TRNG I HC CN TH
KHOA LUT
B MễN T PHP
--- --- LUN VN TT NGHIP C NHN LUT
NIấN KHểA 2004- 2008
ẹe Taứi :
QUAN H CHA M NUễI - CON NUễI
TRONG LUT VIT NAM HIN HNH
GV HNG DN SV THC HIN
Th.s on Th Phng Dip Lờ Th Trung
MSSV: 5044146
3.2.2. Giai đoạn sau cách mạng tháng 8/1945 ......................................................32
3.2.2.1 Thời kỳ từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959...................................33
3.2.2.2 Thời kỳ từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980...................................34
3.2.2.3 Thời kỳ từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992...................................36
3.2.2.4 Thời kỳ từ Hiến pháp 1992 đến nay ......................................................40
CHƯƠNG II
QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI- CON NUÔI KHÔNG CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
I. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT NUÔI CON NUÔI .................................................................. 42
II. XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI, CON NUÔI.......................................... 44
2.1 Điều kiện về nội dung..................................................................................... 44
2.1.1 Điều kiện liên quan đến người nuôi........................................................ 44
2.1.1.1 Đối với người nuôi là cá nhân độc thân...................................... 44
2.1.1.2 Đối với người nuôi là vợ chồng................................................... 47
2.1.2 Điều kiện liên quan đến người nuôi........................................................ 50
2.1.3 Mối quan hệ giữa người nuôi và người được nuôi.................................. 52
2.2 Điều kiện về hình thức.................................................................................... 53
2.2.1 Nộp hồ sơ............................................................................................... 53
2.2.2 Xem xét hồ sơ......................................................................................... 55
2.2.3 Đăng ký và giao nhận ............................................................................ 56
2.2.4 Trường hợp ngoại lệ .............................................................................. 56
2.3 Hiệu lực của việc nuôi con nuôi ...................................................................... 58
2.3.1 Quan hệ với gia đình của người nuôi ..................................................... 58
2.3.1.1 Quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi.................................................... 58
2.3.1.2 Quan hệ giữa người được nuôi và các thành viên khác trong
gia đình .................................................................................................. 60
2.3.1.3 Họ tên dân tộc của con nuôi ....................................................... 60
2.3.2 Quan hệ với gia đình gốc ....................................................................... 63
2.3.2.1 Quyền thừa kế ............................................................................ 63
3.1.2 Điều kiện liên quan đến người được nuôi ................................................ 86
3.2 Điều kiện về hình thức .................................................................................... 88
3.2.1 Đối với trường hợp xin đích danh............................................................ 88
3.2.2 Đối với trường hợp xin không đích danh ................................................. 95
3.2.3 Đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới............ 97
IV. THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP .............................................................. 99 3.1
Tình hình giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
3.1.1 Những mặt tích cực ................................................................................. 99
3.1.2 Những vướng mắc cần tháo gỡ.............................................................. 100
3.1.3 Sự cần thiết của việc quy định hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn ........... 102
3.2 Công tác giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi ở thành
phố Cần Thơ ......................................................................................................... 103
3.2.1 Tình hình giải quyết cho người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam tại
Cần Thơ làm con nuôi (2004 – 5/2008) ........................................................... 103
3.2.2 Một số kiến nghị, đề xuất liên quan đến công tác giải quyết cho người
nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam tại Cần Thơ làm con nuôi ......................... 105
KẾT LUẬN.............................................................................................................. 106
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 1 -
Lời nói đầu
Việc ni con ni phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợi ích của
người được nhận làm con ni, nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con ni
một mái ấm gia đình được u thương ni dưỡng chăm sóc và giáo dục. Bên cạnh đó Đề
Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 2 -
việc ni con ni cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận ni, nhằm
thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Xuất phát từ ý nghĩa xã hội
và mục đích nhân đạo của việc ni con ni, mà bên cạnh khuyến khích nhận trẻ mồ
cơi, trẻ lang thang cơ nhỡ trẻ bị bỏ rơi bị tàn tật làm con ni. Nhà nước còn cho phép
người đã thành niên là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự
làm con ni hoặc được làm con ni của người già yếu cơ đơn, để cha mẹ ni con
ni nương tựa chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau và việc ni con ni đó là phù hợp với
đạo đức xã hội.
Ni con ni là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều
quốc gia và trong pháp luật quốc tế. Nhưng để hiểu và áp dụng đúng các quy định của
pháp luật về vấn đề này khơng phải là một vấn đề dễ dàng. Với hi vong chia sẽ những
khó khăn của những đứa trẻ bất hạnh đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác hơn về
chế định ni con ni cũng như góp phần xây dựng hồn thiện hơn hệ thống pháp
luật trong lĩnh vực này tơi chọn nghiên cứu đề tài: “Quan hệ cha mẹ ni con ni
trong pháp luật Việt Nam hiện hành”
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Như đã trình bày ở trên vấn đề quan hệ cha mẹ ni- con ni rất phức tạp bởi
nó liên quan đến rất nhiều vấn đề như những điều kiện liên quan đến người ni và
người được ni khơng những thế nó còn phải chải qua những điều kiện về trình tự thủ
tục nhất định sau đó lại còn quan hệ với gia đình gốc và gia đình người ni trong các
vấn đề phát sinh như thừa kế, hơn nhân. Đó là chưa kể đến việc quan hệ cha mẹ ni
con ni phát sinh có yếu tố nước ngồi liên quan đến luật trong nước và các điều ước
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp chủ yếu là phân tích luật viết
thơng qua việc suy lý diễn dịch, quy nạp, tam đoạn luận và các thao tác khác tổng hợp,
so sánh, liệt kê… tác giả hi vọng sẽ mang đến cho mọi người một cái nhìn tồn diện
hơn, đầy đủ hơn về quan hệ cha mẹ ni con ni theo quy định của luật pháp hiện
hành. Do giới hạn về thời gian và nguồn tài liệu tham khảo cũng như vẫn đề nhận thức
của cá nhân chưa thật sâu sắc và đầy đủ nên chưa thể hồn tồn đáp ứng một cách
tuyệt đối đầy đủ các u cầu đặt ra rất mong sự đóng góp ý kiến của q thầy cơ và
các bạn!.
IV. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 chương:
- CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ CHA MẸ NI- CON NI
Nội dung của chương 1: Chỉ ra khái niệm ni con ni, phân loại con ni,
nêu lên bản chất của vấn đề ni con ni. Sơ lược q trình phát triển của chế định
ni con ni theo pháp luật thế giới và Việt Nam.
- CHƯƠNG 2: QUAN HỆ CHA MẸ NI CON NI TRONG NƯỚC
Nội dung của chương 2: tập trung giải quyết các vấn đề về mang tính quy định
của pháp luật như ngun tắc của việc ni con ni, điều kiện xác lập, hiệu lực của
việc ni con ni, và quy định về việc chấm dứt việc ni con ni.
- CHƯƠNG 3: QUAN HỆ CHA MẸ NI CON NI CĨ YẾU TỐ NƯỚC
NGỒI.
Nội dung của chương là việc khái qt các điều ước quốc tế về chế định ni
con ni giữa Việt Nam và các nước. Nêu lên những quy định của pháp luật Việt Nam
điều chỉnh quan hệ này.
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 4 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ CHA MẸ NI- CON NI
21
Bình luận khoa học luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam, TS Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ,
TP Hồ Chí Minh,
2002 Trang 197
2
100 Câu hỏi về pháp luật ni con ni có yếu tố nước ngồi, TS Nguyễn Cơng Khanh,
Nxb Tư pháp Hà Nội,
2004, Trang 9 Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện
hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 5 -
Theo luật Hơn nhân và gia đình năm 2000 Điều 8 khoản 14 thì quan hệ ni
con ni có yếu tố nước ngồi bao gồm nhưng quan hệ sau:
+ Quan hệ ni con ni giữa người nước ngồi và trẻ em Việt Nam trên lãnh
thổ Việt Nam.
+ Quan hệ ni con ni giữa người người nước ngồi và trẻ em Việt Nam ở
nước ngồi.
+ Quan hệ ni con ni giữa cơng dân Việt Nam và trẻ em nước ngồi ở nước
ngồi.
+ Quan hệ ni con ni giữa cơng dân Việt Nam và trẻ em nước ngồi cư trú
trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Quan hệ ni con ni giữa người nước ngồi với nhau phát sinh ở Việt
Nam.
* Những chủ thể tham gia vào quan hệ ni con ni
+ Cơng dân Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con ni.
Nam thì xung đột pháp luật về điều kiện ni con ni được giải quyết theo ngun
tắc nước sở tại, luật quốc tịch và luật nơi cư trú cụ thể như sau:
+ Người nước ngồi xin nhận trẻ em Việt Nam (hoặc trẻ em thường trú tại Việt
Nam) làm con ni thì phải tn theo quy định của Luật hơn nhân và gia đình Việt
Nam hiện hành và quy định trong pháp luật của nước nơi mà người đó là cơng dân về
điều kiện ni con ni.
+ Cơng dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngồi thường trú tại Việt Nam làm
con ni phải tn theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước trẻ em
đó mang quốc tịch. Nếu là vợ chồng xin nhận con ni thì mỗi người đều phải tn
theo quy định này.
+ Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập mà các
bên trong quan hệ cha mẹ ni con ni chịu ảnh hưởng hay thuộc sự điều chỉnh của
điều ước quốc tế đó thì các bên tham gia quan hệ tn thủ các quy định trong điều ước
quốc tế đó.
1.2 Ý nghĩa
Ý nghĩa cơ bản nhất của việc ni con ni chính là đảm bảo cho người được
nhận làm con ni được trơng nom ni dưỡng, chăm sóc và giáo dục phù hợp với đạo
đức, với truyền thống văn hóa của dân tộc với bản chất xã hội mà nhân dân ta đang
xây dựng.
Hiện nay, có rất nhiều trẻ em khi sinh ra đã bị bố mẹ bỏ rơi, nhiều em bị dị tật
bẩm sinh hoặc vì hậu quả của chiến tranh để lại... Các em đã phải sớm bươn chải kiếm
sống khơng có một mơi trường giáo dục tốt, một mái ấm để các em phát triển tồn diện
về thể chất, tinh thần và còn có biết bao gia đình vì q nghèo nên khơng có đầy đủ
những điều kiện để chăm sóc và giáo dục các em. Nếu như các em đó được nhận làm
con ni, được hưởng sự chăm sóc và ni dưỡng tốt từ phía cha, mẹ ni thì sẽ bảo
đảm được sự phát triển tồn diện tránh đi vào con đường lầm lỡ. Vì vậy trong bất cứ
điều kiện và hồn cảnh nào thì việc ni con ni đều phải bảo đảm mục đích là làm
cho người được nhận làm con ni được ni dưõng chăm sóc và giáo dục tốt. Nhà
3
lợi cho các em. Bên cạnh đó nước ta cũng tích cực tham gia ký kết và phê chuẩn các
điều ước quốc tế về bảo vệ trẻ em và hiệp ước song phương trong lĩnh vực ni con
ni.
1.3 Phân loại con ni theo phong tục Việt Nam
* Có ba loại con ni: Con ni chính thức, con ni danh nghĩa và con ni
giả vờ.
Con ni chính thức: Có hai loại
- Con lập tự : Gia đình khơng có con trai, ni con anh em ruột hoặc con anh
em chú bác ruột. Có thể ni từ bé, hoặc lớn rồi mới ni, thậm chí có người đã thành
gia thất, có con rồi mới nhận làm con ni. Người con ni lập tự đó chịu trách nhiệm
săn sóc, ni dưỡng cha mẹ ni lúc tuổi già và hương khói tang tế sau khi mất, nên
khi được hưởng quyền thừa kế gia tài hơn cả những người con gái do chính cha mẹ
sinh ra, vì con gái là "con người ta", sau khi gả chồng lo cơ nghiệp nhà chồng. Con
ni lập tự được hưởng ruộng hương hoả nếu cha ni là tộc trưởng, được họ hàng
chấp nhận là cùng huyết thống nội thân. Nếu người con ni lập tự là con thứ của ơng
em thì con người con trưởng của ơng em vẫn phải gọi người con ni lập tự đó bằng
bác (đáng lẽ gọi là chú) . Khi cha mẹ ni chết, tang chế của vợ chồng người lập tự
cũng ba năm như cha mẹ đẻ. Trường hợp cha mẹ chết trước, phải xin phép cha mẹ
ni mới được về chịu tang, nhưng khơng được phép mặc áo khâu gấu, khăn ngang Đề
Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 8 -
khơng được để hai giải bằng nhau. Khi cha mẹ ni đã sinh con trai thì thơi quyền lập
tự nhưng vẫn là con ni được hưởng quyền thừa kế như các người con khác.
- Con ni hạ phóng tử có những trường hợp sau:
+ Con hoang thai ni từ lúc mới sinh: Có nhà hiếm hoi dặn từ trước, khi sinh
nở thì đón về, sản phụ được bồi dưỡng một ít tiền và sau đó khơng được quyền nhận
hay thăm con
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 9 -
- Anh em kết nghĩa với nhau thân tình, nhận bố mẹ của anh em cũng như bố mẹ
của mình và ngược lại bố mẹ cũng nhận người anh em kết nghĩa với con mình như con
cái trong nhà.
Trong những trường hợp đó, người Việt thì gọi chung là con ni, bố mẹ ni
nhưng âm Hán gọi là "nghĩa phụ nghĩa tử" khác với "nghĩa phụ tử", tang chế khơng
quy định cho trường hợp "dưỡng phụ dưỡng tử", nếu có gả con cho nhau thì càng tốt
đẹp “thân thượng gia thân”.
Con ni giả vờ:
Vì con khó ni, sợ ma ta quấy nhiễu người mẹ đem con bỏ đường bỏ chợ,
nhưng dặn trước người trực sẵn đưa về ni, sau vài giờ hoặc vài ngày đến chuộc nhận
làm con ni. Đây là cách đánh tráo con đẻ thành con ni, con ni là con đẻ để lừa
ma. Trường hợp này đành rằng phải thơng cảm y ước trước, nhưng cũng phải chọn
người mắn đẻ, con khơng sài đẹn, ni súc vật mát tay…
Ngồi ba loại con ni dương trần nói trên, còn có tục "bán khốn" con cho
thần linh như bán con cho Đức Thánh Trần, Đức thánh Mẫu... Đã là con thần thánh, có
tấu, có sớ, có bùa, có dấu ấn hẳn hỏi thì ma quỷ khơng dám bén mảng đến đã đành mà
bố mẹ ni con cũng phải đặc biệt chú ý: Khơng cho con ăn uống những thứ uế tạp,
phải mặc đồ sạch sẽ, khơng được vá chằng vá đụp, khơng để con bò lê la, khơng được
chửi rủa xỉ vả con, sợ ngài gọi về trời. Con chỉ được gọi cha đẻ bằng thầy, bằng cậu. . .
Gọi mẹ bằng mợ, bằng chị, bằng u, bằng đẻ. Hai từ "Cha, mẹ" chỉ được tơn xưng với
thần thánh. Bán cho Đức Thánh Trần chỉ được xưng họ Trần khi khấn vái, bán cho
phật phải xưng Mầu, nhưng bán cho đức thánh mẫu là Liễu Hạnh khơng phải đổi họ.
Sở dĩ gọi là "bán khốn" vì chỉ bán thời gian còn nhỏ để dễ ni. Đến tuổi 13 tuổi tức
hết tuổi đồng ấu, đến tuổi vào sổ làng xã thì làm lễ xin chuộc về
Chính thể mới hiện nay cơng nhận con ni cũng có quyền lợi và nghĩa vụ
ngang con đẻ, đó là con ni thực sự được chính quyền địa phương cơng nhận trên cơ
khá giả, họ gặp trẻ có hồn cảnh khó khăn: mồ coi cha mẹ, gia đình nghèo lại đơng
anh em…Xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, họ xin những đứa trẻ này về làm con ni.
- Ngun nhân thứ ba, Có những người, vì một hồn cảnh nào đó, họ khơng thể
hoặc khơng có ý định xây dựng gia đình, nay muốn xin con ni để cuộc sống của họ
sau này đỡ cơ quạnh.
* Ngồi những ngun nhân của việc cho và nhận con ni kể trên thực tiễn
còn thấy có hai ngun nhân của việc cho và nhận con ni đó là:
- Việc cho và xin con ni nhằm mục đích để hợp pháp hóa việc chuyển hộ
khẩu từ nơng thơn về thành phố. Trường hợp này tuy khơng nhiều nhưng cũng đã xảy
ra và việc cho và xin con ni này thường diễn ra giữa những người có quan hệ họ
hàng với nhau.
4
- Hai là việc cho và xin con ni nhằm mục đích để đứa trẻ xuất cảnh hợp pháp
ra nước ngồi. Trường hợp này cũng thường xun diễn ra giữa những người có quan
hệ họ hàng với nhau.
II. BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ NI CON NI
2.1 Bản chất xã hội –lịch sử
Ni con ni là một hiện tượng mang tính xã hội lịch sử. Nó tồn tại phát triển
trong những điều kiện, hồn cảnh lịch sử nhất định. Nếu trong thời kỳ phong kiến việc
phát sinh vấn đề ni con ni là do sự bóc lột nặng nề của giai cấp địa chủ phong
4
Ngun nhân này chắc khơng còn tồn tại vì từ khi có Luật cư trú được Quốc hội khóa XI
thơng qua ngày
29/11/2006 và có hiệu lực tư ngày 01/7/2007 vấn đề hộ khẩu tại các thành phố lớn đã trở
nên thơng thống hơn Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt
Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung
2.2 Bản chất pháp lý
Bản chất pháp lý của việc ni con ni chính là sự cấu thành các sự kiện pháp
lý. Hay nói cách khác dưới góc độ là sự kiện pháp lý, việc ni việc ni con ni có
bản chất là là cấu thành sự kiện pháp lý phức hợp giản đơn
5
. Sau đây chúng ta sẽ đi
5
Sự kiện pháp lý phức hợp giản đơn còn gọi là phức hợp “tự do” là tập hợp những sự kiện
mà giữa chúng có
mối liên hệ linh hoạt. Các sự kiện cấu thành phức hợp giản đơn có thể phát sinh ở các thời
điểm khác nhau miễn
là chúng phải đầy đủ và liên kết lại ở thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật, Giáo trình lý
luận nhà nước và pháp
luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr. 450 Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi
trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 12 -
sâu vào xem xét các sự kiện pháp lý cấu thành nên bản chất pháp lý của việc ni con
ni, bao gồm sự thể hiện ý chí của người nhận ni con ni, của cha mẹ đẻ, người
giám hộ của người con ni, của bản thân người con ni và sự cơng nhận của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
* Sự thể hiện ý chí của người nhận ni con ni:
Người nhận ni con ni có thể nhận ni con ni với nhiều lý do khác nhau
nhưng trước hết là từ nhu cầu của người ni muốn ni dưỡng một đứa trẻ nhằm thiết
lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên. Nhu cầu đó bị chi phối trước tiên bởi yếu tố
tình cảm, xuất phát từ ý chí và sự chủ động của người nhận ni con ni. Người ni
con ni muốn thơng qua việc nhận ni một đứa trẻ để thỏa mãn nhu cầu nhất định
nhận mà chỉ thể hiện nguyện vọng xin ni con ni thì cơ quan có thẩm quyền có thể
giới thiệu bất cứ trẻ em nào cho họ.
Từ sự phân tích trên cho thấy người nhận ni con ni ln chủ động và độc
lập trong việc nhận ni con ni. Việc nhận ni con ni thể hiện rõ ý chí đơn
phương từ phía người nhận ni. Người nhận ni con ni thể hiện ý chí của mình
một cách chủ động, khách quan thơng qua đơn xin nhận ni con ni. Họ cũng có thể
đưa đơn bất cứ lúc nào mà họ muốn. Hành vi đó của người nhận ni con ni chỉ
phát sinh hậu quả pháp lý khi người nhận ni phù hợp, được cha mẹ đẻ hoặc người
giám hộ đồng ý và được cơ quan có thẩm quyền cơng nhận. Như vậy có thể nói sự thể
hiện ý chí của người nhận ni con ni là hành vi pháp lý đơn phương, nó chỉ có hiệu
lực khi các chủ thể liên quan tiếp nhận.
* Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được cho
làm con ni
- Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ: Khoản 1 Điều 71 Luật Hơn nhân và Gia đình
quy định: “Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành
vi dân sự làm con ni phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người
đó…”. Việc cho con mình làm con ni người khác là việc làm bất đắc dĩ trong những
điều kiện và hồn cảnh nhất định. Do đó, cha mẹ đẻ ln cân nhắc, suy nghĩ kỹ trước
khi quyết định cho con mình làm con ni với mong muốn đứa trẻ sẽ có mơi trường
điều kiện sống tốt hơn, khi bản thân họ khơng có điều kiện ni dưỡng chăm sóc cho
trẻ. Việc cho con làm con ni phải xuất phát từ sự tự nguyện thực sự
6
của cha mẹ đẻ
trên cơ sở lợi ích của trẻ. Mọi sự đồng ý cho con làm con ni vì mục đích trục lợi đều
khơng phù hợp với bản chất của việc ni con ni và khơng phải tự nguyện thực sự.
Ngược lại, mọi sự tác động, dụ dỗ, lừa dối, cưỡng ép… để có được sự đồng ý của cha
mẹ đẻ trong việc cho con mình làm con ni cũng khơng hợp pháp về ngun tắc cũng
khơng có giá trị pháp lý. Sự đồng ý cho con mình làm con ni người khác phải xuất
phát từ tự nguyện và ý chí độc lập của cha mẹ đẻ. Sự đồng ý đó phải được thể hiện
một cách khách quan bằng văn bản và phải được xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ
hộ chỉ có quyền thể hiện ý chí cho người mà mình giám hộ làm con ni khi cả cha mẹ
đẻ của người đó đều khơng xác định được hoặc đều đã chết đều mất năng lực hành vi
dân sự.
Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên, người giám hộ được cử
hoặc người đứng đầu cơ sở ni dưỡng . Theo quy định của pháp luật, người đứng đầu
cơ sở ni dưỡng chỉ có quyến đồng ý cho trẻ đang sống ở cơ sở ni dưỡng làm con
ni “trong trường hợp trẻ em đó có nguồn gốc bị bỏ rơi, bị bỏ lại cơ sở y tế hoặc trẻ
em đó được đưa vào cơ sở ni dưỡng đã có giấy của cha mẹ đẻ đồng ý cho làm con
ni hoặc cha mẹ đẻ đó mất năng lực hành vi dân sự
7
. Giấy thỏa thuận đồng ý cho trẻ
em làm con ni của người giám hộ phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cơ sở nơi
cư trú của người giám hộ.
Qua những quy định trên cho thấy về ngun tắc, ý chí của người giám hộ về
việc cho đứa trẻ được giám hộ làm con ni phải xuất phát trên ý chí của cha mẹ đẻ đã
thể hiện từ trước. Nếu cha mẹ đẻ khơng có khả năng thể hiện ý chí của mình thì việc
cho làm con ni phải do chính họ quyết định.
Từ những phân tích ở trên cho thấy sự thể hiện ý chí của người cho con ni là
hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện ý chí độc lập của một bên chủ thể (bên cho con
ni). Hành vi pháp lý đơn phương đó có thể do một chủ thể thực hiện (cha đẻ hoặc
mẹ đẻ của đứa trẻ khi một bên chết trước hoặc mất năng lực hành vi dân sự…) nhưng
7
Điển a khoản 3 Điều 44 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi
-con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 15 -
cũng có thể do hai chủ thể thực hiện (cha mẹ đẻ cùng thỏa thuận cho con làm con
Như vậy cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể cơng nhận việc ni con
ni khi các bên đương sự thể hiện rõ ý chí của mình đồng thời đáp ứng đầy đủ các
điều kiện cần thiết của việc ni con ni. Nói cách khác, cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền chỉ có thể cơng nhận việc ni con ni khi các sự kiện cấu thành đã hội tụ đầy
đủ và được liên kết lại với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về con ni. Đề
Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 16 -
Vì vậy có thể nói dưới góc độ sự kiện pháp lý, việc ni con ni có bản chất là sự cấu
thành sự kiện hay sự kiện pháp lý phức hợp đơn giản. Xác định rõ bản chất pháp lý
của việc ni con ni với tư cách là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật
là cơ sở để xây dựng những quy phạm pháp luật phù hợp chính xác điều chỉnh quan hệ
ni con ni
III. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NI CON NI
3.1 Lịch sử thế giới:
Chế định pháp luật về ni con ni là một chế định pháp luật của mỗi quốc gia
và luật pháp quốc tế. Chế định về ni con ni được xây dựng trên ngun tắc về
quyền trẻ em do đó lịch sử phát triển của chế định ni ln gắn liền với q trình phát
triển về quyền trẻ em.
* Đầu tiên phải kể đến đó là Tun ngơn GiơNeVơ năm 1924 là văn kiện đầu
tiên về quyền trẻ em do hiệp hội quốc tế các quỹ hỗ trợ trẻ em soạn thảo . Tun ngơn
kêu gọi “Tất cả đàn ơng và phụ nữ của mọi dân tộc có trách nhiệm tạo cho trẻ những
gì tốt đẹp nhất. . . vượt trên sự quan tâm về chủng tộc quốc tịch, giống nòi. ” Mặc dù
chưa khẳng định thành hệ thống các quyền của trẻ em nhưng tun ngơn đã đưa ra
những khuyến nghị cụ thể về việc chăm sóc và ni dạy trẻ, giành sự quan tâm đặc
biệt đối với các trường hợp trẻ em đói, trẻ em ốm đau, trẻ lạc hậu, trẻ phạm tội, trẻ mồ
cơi và lang thang theo ngun tắc: “Phải trao cho trẻ những phương tiện tiên quyết để
phát triển một cách bình thường cả về thể chất và tinh thần”. Ý nghĩa quan trọng nhất
tộc, hồ bình và tình anh em hữu ái. (Ngun tắc 10)
* Văn kiện quốc tế đầu tiên đề cập một cách tương đối tồn diện về ni con
ni là Tun ngơn của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ngày 03/12/1986 về các ngun
tắc xã hội và pháp lý liên quan đến bảo vệ phúc lợi trẻ em đặc biệt là ni con ni
trong nước và ngồi nước.
Mục đích của Tun ngơn là cơng bố các ngun tắc phổ biến trong thủ tục
ni con ni ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Tun ngơn có những ngun tắc sau:
- Việc thay thế chăm sóc đứa trẻ chỉ được tính đến khi bố mẹ khơng thể hoặc
khơng phù hợp để chăm sóc con. (Điều 4)
- Lợi ích tốt nhất của đứa trẻ đặc biệt là tình thương u, quyền được an tồn và
tiếp tục chăm sóc là điều quan trọng phải tính đến trong mọi trường hợp cho nhận con
ni. (Điều 5)
- Việc cho làm con ni ở một nước khác chỉ được coi là một biện pháp thay
thế để đảm bảo cho đứa trẻ có gia đình trong trường hợp đứa trẻ khơng được nhận ni
hay chăm sóc thoả đáng trong nước (Điều 17)
* Tại kỳ họp thứ XXII Hội nghị La Hay (từ 10-29/5/1993) các đại biểu của 66
nước trong đó có Việt Nam (Việt Nam tham gia với tư cách là khách mời của nước
chủ nhà Hà Lan) đã thống nhất thơng qua văn kiện cuối cùng về nội dung Cơng ước
La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực ni con ni. Cơng ước này có
hiệu lực từ ngày 01/5/1995
Mục đích của Cơng ước nhằm định ra những đảm bảo về việc ni con ni
giữa các nước vì lợi ích tốt nhất của trẻ và tơn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được
pháp luật quốc tế cơng nhận; thiết lập hệ thống hợp tác giữa các nước ký kết những
bảo đảm trên được tơn trọng và ngăn ngừa việc bắt cóc, bn bán trẻ em, đảm bảo sự
cơng nhận tại các nước ký kết việc ni con ni được thể hiện phù hợp với cơng ước
(Điều 1).
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung
những nhà ni con ni mặc dù họ đã có con đẻ, điều đó nhằm khuyếch trương
quyền thế của gia đình. Hoặc do từ tâm, muốn để phúc lâu dài cho con cháu, các gia
đình nhận ni trẻ em cơ nhỡ, khơng nơi nương tự đói ăn hoặc đói mặc. vì người Việt
Nam, thấm nhuần tư tưởng Phật giáo và Nho giáo quan niệm rằng “cứu một mạng
người phúc đẳng hà sa”. Việc ni con ni với mục đích này được pháp luật triều Lê
rất khuyến khích. Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam
hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 19 -
Có khi người ta ni con ni nhằm mục đích lợi lộc, ví dụ để làm việc khơng
phải trả tiền cơng, hoặc chủ nợ nhận ni con ni của người có nghĩa vụ để lấy cơng
trừ vào lãi số tiền cho mượn. Hoặc ni con ni vì mê tín dị đoan. Một gia đình khá
giả nhưng hay bị tai họa người ta thường ni đứa trẻ của một gia đình đơng con mà
người ta cho rằng tuổi tác của đứa trẻ hợp với cung số của gia chủ để đứa trẻ đó gánh
bớt tai họa và mang lại may mắn cho gia chủ.
Tự chung lại, có thể phân loại việc ni con ni theo mục đích của việc ni
con ni thành 2 loại cơ bản:
+ Ni con ni để nối dõi tơng đường (lập tự)
+ Ni con ni thơng thường.
Việc phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều chỉnh bằng pháp
luật đối với việc ni con ni, bởi vì việc ni con ni để nối dõi tơng đường song
song với việc lập tự, người con ni phải có nghĩa vụ đối với cha mẹ ni và được kế
thừa tài sản của cha mẹ ni khác với sự ni dưỡng thơng thường. Việc ni con ni
là sự kiện pháp lý làm phát sinh mối quan hệ nhiều mặt giữa người nhận ni và người
được ni, có liên quan khơng ít đến trật tự xã hội và lễ giáo theo quan điểm Nho giáo
vì vậy pháp luật Nhà Lê quy định rất rõ ràng đối với mỗi loại con ni khác nhau tùy
theo vị trí của người con ni trong gia đình cha mẹ đẻ cũng như cha mẹ ni.
* Về hình thức của việc nhận con ni
thuộc tầng lớp cầm quyền.
Đối với con ni lập tự, Pháp luật Nhà Lê quy định phải là con trai, độ tuổi phải
từ 7 tuổi trở xuống, 3 tuổi trở lên mới được nhận9
. Để được thừa tự người con ni này
phải là người trong họ và gia đình cha mẹ ni phải khơng có con đẻ. Trong cả hai
trường hợp nhận con ni trên, dù là con ni thơng thường hay con ni lập tự,
dưỡng tử chỉ có thể là con trai thứ, khơng được ni con trai trưởng của cha mẹ đẻ vì
trong gia đình Việt Nam, con trai trưởng phải có trách nhiệm cúng giỗ tế tự gia tiên
dòng họ mình.
* Hậu quả pháp lý của việc ni con ni:
Việc nhận ni con ni mang lại những hậu quả pháp lý nhất định. Sau khi
khế ước về ni con ni được ký kết giữ người đứng ni với cha mẹ đẻ và tên của
người con ni đã ghi vào sổ hộ tịch của người cha ni, thì phát sinh các nghĩa vụ và
quyền lợi giữa cha mẹ ni và con ni.
Pháp luật Nhà Lê khơng có điều nào quy định riêng biệt về việc con ni có
nghĩa vụ như con đẻ . Song việc phân tích các điều luật về ni con ni trong Quốc
Triều Hình Luật và Hồng Đức Thiện Chính Thư cho thấy rằng pháp luật Nhà Lê quy
định người con ni có nghĩa vụ với cha mẹ ni như con đẻ
10
. Việc con ni có
nghĩa vụ đối với cha mẹ ni như con đẻ cũng được xác nhận trong đoạn 110 Hồng
Đức Thiện Chính Thư: “Kẻ làm con ni nhà nào, sau khi được ni nấng, đơi bên
đều khơng có sự ân hận, tự coi mình như con đẻ, khơng được trái đạo tự tiện bỏ đi…”
- Nghĩa vụ của cha mẹ ni đối với người con ni: Phải ni dưỡng giáo dục
chu đáo ân cần. Đoạn 159, 160 Hồng Đức Thiện Chính Thư viết: “…làm cha mẹ phải
xử mình để tề gia, khiến cho trong nhà đều được nhờ cậy. Vậy phải kính cẩn, trơng lên
để thờ tổ tơn, cúi xuống để ni vợ con, gia đạo được chấn hưng để làm cha ni con
nối dõi . . phải cấp dưỡng cơm áo khơng nên vì đứa con buổi sớm dỗi khơng ăn, mà
cha mẹ giận dỗi đổ bỏ đi…” . Nếu cha mẹ làm tròn nghĩa vụ sẽ được thưởng, bằng
khơng làm tròn nghĩa vụ, “làm cha mẹ có con mà khơng dạy thì là lỗi ở cha. Con làm
bản hạt ở tại làng của cha mẹ ni, để về sau nếu người đó làm các việc phạm pháp,
cha mẹ khơng bị liên lụy.
Cha mẹ có quyền bán hoặc cầm đợ, gán nợ con ni trong những trường hợp
cần thiết. Pháp luật Nhà Lê khơng điều quy định trực tiếp về việc bán con song những
điều cơng nhận việc bán con đã hàm ý nghĩa việc bán con. Insunyu học giả người Hàn
Quốc nhận xét trong cuốn Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII: “Cũng
khơng thể chối cãi rằng phong tục Việt Nam đã trao cho cha mẹ mức độ quyền lực lớn
hơn đối với con cái …chải qua lịch sử Việt Nam, nạn đói do hạn hán hay do lũ lụt
thường xảy ra làm cho nhiều người lâm vào cảnh nghèo đói đến nỗi cha mẹ bắt buộc
phải bán đi một hay nhiều đứa con để giảm bớt cái ăn…Pháp luật Nhà Lê trong những
năm đầu đã cơng nhận việc bán trẻ con và Bộ luật Nhà Lê cũng chấp nhận phong tục
đó bằng cách chỉ quy định hình phạt đối với việc bán lại một người vừa mới bị bán.”
11
Một quyền nữa của cha mẹ ni là tước bỏ quyền thừa kế của đứa con ni.
Luật pháp Nhà Lê quy định: Nếu con ni bất hiếu, cha mẹ ni có quyền làm chúc
thư chia tài sản cho các con mà khơng cho đứa con bất hiếu. Nếu vì mộtlẽ gì đó “thể
thức chỗ thất cách” chưa chia được mà khi bố mẹ chết đứa con bị tước quyền đó về
chịu tang mà khơng đồng tình chúc thư, đi thưa kiện đến nha mơn, thì quan án cũng
khơng được chấp nhận đơn mà xét xử, để ngăn chặn sự tranh giành và trừng phạt kẻ
bất hiếu, Tòa cứ theo di mệnh của cha mẹ ở trong chúc thư đó, rồi giao cho họ hàng
thân thích và hương trưởng chứng kiến tờ di chúc đó, chứ khơng căn cứ vào sự làm sai
thể thức trong chúc thư.
11
In Sun Yu: Luật Và Xã hội Việt Nam Thế kỷ XVII – XVIII trang 114, Nxb Khoa học xã
hội Hà Nội, 1994 Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam
hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung
Triều đại Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Song thời
kỳ Nhà Nguyễn nắm quyền độc lập chỉ từ năm 1802 đến năm 1858. Từ năm 1858 trở
đi Nhà Nguyễn chỉ còn trên danh nghĩa mà thơi, vì vậy phạm vi nghiên cứu pháp luật
về ni con ni dưới triều Nguyễn ở đây là thời kỳ Nhà Nguyễn nắm quyền độc lập
từ năm 1802 đến năm 1858.
Sản phẩm cao nhất là Bộ Hồng Việt Luật Lệ (còn gọi là Bộ Luật Gia Long)
ban hành đầu thời Nguyễn, gồm 398 điều phân làm 22 quyển. Mặc dù còn nhiều hạn Đề
Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 23 -
chế, Bộ Luật Gia Long vẫn là Bộ luật chủ yếu có giá trị trong việc nghiên cứu pháp
luật dưới triều Nguyễn.
* Pháp luật về ni con ni trong triều đại Nhà Nguyễn (1802 -1858)
- Mục đích của việc ni con ni: cũng giống như mục đích của việc ni con
ni dưới thời Nhà Lê. Với tư tưởng Nho giáo ăn sau vào phong tục tập qn, các gia
đình Việt Nam đều có quan niệm rằng việc khơng có con nối dõi là có lỗi với tổ tiên
và để bảo vệ duy trì sức sống của gia đình, dòng họ, những gia đình khơng có con trai
nhận ni con ni để cúng dỗ tổ tiên, nối dõi tơng đường. Ngồi ra việc ni con
ni dưới thời Nguyễn cũng nhằm mục đích khác như: Do cần người lao động, hoặc
do từ tâm, hoặc do mê tín dị đoan…
Về hình thức của việc nhận ni con ni: Bộ Luật Gia Long khơng có điều
luật riêng biệt quy định về điều kiện hình thức việc nhận con ni. Đây là điểm hạn
chế so với quy định về hình thức của việc nhận ni con ni trong pháp luật Nhà Lê .
Về điều kiện nội dung của việc ni con ni: Điều 76 Bộ Luật Gia Long được
áp dụng cho con ni thường cũng như cho trẻ được lập tự. Quy định của luật Nhà
Nguyễn cũng giống như luật Nhà Thanh về điều kiện nội dung và hiệu lực của nghĩa
dưỡng. Nội dung điều 76 của Bộ Luật Gia Long với tiêu đề: “lập đích tử vi pháp” (lập
đích tử trái pháp luật) và 5 lệ tiếp theo đã quy định cả hai chế định lập tự và nghĩa
đối với con cái. Nhưng qua nghiên cứu tinh thần của điều luật và các lệ của Bộ Luật
Gia Long nghĩa vụ của ơng bà cha mẹ được ẩn dưới các quy định khác trong các điều
về hộ hơn điền sản và các điều về gia đình. Tự chung lại, cha mẹ ni có những nghĩa
vụ ni dưỡng, giáo dục, bảo ban con ni cũng như con đẻ trong khả năng của người
cha mẹ ni. Đối với con trai ni để lập tự, cha mẹ có nghĩa vụ di dưỡng, phát triển
và bảo tồn di sản của dòng họ (nếu có) để thừa kế cho con lập tự, làm di sản để người
con nối dõi tơng đường. Về con ni khác họ, các lệ tiếp theo điều 288 Bộ Luật Gia