Một số vấn đề pháp lý cơ bản bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN NGUYÊN CƯỜNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Thắng

Hà Nội – 2009

1
MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1 - KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM, ĐỘI NGŨ VÀ QUYỀN LỢI CƠ BẢN
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC TẠI
VIỆT NAM

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
tại Việt Nam

1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

1.1.1.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam


CHƢƠNG 2- THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LỢI
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI

2.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LỢI CỦA
NGƢỜI VIỆT NAM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI

2.1.1. Về ký kết và thực hiện Hợp đồng lao đồng

2.1.2. Về ký kết và thực hiện Thỏa ƣớc lao động tập thể

2.1.3. Về thu nhập và đời sống

2.1.4. Về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi

2.1.5. Về điều kiện làm việc, an toàn – vệ sinh lao động

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

2.2.1. Khái niệm, vai trò, nhiệm vụ của công đoàn trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài

2.2.1.1. Khái niệm Công đoàn

2.2.1.2. Đặc điểm hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

(ILO)

2.4.2. Kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới

2.4.2.1. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực Đông Nam Á

2.4.2.2. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực Đông Bắc Á

2.4.2.3. Kinh nghiệm của một số nước khác

2.4.3. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

4
CHƢƠNG 3- MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC BẢO
VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM Ở CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

3.1. TÁC ĐỘNG CỦA XU HƢỚNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN
LỰC LƢỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

3.1.1. Xu hƣớng mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế:

3.1.2. Ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với các
doanh nghiệp và ngƣời lao động Việt Nam

3.1.3. Xu hƣớng cải tiến công nghệ sản xuất và phƣơng thức quản lý

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tƣ



3.3.4. Kiện toàn đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở

3.3.5. Quy định khoản đóng góp 2% quỹ lƣơng cho kinh phí hoạt động
công đoàn ở các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

6
MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, với chính sách mở cửa và hội nhập, việc gia nhập
WTO, cùng với hệ thống pháp luật Việt Nam từng bƣớc đƣợc hoàn thiện, môi
trƣờng đầu tƣ đƣợc cải thiện, đã thu hút lƣợng lớn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào
Việt Nam. Số doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng nhanh, góp phần tăng
kim ngạch xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động và góp phần
vào sự tăng trƣởng kinh tế đất nƣớc.
Đóng góp của Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài cho Ngân
sách Nhà nƣớc trong giai đoạn 2001 - 2005 là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức
tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trƣớc, năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng
36,3% so với năm 2005.
Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã hỗ trợ Việt Nam một
cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập
ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thƣờng hóa quan hệ và ký hiệp định
thƣơng mại song phƣơng với Mỹ, tham gia và trở thành thành viên chính thức của

tích kỹ khía cạnh kinh tế trong quan hệ lao động, không nghiên cứu chuyên sâu góc
độ pháp lý bảo vệ quyền lợi của ngƣời lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, đồng thời cơ sở phân tích của luận văn là tình hình kinh tế-
xã hội trong giai đoạn từ 2003 trở về trƣớc cho nên có phần chƣa phù hợp với giai
đoạn hiện nay.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống đề tài
“Một số vấn đề pháp lý cơ bản bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam tại
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc. Những kiến nghị của đề tài này hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực
8
cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của
ngƣời lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu chủ yếu nhƣ sau:
- Nghiên cứu khái quát doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, nghiên cứu
một cách có hệ thống và đầy đủ các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
ngƣời lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
- Nghiên cứu tình hình triển khai thực tế các quy phạm pháp luật về bảo vệ
quyền lợi của ngƣời lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp nƣớc ngoài. Nghiên
cứu kinh nghiệm thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của ngƣời lao động của các
nƣớc trên thế giới.
- Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn việc triển khai các quy định pháp luật
Việt Nam và pháp luật các nƣớc điển hình tiên tiến trên thế giới sẽ rút ra những hạn
chế trong các quy định pháp luật Việt Nam và những ƣu điểm trong quy định của
pháp luật các nƣớc điển hình tiên tiển trên thế giới để hƣớng tới hoàn thiện các quy
định của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời lao động tại các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
4. PHƢƠNG PHÁP, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phƣơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp dựa trên cơ sở nền
tảng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét quan hệ lao động

Nam, đội ngũ và quyền lợi cơ bản của người lao động Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền lợi của người lao động
Việt Nam và vấn đề giải quyết tranh chấp lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo vệ quyền lợi của
10
người lao động Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 11
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM, ĐỘI NGŨ VÀ QUYỀN LỢI CƠ BẢN CỦA
NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM
________________________

1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC TẠI
VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt
Nam
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trong quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh, vào những năm 70 của thế kỷ
XIX, các nhà tƣ bản Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha v.v
do tích lũy đƣợc những khoản tƣ bản to lớn nên đã tiến hành các hoạt động xuất
khẩu tƣ bản ra khỏi nƣớc mình tới những nƣớc khác có chênh lệch địa tô tƣ bản và
“chính trị” lớn để thu lại lợi nhuận cho mình.
Đầu tƣ ra nƣớc ngoài và tiếp nhận đầu tƣ của nƣớc ngoài (gọi tắt là đầu tƣ
nƣớc ngoài) là một trong những hình thức của quan hệ kinh tế đối ngoại. Việc đầu

quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Đây là mô hình vừa thừa
kế những thành tựu của kinh tế xã hội chủ nghĩa, vừa tiếp thu những kinh nghiệm
và xu thế phát triển của kinh tế thị trƣờng với những lý luận, nhận thức mới cả về
nội dung và cách thức thực hiện. Trong mô hình này, kinh tế nhà nƣớc đóng vai trò
chủ đạo, kinh tế tập thể là nền tảng vững chắc, các thành phần khác đều là các bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, tăng trƣởng kinh tế kết hợp với
việc thực hiện xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhƣ vậy, thực chất của công
cuộc chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam chính là quá trình điều chỉnh và hoàn thiện
quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất, yêu cầu và trình độ phát triển của lực
13
lƣợng sản xuất. Đây là sự biến đổi cơ bản và toàn diện từ mô hình “quá độ trực
tiếp” sang “quá độ gián tiếp” lên chủ nghĩa xã hội, với các đặc trƣng sau:
- Chuyển dần từ nền kinh tế hiện vật bao cấp sang nền kinh tế sản xuất và trao
đổi hàng hóa, thực hiện nhiều chế độ phân phối khác nhau.
- Xã hội hóa sản xuất, động viên và duy trì lâu dài mọi nhân tố tích cực của
các thành phần kinh tế; kế hoạch hóa đóng vai trò là công cụ quản lý vĩ mô của nhà
nƣớc hƣớng dẫn sự phát triển của thị trƣờng.
- Mở cửa để hội nhập với nền kinh tế thế giới nhƣng vẫn đảm bảo tính độc lập,
tự chủ; thu hút mạnh mẽ đầu tƣ của tƣ bản bên ngoài với quan điểm vừa hợp tác vừa
đấu tranh.
- Quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng các phƣơng pháp kinh tế; động lực thúc
đẩy là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của toàn xã hội với lợi ích cá nhân, giữa lợi
ích lâu dài và lợi ích trƣớc mắt.
Đại hội Đảng VI – Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc,
đã xác định một trong những phƣơng hƣớng cơ bản của chính sách kinh tế là:
“Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình
thức, nhất là đối với ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi
đôi với việc công bố luật đầu tư, cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện
thuận lợi cho người nước ngoài và Việt Kiều nước ta để hợp tác kinh doanh”.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, để tạo cơ sở pháp lý cho việc

khẩu, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập.
Khu chế xuất gồm doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài và doanh nghiệp liên doanh
giữa một bên là chủ đầu tƣ nƣớc ngoài và một bên là chủ đầu tƣ Việt Nam. Hình
thức đầu tƣ này có sức hấp dẫn với mục tiêu thu hút đƣợc nhiều vốn đầu tƣ, tạo
đƣợc nhiều việc làm, tăng nhanh khả năng xuất khẩu, góp phần tác động tích cực
đến khu vực kinh tế nội địa.
Ngoài 4 hình thức chủ yếu trên, để khuyến khích đầu tƣ các tổ chức, cá nhân
15
nƣớc ngoài đầu tƣ vào xây dựng kết cấu hạ tầng tại Việt Nam, còn có các hình thức
đầu tƣ khác nhƣ: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng
xây dựng - chuyên giao (BT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
(BTO), hợp đồng cho thuê thiết bị
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam đƣợc hiểu là các đơn vi
kinh tế cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu
cầu của thị trƣờng, có sự tham gia góp vốn và quản lý của bên nƣớc ngoài, đƣợc
thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tƣ và các
văn bản pháp luật có liên quan, nhằm thu lợi nhuận hoặc mang lại hiệu quả kinh tế -
xã hội.
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam bao gồm doanh nghiệp
đƣợc thành lập bởi nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt
Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do Nhà đầu tƣ mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
1.1.1.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam có một số đặc điểm chủ
yếu sau:
- Về sở hữu: Trong các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài, tài sản thuộc một
phần sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (đối với doanh nghiệp liên doanh) hoặc
thuộc toàn bộ sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (đối với doanh nghiệp 100% vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài). Một số doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tƣ nhiều quốc gia
nhƣ các công ty đa quốc gia, với những đặc điểm về sở hữu nhƣ vậy nên luật pháp
Việt Nam quy định khi có tranh chấp, các bên không hòa giải đƣợc thì có thể lựa

quốc tế, biết điều hòa mâu thuẫn, nhất là biết giải quyết những xung đột về mặt lợi
ích.
Sau khi Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (năm 1987) có hiệu lực thì các
nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đã tiến hành đầu tƣ vào Việt Nam theo hình thức thành lập
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong thời gian đầu, các doanh nghiệp này
17
đƣợc xếp vào các thành phần kinh tế tƣ bản nhà nƣớc, tƣ bản tƣ nhân tùy theo hình
thức sở hữu. Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
đƣợc xác định là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào
quá trình phát triển kinh tế của đất nƣớc. Hơn nữa, ngoài các đối tác đầu tƣ từ các
nƣớc tƣ bản, còn có các đối tác đầu tƣ từ nƣớc xã hội chủ nghĩa (nhƣ Trung Quốc),
nên không chỉ xếp vào thành phần kinh tế tƣ bản nhà nƣớc và tƣ bản tƣ nhân đƣợc.
Do đó, Đại hội Đảng lần thứ IX đã tách những doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài thành một thành phần kinh tế riêng, đó là thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài.
Từ Đại hội Đảng lần thứ IX đến nay, trong nền kinh tế chung của đất nƣớc,
thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ngày càng thể hiện rõ hơn vị trí của
mình “ là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương
quốc tế”. Vừa qua, tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta một lần nữa thể hiện
quan điểm nhất quán trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khẳng định
các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là
bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa ở nƣớc ta: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình
thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”.
Nhƣ vậy, nếu tính từ khi có Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (ngày
29/12/1987) đến nay thì đã hơn 20 năm có cơ sở pháp lý cho việc hình thành các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Sau khoảng 10 năm kể từ khi có cơ sở
pháp lý, loại hình doanh nghiệp này đã phát triển nhanh, vốn đầu tƣ liên tục tăng lên

Nam và Chính phủ nƣớc ngoài hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài hợp
tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
19
Theo cách tiếp cận của Luật đầu tƣ Việt Nam, cơ sở thành lập các doanh
nghiệp liên doanh là các Hợp đồng liên doanh ký kết giữa bên hoặc các bên Việt
Nam với bên hoặc các bên nƣớc ngoài. Các bên tham gia vào doanh nghiệp liên
doanh có thể là một bên hoặc nhiều bên nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh. Các
doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập là một bên của liên doanh mới. Tuy nhiên,
trong điều kiện Việt Nam, có một ngoại lệ (do hoàn cảnh lịch sử để lại) là cơ sở
pháp lý của doanh nghiệp liên doanh có thể là một Hiệp định quốc tế ký giữa hai
Chính phủ: Chính phủ nƣớc công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ
nƣớc ngoài (trƣờng hợp Liên doanh dầu khí Việt Xô – Vietsopetro là một ví dụ điển
hình).
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
có vị trí quan trọng ở Việt Nam cả về quy mô hợp tác lẫn kết quả đem lại. Một số
doanh nghiệp điển hình là Liên doanh dầu khí giữa Việt Nam và Liên bang Nga
thiết lập từ năm 1980, Liên doanh khách sạn Hà Nội – Sheraton với số vốn đăng ký
780 triệu USD, công ty liên doanh Honda Việt Nam với số vốn đăng ký 100 triệu
USD
1.1.2.2. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Đây là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, do nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh.
Những năm gần đây, số doanh nghiệp liên doanh xin chuyển sang hình thức
100% vốn nƣớc ngoài có xu hƣớng tăng lên ở nƣớc ta. Hiện tƣợng một số doanh
nghiệp liên doanh xin chuyển thành hình thức 100% vốn nƣớc ngoài bắt nguồn từ
sự hình thành các liên doanh một cách gƣợng ép và không ngang tầm các đối tác.
Phía Việt Nam trong các liên doanh thƣờng hạn chế về mọi mặt trong khi đối tác
nƣớc ngoài thƣờng là những công ty, tập đoàn xuyên quốc gia có tiềm lực kinh tế

xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tƣ chuyển giao
21
công trình đó cho cho Nhà nƣớc Việt Nam; Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu
tƣ quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu
tƣ và lợi nhuận.
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao ( gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu
tƣ đƣợc ký trên cơ sở sự ký kết giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền của Việt Nam
với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng (nhà đầu tƣ tài trợ
về tài chính và xây dựng công trình). Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tƣ chuyển
giao công trình đó cho Nhà nƣớc Việt Nam. Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho
nhà đầu tƣ thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tƣ và lợi nhuận hoặc thanh toán
cho nhà đầu tƣ theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.
Hình thức đầu tƣ dự án (BOT, BTO, BT) đƣợc sử dụng khá phổ biến ở Việt
Nam sau hình thức doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nƣớc
ngoài. Có thể kể ra các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài dạng BOT hiện nay
nhƣ: Electricite de France (EDF), xí nghiệp khí điện ở Phú Mỹ 2.2 với số vốn 400
triệu USD, công suất 700 MW. Dự án hơi đốt mê tan cung cấp sản phẩm cho
Singapore và Nhật Bản của Gas Conversion System Vietnam Inc của Anh với số
vốn 270 triệu USD. Dự án đƣờng dây điện thoại viễn thông Cable&Wireless PLC
của Anh với số vốn 207 triệu USD cung cấp 250.000 đƣờng dây điện thoại v.v
Hiện nay xu hƣớng chung trên thế giới là tƣ nhân hóa lĩnh vực hạ tầng cơ sở; cho
nên các định chế tài chính quốc tế này cắt giảm chƣơng trình cho vay nhẹ lãi mà
chuyền sang bảo đảm đầu tƣ, nghĩa là bảo đảm trợ giúp nguồn ngoại tệ để các quốc
gia đang phát triển có đủ ngoại tệ chuyển đổi nội tệ thành các ngoại tệ mạnh giúp
các nhà đầu tƣ chuyển đƣợc tiền của họ về nƣớc. Mặt khác, vốn ngân sách của các
nƣớc đang phát triển rất eo hẹp, mà chƣơng trình đầu tƣ vào hạ tầng cơ sở thƣờng là
từ hàng trăm triệu đô la trở lên, do đó kêu gọi đầu tƣ nƣớc ngoài thông qua hình
thức BOT, BTO, BT ngày càng trở nên phổ biến.
1.1.2.4. Doanh nghiệp Khu chế xuất
Luật đầu tƣ năm 2005 quy định Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhƣ sau:

dựng 14 triệu USD, vốn của các dự án 23 triệu USD. Khu chế xuất Nội Bài thành
lập năm 1994 có vốn xây dựng 30 triệu USD, vốn các dự án 25 triệu USD ; khu
công nghiệp Đại Từ – Hà Nội thành lập năm 1995 có vốn xây dựng 12 triệu USD;
Khu công nghiệp Liên Chiểu-Hòa Khánh thành lập năm 1996 có vốn xây dựng 36,9
triệu USD, vốn các dự án 30 triệu USD; Khu công nghiệp Nam Thăng Long thành
lập năm 1997 có vốn xây dựng 53,2 triệu USD ; ngoài ra Chính phủ cũng đã quyết
định thành lập hai khu công nghệ cao, đó là khu công nghệ cao Hòa Lạc – Hà Nội
và khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài các loại hình doanh nghiệp trên đây, còn có một số loại hình doanh
nghiệp có vốn “đầu tƣ nƣớc ngoài” khác nhƣ: Công ty cho thuê tài chính, công ty
ủy thác bán, công ty kết hợp khai thác
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam
Kể từ năm 1988, khi Luật đầu tƣ nƣớc ngoài có hiệu lực, các doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ nƣớc đã chính thức có mặt tại Việt Nam. Qua hơn 20 năm vận động và
phát triển, đến nay khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã khẳng định đƣợc vị
trí của mình trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta.
Khu vực kinh tế này đã có những đóng góp quan trọng cho tăng trƣởng GDP, cho
đầu tƣ phát triển xã hội, cho kim ngạch xuất khẩu và tổng giá trị sản xuất công
nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở nƣớc ta đƣợc thể hiện
nhƣ sau:
Thứ nhất, Việt Nam là một nƣớc đang phát triển, để tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa không thể trông chờ hoàn toàn vào nguồn vốn tích lũy trong nƣớc.
Các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài đã thu hút về vốn đáng kể, bổ sung, bù đắp sự
thiếu hụt về vốn đầu tƣ của nền kinh tế nƣớc ta thời gian qua. Thông qua đầu tƣ
nƣớc ngoài vào nƣớc ta, nhiều nguồn lực trong nƣớc (lao động, đất đai, tài
nguyên ) đƣợc khai thác và đƣa vào sử dụng tƣơng đối hiệu quả; đồng thời giúp
Nhà nƣớc chủ động hơn trong việc bố trí cơ cấu đầu tƣ; dành nhiều vốn trong nƣớc
cho đầu tƣ vào kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tƣ vào những vùng khó khăn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status