết ĐƯQT như
Toà thánh Vanticang, hay các thực thể pháp lý lãnh thổ khác như: Macao, Hồng

hành vi vi phạm nguyên tấc này.
Nguyên tắc rõ ràng và chặt chẽ được thể hiện ở chổ các quy định trong
điều ước phải dễ hiểu và logic , thuận lợi cho quá trình thực hiện ĐƯQT trên
thực tế. Việc các quốc gia ký kết các ĐƯQT theo cách quy định chung chung
mang tính nghị quyết sẽ bị coi là hành vi vi phạm nguyên tắc này.
1.2.3. Nguồn của luật ĐƯQT
Các quy phạm của ĐƯQT được ghi nhận trong các ĐƯQT và tập quán
quốc tế.
Các quy phạm tập quán về luật ĐƯQT được hình thành chủ yếu từ chính
thực tiễn đàm phán, ký kết và thực hiện ĐƯQT của các quốc gia. Hiện nay
những tập quán quốc tế liên quan đến thủ tục, nghi lễ ký kết ĐƯQT vẫn được
các chủ thể kết ước áp dụng trong quá trình thiết lập các quan hệ ĐƯQT với
nhau.
Công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT giữa các quốc gia và Công ước Viên
1986 về luật ĐƯQT giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức
quốc tế với nhau được coi là nguồn pháp luật thành văn chủ yếu của luật ĐƯQT
hiện hành. Công ước Viên 1969 là kết quả của quá trình phát triển và pháp điển
hoá các quy phạm ĐƯQT. Công ước này chỉ điều chỉnh việc ký kết và thực hiện
các ĐƯQT thành văn giữa các quốc gia. Riêng ĐƯQT bất thành văn (hiệp định
quân tử) và các ĐƯQT khác mà một trong các bên ký kết, thông qua phải là
13
quốc gia phải chịu sự điều chỉnh của các quy phạm tập quán và các văn bản
pháp lý quốc tế khác.
Trong từng quốc gia, để thống nhất quản lý hoạt động ký kết và thực hiện
ĐƯQT, mỗi nước đều ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong nước
điều chỉnh cụ thể quan hệ ký kết, thực hiện ĐƯQT giữa nước đó với các chủ thể
khác của pháp luật quốc tế.Ví dụ: luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT của
Việt Nam năm 2005, luật về ĐƯQT của Liên bang Nga năm1995, luật về trình
tự ký kết ĐƯQT của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1990… Như vậy,
về phương diện pháp lý các quốc gia sử dụng luật ĐƯQT như phương tiện pháp

1.3.2. Nguyên tắc ĐƯQT phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ
bản của luật quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được thừa nhận là những “thước
đo” giá trị hợp pháp của các quy phạm pháp luật khác. Vì vậy quy phạm pháp
luật chỉ tồn tại dưới hình thức điều ước hay tập quán đều phải có nội dung không
trái với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Nếu có sự mâu thuẩn giữa nội
dung ĐƯQT với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thì ĐƯQT sẽ mặc nhiên vô
hiệu, kể cả đối với ĐƯQT đang có hiệu lực thi hành nhưng khi xuất hiện một
quy phạm juscogen mới của luật quốc tế thì ĐƯQT đó cũng phải chấm dứt hiệu
lực thi hành.
1.3.3. Nguyên tắc pasta sunt servanda
Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của luật ĐƯQT. Điều
26 công ước Viên 1969 quy định: “Tất cả điều ước có hiệu lực ràng buộc các
thành viên và phải được các thành viên tự nguyện thi hành với thiện chí”. Sự tận
tâm, thiện chí của các chủ thể ký kết vừa là cơ sở, vừa là đảm bảo quan trọng để
chủ thể ký kết tự ràng buộc mình những nghĩa vụ thực hiện các quy định của
luật điều ước nói chung và luật ĐƯQT nói riêng với tính chất là các cam kết
quốc tế tồn tại song hành cùng các điều khoản thoả thuận trong điều ước. Việc
không thi hành ĐƯQT chỉ có thể được thực hiện trong một số trường hợp và
trong những điều kiện chặt chẽ, chẳng hạn như trường hợp cắt quan hệ ngoại
giao hoặc quan hệ lãnh sự đươc quy định tại Điều 63 Công ước Viên 1969 như
sau:
15
“Việc cắt quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự giữa các quốc gia thành viên
của một số điều ước không làm ảnh hưởng đến những quan hệ phap lý do điều
ước đặt ra giữa các quốc gia này với nhau trừ khi trong một mức độ nhất định,
việc tồn tại những quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự không thể thiếu được để thi
hành điều ước”
2. Sơ lược quá trình phát triển của các quy định về ký kết, gia nhập và thực
hiện ĐƯQT trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay

phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Tuy nhiên thời kì này các quy định về ký kết và thực hiện ĐƯQT chỉ
được quy định trong hiến pháp mà chưa có các văn bản pháp luật riêng biệt điều
chỉnh vấn đề này. Do đó các bước của quá trình ký kết, thực hiện ĐƯQT như đề
xuất đàm phán, đàm phán, bảo lưu, lưu chiểu, đình chỉ, huỷ bỏ …chưa được cụ
thể hoá nên nó cũng chưa thực sự đi vào đời sống.
Một điểm nữa trong ba bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980 chưa đề cập đến đó là hoạt động gia nhập ĐƯQT. Trong cả
ba bản Hiến pháp trên không hề có một quy định nào về việc gia nhập ĐƯQT
của Việt Nam mặc dù trên thực tế hoạt động này đã tồn tại, năm 1957 Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã quyết định gia nhập 4 công ước Giơnevơ về bảo hộ nạn nhân
chiến tranh và hàng loạt các công ước khác sau đó. Thời kỳ này mặc dù chưa là
thành viên của Công ước Viên 1969 nhưng chúng ta đã sử dụng chế định gia
nhập trong công ước đó như là một quy phạm tập quán để áp dụng vào pháp luật
quốc gia.
Đặc biệt Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 mặc dù các quy định về ký
kết, thực hiện ĐƯQT đã được tăng lên nhưng lại không hề có một quy định nào
chỉ rõ cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền ký kết ĐƯQT, vấn đề này được giải
quyết sau khi Hiến pháp năm 1990 ra đời.
2.1. Giai đoạn từ sau đổi mới 1986 đến nay
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 /1986) chính sách
ngoại giao của nhà nước ta đã có sự đổi mới, khẳng định Việt Nam muốn làm
bạn với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị. Công cuộc đổi mới và
chính sách đối ngoại này là một bước ngoặt trong công tác ngoại giao nói chung
17
và công tác ki kết và thực hiện ĐƯQT nói riêng. Nhìn chung từ năm 1986 đến
nay, các quy định về kí kết và thực hiện ĐƯQT của nước ta đã có những thay
đổi ngày càng hợp lí, mang tính khoa học hơn, phục vụ cho chính sách mở rộng
quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam.
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1980, ngày 27/10/1989 Hội

khái niệm “tham gia”. Việc đề cập đến “tham gia ĐƯQT” trong Hiến pháp năm
1992 đã tạo cơ sở pháp lý cho chúng ta trong việc gia nhập ĐƯQT vốn đã tồn tại
khá lâu trong quá trình ký kết thực hiện ĐƯQT của nhà nước.
Ngày 28/8/1998, Uỷ ban thương vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh về
ký kết và thực hiện ĐƯQT 1998 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 1998) và
ngày 18/10/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 161 về thi hành pháp lệnh
năm 1998. Về mặt tổng thể Pháp lệnh năm 1998 và Nghị định số 161 được xây
dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, kế thừa nhưng quy định của Pháp lệnh
năm 1989, Nghị định số 182 và các kinh nghiệm ký kết thực hiện ĐƯQT là một
bước phát triển của pháp luật ĐƯQT của Việt Nam, góp phần không nhỏ vào
việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam.
Ngày 25/12/2001, Quốc hội khoá X kì họp thứ 10 thông qua Nghị quyết
về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Hiến pháp năm 1992. Nội dung
các Điều 84, Điều103, Điều 112 được sửa đổi theo hướng khẳng định và làm rõ
hơn thẩm quyền của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ trong công tác ĐƯQT.
Do đó một số quy định của Pháp lệnh năm 1998 và Nghị định số 161 về thẩm
quyền ký kết và gia nhập ĐƯQT không còn phù hợp với Hiến pháp sửa đổi.
Hơn nữa, quá trình thực hiện Pháp lệnh năm 1998 trong sự phát triển của đất
nước đã bộc lộ một số quy định không còn phù hợp với luật pháp và thực tiễn
quốc tế cũng như thực tiễn Việt Nam về ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT
như vấn đề phân loại ĐƯQT trong đó có ĐƯQT ký kết với danh nghĩa Bộ,
Ngành hoặc danh nghĩa Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; quy định về thẩm định ĐƯQT,.. Ngoài ra Pháp lệnh năm 1998 còn chưa
quy định về vấn đề phản đối bảo lưu, về vị trí ĐƯQT so với các văn bản pháp
luật khác của Việt Nam. Mặt khác, việc năm 2001 Nhà nước ta gia nhập Công
ước Viên 1969 về luật điều ước đã đặt ra yêu cầu đánh giá mức độ tương thích
19
giữa các quy định của pháp luật hiện hành về ký kết và thực hiện ĐƯQT với nội
dung của Công ước Viên 1969.
Trước yêu cầu nêu trên ngày 14/6/2005, Quốc hội khoá XI kì họp thứ 7 đã

tham gia được thể hiện ý chí của mình một cách rõ ràng, dứt khoát. Đó là sự gặp
gỡ của các bên về các vấn đề của điều ước. Do đó để đạt được kết quả là việc ký
kết ĐƯQT, các bên phải vượt qua nhiều giai đoạn với nhiều thủ tục khác nhau
như đàm phán để đi đến soạn thảo văn bản điều ước, thông qua văn bản điều
ước và các thủ tục ký cũng như thủ tục khác nhằm làm cho điều ước phát sinh
hiệu lực trên thực tế.
1.1. Về thẩm quyền ký kết, gia nhập ĐƯQT
Theo quy định tại Điều 11 Luật 2005, thẩm quyền quyết định đàm phán,
kí ĐƯQT xác định như sau:
“1. Chủ tịch nước quyết định đàm phán, ký ĐƯQT nhân danh Nhà nước
với người đứng đầu Nhà nước khác.
21
2. Chính phủ quyệt định đàm phán, ký ĐƯQT nhân danh Chính phủ, nhân
danh Nhà nước, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 điều này.
3. Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc đàm
phán, ký ĐƯQT có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy
phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội, ĐƯQT mà để thực
hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; trong trường hợp đàm phán, ký ĐƯQT
có quy định trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội thì báo cáo Quốc
hội cho ý kiến”
Việc phân định rõ thẩm quyền của Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội và Quốc hội như trên tránh sự chồng chéo về thẩm quyền
quyết định đàm phán, ký ĐƯQT giữa các cơ quan nhà nước. Sự mở rộng thẩm
quyền của Chính phủ và thu hẹp bớt thẩm quyền của Chủ tịch nước so với pháp
lệnh 1998 là phù hợp thực tiễn, tạo điều kiện cho Chủ tịch nước tập trung hoàn
thành tốt nghĩa vụ của người đứng đầu nhà nước cũng như tạo cơ sở pháp lí cần
thiết cho Chính phủ thực hiện công việc của mình. Hơn nữa, việc qui định thẩm
quyền ký kết, gia nhập ĐƯQT thuộc về Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Quốc hội thể hiện đúng bản chất của một ĐƯQT là thỏa

1.2.2. Về thẩm định ĐƯQT
Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động ký kết và thực hiện
ĐƯQT. Việc thẩm định điều ước làm sáng tỏ yêu cầu, mục đích, nội dung cơ
bản về các quyền và nghĩa vụ khi tham gia ĐƯQT của Việt Nam, đồng thời
cũng phải đánh giá được những tác động của ĐƯQT đối với tình hình kinh tế,
chính trị, tài chính…của đất nước. Công tác này nhằm bảo đảm tính thống nhất,
đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tính thực thi của ĐƯQT khi nó phát sinh
hiệu lực trên thực tế. Vấn đề này phức tạp bởi lẽ nó không chỉ đụng chạm đến hệ
thống pháp luật trong nước mà còn đến cả hệ thống ĐƯQT mà Việt Nam đã ký
kết hoặc gia nhập.
Tại luật 2005, Điều 17 quy định: “ĐƯQT phải được thẩm định trước khi
trình Chính phủ về việc đàm phán, ký ”. Điều 18 quy định phạm vi thẩm định
23
ĐƯQT, Điều 19 quy định về thẩm quyền thẩm định. Quy trình thẩm định cũng
được đặt ra tương tự cho việc gia nhập ĐƯQT ( Điều 49 khoản 2).
Thẩm định ĐƯQT để có sự định tính và định lượng về giá trị tổng thể
cũng như những tác động tích cực và tiêu cực của một ĐƯQT đối với Việt Nam
khi trở thành thành viên. Các cơ quan đề xuất ký hoặc gia nhập ĐƯQT phải dự
báo được tính khả thi của một điều ước trong tương lai. Khi đề xuất ký kết hoặc
gia nhập điều ước, ngoài dự thảo nội dung văn bản điều ước, cơ quan đề xuất
phải có những phương án về những vấn đề liên quan như vấn đề uỷ quyền tham
gia ký kết, các khâu chuẩn bị cho việc ký kết, nghĩa vụ pháp lí và khả năng gánh
vác trách nhiệm theo điều ước, các phương án đàm phán, tuyên bố bảo lưu (nếu
có) và nếu điều ước cho phép (đối với điều ước nhiều bên), việc thẩm định mang
tính dự báo, đón đầu này còn tránh được sự phối hợp thiếu thống nhất của các
ban ngành liên quan trong quá trình thực thi ĐƯQT. Thực hiện tốt quá trình
thẩm định ĐƯQT, đặc biệt trong trường hợp gia nhập ĐƯQT sẽ tránh xảy ra
những khó khăn trong quá trình thực hiện ĐƯQT về sau, đảm bảo tính khả thi
của ĐƯQT.
1.2.3. Về đàm phán ĐƯQT

kí kết nước ngoài.(Điều 8)
1.3.1. Về ký ĐƯQT
Ký là hành vi biểu hiện chung nhất thể hiện sự ràng buộc của ĐƯQT đối
với các quốc gia một cách chính thức. Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 quy
định: “Ký là hành vi pháp lí do người có thẩm quyền hoặc được uỷ quyền thực
hiện”. Vấn đề ký ĐƯQT và ký ĐƯQT trong chuyến thăm của đoàn cấp cao
được quy định cụ thể tại Điều 27 và Điều 28 –Luật 2005
Trong thực tiễn công tác ĐƯQT hiện nay mặc dù hoạt động phê chuẩn
ĐƯQT ngày càng trở nên thông dụng hơn trong việc ký kết ĐƯQT tuy nhiên
hành vi ký vẫn được duy trì với đầy đủ các ý nghĩa pháp lí của mình.
Chúng ta cần phân biệt giữa hành vi ký và ký tắt. Ký tắt chỉ là hành vi xác
nhận văn bản đàm phán cuối cùng giữa các bên đàm phán, hành vi này không có
ý nghĩa ràng buộc ĐƯQT với các quốc gia. Sau khi ký tắt, các bên tiến hành ký
chính thức.
25

Trích đoạn Mối quan hệ giữa ĐƯQT và luật quốc gia HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 1 Những điểm mới của luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT Về thực hiện ĐƯQT Sự phù hợp của luật 2005 so với Công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status