Tổ chức và quản lí công tác lưu trữ trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hoà, Tỉnh Đồng Nai - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN VŨ THÀNH
TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC
LƯU TRỮ TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP 100% VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI
(Nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lưu trữ học
Hà Nội-2013
2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẦN NỘI DUNG 17
Chƣơng 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TÀI LIỆU LƢU
TRỮ HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 100%
VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI (Nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố Biên Hòa – Đồng Nai) 17
1.1. Lịch sử hình thành và vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai 17
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài 17
1.1.2. Vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trong nền kinh
tế của tỉnh Đồng Nai 21
1.2. Khái quát chung về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp 100%
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 23
1.2.1. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài 23
1.2.2. Các mối quan hệ công tác của doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
27
1.3. Thành phần, nội dung và ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ hình thành trong hoạt
động của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài(nghiên cứu các doanh
nghiệp trên địa bàn Tp. Biên Hòa – Đồng Nai) 32
1.3.1. Các loại tài liệu hình thành trong hoạt động của các doanh nghiệp 32
1.3.2. Ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ hình thành trong hoạt động của doanh nghiệp
35
Tiểu kết chƣơng 1 41
6

Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC LƢU TRỮ
TRONG DOANH NGHIỆP 100% VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI (Nghiên cứu các
doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai) 42
2.1. Lý luận chung về tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ 42

2.5.1. Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp 77
2.5.2. Nguyên nhân từ phía cơ quan quản lý Nhà nƣớc về công tác lƣu trữ 78
2.5.3. Nguyên nhân xuất phát từ công tác đào tạo cán bộ làm công tác lƣu trữ
doanh nghiệp 79
Tiểu kết chƣơng 2 80
7

Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC VÀ QUẢN
LÝ CÔNG TÁC LƢU TRỮ TRONG DOANH NGHIỆP 100% VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
83
3.1. Thay đổi nhận thức về giá trị và ý nghĩa của tài liệu của doanh nghiệp 83
3.1.1. Thay đổi nhận thức của doanh nghiệp về giá trị và ý nghĩa của tài liệu lƣu
trữ 83
3.1.2. Thay đổi quan điểm, nhận thức của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc về
công tác lƣu trữ doanh nghiệp 85
3.2. Xây dựng các văn bản pháp luật quản lý công tác lƣu trữ của doanh nghiệp
87
3.2.1. Hoàn chỉnh, sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật hiện hành nhằm quản lý
hợp lý công tác lƣu trữ doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 87
3.2.2. Xây dựng các văn bản quản lý và hƣớng dẫn nghiệp vụ phù hợp với thực
tiễn công tác lƣu trữ doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 90
3.3. Hoàn thiện, đổi mới chƣơng trình đào tạo và nâng cao chất lƣợng, trình độ
đội ngũ cán bộ làm công tác văn thƣ, lƣu trữ trong doanh nghiệp 93
3.3.1. Hoàn thiện, đổi mới chƣơng trình đào tạo ngành lƣu trữ theo hƣớng đào
tạo chuyên sâu về lƣu trữ doanh nghiệp 93
3.3.2. Tăng cƣờng công tác đào tạo, bồi dƣỡng nhằm nâng cao trình độ, chuyên
môn, nghiệp vụ đội ngũ cán bộ làm công tác văn thƣ, lƣu trữ trong doanh
nghiệp 95
3.4. Xây dựng hệ thống phòng, kho, Trung tâm lƣu trữ tài liệu doanh nghiệp 96

Doanh nghiệp Nhà nƣớc
ĐTNN
Đầu tƣ nƣớc ngoài
ĐHKHXH&NV
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
FĐI
Đầu tƣ nƣớc ngoài
HĐH
Hiện đại hóa
KCN
Khu công nghiệp
KCX
Khu chế xuất
KKT
Khu kinh tế
KHKT
Khoa học kỹ thuật
LTNN
Lƣu trữ Nhà nƣớc
LTQG
Lƣu trữ Quốc gia
ODA
Nguồn viện trợ phát triển chính thức
XNQD
Xí nghiệp quốc doanh
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TLLT
Tài liệu lƣu trữ


đóng góp cho ngân sách Nhà nƣớc gấp 5 lần”[67;tr.9]
“Mặc dù thời gian hoạt động và phát triển không dài so với các nƣớc có nền
kinh tế phát triển, nhƣng trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp đã sản sinh ra
một khối lƣợng lớn văn bản rất đa dạng và phong phú về mặt hình thức cũng nhƣ nội
dung. Hệ thống văn bản này không chỉ phản ánh quá trình hình thành và phát triển,
tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp mà còn phản ánh các đƣờng lối,
chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam trong thời gian qua. Hệ thống văn bản
của doanh nghiệp còn là công cụ hữu ích giúp các doanh nghiệp quản lý và điều hành
hoạt động sản xuất, kinh doanh, là yếu tố góp phần đáng kể vào thành công của doanh
nghiệp và có giá trị về nhiều mặt nhằm sử dụng trƣớc mắt và lâu dài phục vụ đời sống
xã hội”[5;tr.131]
Chúng ta có thể khẳng định rằng tài liệu lƣu trữ hình thành trong hoạt động của
doanh nghiệp không những có giá trị to lớn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp mà nó còn là những bằng chứng có giá trị pháp lý cao, là cơ sở để các cơ
quan Nhà nƣớc có thể thực hiện vai trò quản lý của mình đối với doanh nghiệp. Đặc
biệt, tài liệu lƣu trữ hình thành trong hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài là một kho kinh nghiệm quý giá để các doanh nghiệp Việt Nam, các nhà
kinh tế, các nhà quản lý có thể học hỏi để thực hiện việc quản lý hoạt động sản xuất,
kinh doanh và hoạt động giao dịch thƣơng mại với các đối tác trên thị trƣờng quốc tế.
Đây cũng là những tài liệu phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của nhiều ngành
công nghiệp ở Việt Nam nhƣ: công nghiệp dệt may, công nghiệp chế tạo ô tô; công
10

nghiệp điện tử và các ngành công nghệ cao,… Đặc biệt hơn, tài liệu lƣu trữ của các
doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ là cơ sở để chúng ta có thể tiếp nhận các
nhà máy, công nghệ, máy móc,… của các doanh nghiệp này khi họ hết thời hạn thuê
đất, ngƣng hoạt động hoặc giải thể.
Đối với khoa học Lƣu trữ ở Việt Nam, các đặc điểm của tài liệu lƣu trữ và thực
tiễn công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ cung cấp
cho các nhà khoa học, các nhà quản lý,… những cơ sở thực tiễn về các biện pháp tổ

trên địa bàn Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
11

2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Tác giả thực hiện đề tài này nhằm đạt đƣợc những mục tiêu sau:
Nghiên cứu về thực tiễn các biện pháp tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ đã và
đang áp dụng trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Qua thực tiễn tại
các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, Tỉnh
Đồng Nai, tác giả đề tài nhận xét và đánh giá những ƣu điểm, hạn chế và các nguyên
nhân của công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp này. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp
100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai hiện
nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:
- Khái quát chung về lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của các doanh
nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại tỉnh Đồng Nai.
- Tìm hiểu về thành phần, nội dung các loại văn bản, tài liệu hình thành trong hoạt
động của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và phân tích những ý nghĩa
của khối tài liệu này đối với nền kinh tế - xã hội nói chung và đối với doanh nghiệp nói
riêng.
- Khảo sát các biện pháp tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ trong doanh nghiệp 100%
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đánh giá và nhận xét những hiệu quả, ƣu điểm, hạn chế và phân tích các nguyên
nhân của những hạn chế trong tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ của các doanh
nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả về tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ
trong các doanh nghiệp này.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

công trình cho thấy các hình thức văn bản chủ yếu hình thành trong hoạt động của các
loại hình doanh nghiệp. Đề tài đã khái quát đầy đủ các đặc điểm về thể thức, văn
phong, nội dung và quy trình soạn thảo của các loại văn bản của doanh nghiệp. Đặc
biệt, đề tài đã khảo sát đƣợc các loại văn bản của nhiều loại hình doanh nghiệp trong
đó có cả các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn thạc sỹ của các tác giả, nhà nghiên cứu về
công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam nhƣ luận văn thạc sỹ của tác giả
Nguyễn Thị Kim Bình với đề tài:“Tổ chức quản lý công tác lưu trữ của các Tổng công
ty 91” Đề tài này đã phản ánh thực trạng công tác tổ chức quản lý công tác lƣu trữ của
các Tổng công ty 91 đồng thời đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện công tác lƣu trữ của
các Tổng công ty này. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Báu với đề tài:“Công
tác văn thư, lưu trữ trong doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 1986 - 2006” cũng đã nghiên cứu về thực trạng công tác văn thƣ, lƣu
trữ tại một số doanh nghiệp Nhà nƣớc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả
Lã Thị Hồng với đề tài luận văn thạc sỹ: “Xác định giá trị tài liệu hành chính hình
thành trong hoạt động của các tổng công ty 100% vốn Nhà nước” đã đề cập đến công
tác lƣu trữ của các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nƣớc ở Việt Nam. Đề tài đã đóng góp
nhiều trong vấn đề xác định giá trị của các tài liệu hành chính trong các doanh nghiệp
100% vốn Nhà nƣớc mà tác giả đã khảo sát.
13

Trên đây là những công trình đƣợc đánh giá cao của giới khoa học Lƣu trữ Việt
Nam trong những năm qua và đây là minh chứng cho sự quan tâm ngày càng lớn của
giới nghiên cứu đến công tác văn thƣ, lƣu trữ trong doanh nghiệp
Cùng đề cập đến thực tế công tác văn thƣ, lƣu trữ của các doanh nghiệp, trên
Tạp chí Văn thƣ Lƣu trữ Việt Nam trong thời gian qua cũng đã có một số bài viết về
công tác văn thƣ, lƣu trữ trong doanh nghiệp. Các bài viết này đã ít nhiều đề cập đến
công tác văn thƣ, lƣu trữ trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣ: Th.S
Nguyễn Thị Kim Bình với một số bài viết: “Một số biện pháp bước đầu nhằm thực
hiện quản lý Nhà nước đối với công tác lưu trữ của các doanh nghiệp” Tạp chí Văn

14

và phát huy giá trị tài liệu lƣu trữ nhân dân, tổ chức tại Trƣờng Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn(ĐHKHXH&NV) – Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 12/2012 của
Th.S Nguyễn Thị Kim Bình; bài viết: “Một số vấn đề về công tác văn thư, lưu trữ của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh”- Kỷ yếu hội thảo khoa học Lƣu trữ và Quản trị
văn phòng lần thứ hai, tổ chức tại Trƣờng ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà
Nội, tháng 11-2001 của TS. Hồ Văn Quýnh, v.v
Từ những phân tích trên đây cho thấy rằng công tác nghiên cứu về công tác văn
thƣ, lƣu trữ trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài hiện nay đang còn nhiều
vấn đề bị bỏ ngỏ. Thực tế này xuất phát từ các quan điểm về tính sở hữu tài liệu lƣu
trữ của loại hình doanh nghiệp này. Đặc biệt hơn, là hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật và văn bản hƣớng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc chỉ dừng lại
xem các doanh nghiệp nói chung là các “tổ chức kinh tế”. Do đó, hầu hết các công
trình này chỉ dừng lại nghiên cứu công tác văn thƣ, lƣu trữ trong doanh nghiệp Nhà
nƣớc (doanh nghiệp do Nhà nƣớc đầu tƣ vốn vì thế tài liệu lƣu trữ của loại hình doanh
nghiệp này thuộc về sở hữu của Nhà nƣớc). Còn đối với công tác văn thƣ, lƣu trữ
trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thì hầu nhƣ chƣa có công trình
nghiên cứu khoa học nào phản ánh một cách toàn diện. Tuy nhiên, những công trình
nghiên cứu, các bài viết kể trên cũng nhƣ hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nƣớc và
kinh nghiệm các nƣớc về tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ sẽ là cơ sở lý luận để tác
giả thực hiện đề tài này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận: Tác giả thực hiện đề tài này trên cơ sở phƣơng pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Đây là những phƣơng
pháp mang tính chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu. Phƣơng pháp này đƣợc
tác giả sử dụng để phân tích, nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan về tình hình
thực tiễn của hoạt động tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp
100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trên cơ sở vận dụng phƣơng pháp luận trên, tác giả
nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lƣu trữ trong các

tác văn thƣ, lƣu trữ, văn bản hình thành trong hoạt động của doanh nghiệp của
GS.TSKH Nguyễn Văn Thâm, PGS.TS Vũ Thị Phụng, Ví dụ nhƣ đề tài Hệ thống văn
bản quản lý hình thành trong hoạt động của một số loại hình doanh nghiệp (đề tài
nghiên cứu cấp ĐHQG Hà Nội). Nguồn tƣ liệu thứ hai là các đề tài luận văn Thạc sĩ
nghiên cứu về công tác văn thƣ, lƣu trữ trong các doanh nghiệp của Th.S Nguyễn Văn
Báu, Th.S Nguyễn Thị Kim Bình, Th.S Lã Thị Hồng Ví dụ nhƣ đề tài: Tổ chức quản
lý công tác lưu trữ của các Tổng công ty 91”. Nguồn tƣ liệu thứ ba mà tác giả sử dụng
là các sách chuyên khảo và giáo trình giảng dạy về ngành văn thƣ, lƣu trữ. Ví dụ nhƣ
cuốn Giáo trình Nghiệp vụ Lưu trữ cơ bản (dùng trong các trƣờng THCN) của
PGS.TS Vũ Thị Phụng, Nguyễn Thị Chinh Nguồn tƣ liệu thứ tƣ tác giả sử dụng là
các bài viết trên Tạp chí Văn thƣ Lƣu trữ Việt Nam và một số báo cáo của các Hội
thảo khoa học trong nƣớc và quốc tế có nội dung liên quan đến công tác văn thƣ, lƣu
trữ doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ bài viết: “Một số biện pháp bước đầu nhằm thực hiện
quản lý Nhà nước đối với công tác lưu trữ của các doanh nghiệp” của Th.S Nguyễn
Thị Kim Bình trên Tạp chí Văn thƣ Lƣu trữ Việt Nam. Nguồn tƣ liệu chính thứ năm là
các sách dịch từ tiếng nƣớc ngoài của Cục văn thƣ và lƣu trữ Nhà nƣớc và các tác giả
thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học Văn thƣ Lƣu trữ thuộc Cục. Ví dụ nhƣ cuốn
“Thực tiễn lưu trữ Pháp tập I và tập II của Cục Lƣu trữ Pháp. Một nguồn tƣ liệu chủ
yếu nữa đƣợc tác giả dùng là các văn bản của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
trên địa bàn Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai quy định về hoạt động tổ chức và quản
lý công tác lƣu trữ trong chính các doanh nghiệp này. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng
16

các văn bản pháp luật liên quan đến công tác văn thƣ, lƣu trữ của doanh nghiệp và liên
quan đến hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
7. Bố cục của đề tài
Nội dung của đề tài bao gồm ba chƣơng lớn nhƣ sau:
Chương 1: Thành phần, nội dung và ý nghĩa của tài liệu lưu trữ hình thành
trong hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài(nghiên cứu các
doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai). Trong chƣơng này, tác
17

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TÀI LIỆU LƢU
TRỮ HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
100% VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI (Nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn
Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai)
1.1. Lịch sử hình thành và vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của các doanh nghiệp 100% vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài
1.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp tại Đồng Nai
a) Giai đoạn 1870 – 1986
Đồng Nai là một địa phƣơng có bề dày lịch sử trong phát triển ngành công
nghiệp và nhận đƣợc sự đầu tƣ của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài từ rất sớm. Theo Địa chí
Đồng Nai- tập 4 thì ngay từ năm 1870, đông Kresser lập một Xƣởng đƣờng ở Biên
Hòa, là chi nhánh Công ty lọc đƣờng Hồng Kông. Sau đó “năm 1880, nhà tƣ bản
Lancelot mở Nhà máy đƣờng Lạc An (tổng Chánh Mỹ Hạ). Năm 1897, nhà tƣ sản
Blondel đƣợc chính quyền tỉnh Biên Hòa cho phép khai thác gỗ ở một số khu vực
thuộc Trảng Bom, Xuân Lộc để chế biến gỗ tròn thành gỗ xây dựng, đã mở một trại
cƣa thủ công ở làng Tân Mai. Trƣớc năm 1900, một nhà tƣ sản Pháp là Pelleau xây
dựng một xƣởng sản xuất sơn và vécni chỉ hoạt động một thời gian thì ngƣng”[69;
tr.104]. Nhƣ vậy, ngay từ thế kỉ 19, đã có nhiều nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào tỉnh
Đồng Nai để xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh.
Thế kỉ 20, Đồng Nai tiếp tục nhận đƣợc ngày càng nhiều sự đầu tƣ của các chủ
sở hữu doanh nghiệp nƣớc ngoài. “Năm 1907, Công ty kỹ nghệ và lâm nghiệp Biên
Hòa đƣợc thành lập và xây dựng Hãng cƣa Tân Mai (BIF) trang bị máy móc hiện đại
thời bấy giờ - đó là nhà máy công nghiệp cỡ lớn đầu tiên đƣợc xây dựng ở Biên Hòa.

Đồng Nai (sau đổi thành Sở Công nghiệp Đồng Nai hoạt động cho đến ngày nay) để
quản lý Nhà nƣớc đối với ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Từ năm 1975 -1986, tình hình kinh tế tỉnh Đồng Nai nói chung và công nghiệp
nói riêng trải qua hai thời kỳ có tính bƣớc ngoặt quan trọng, đó là thời kỳ 1976 - 1985:
Quản lý công nghiệp nói riêng và quản lý kinh tế nói chung thời kỳ này áp dụng cơ
chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Đến 31 - 12 - 1980 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã
khôi phục và đi vào hoạt động ổn định 39 xí nghiệp quốc doanh (XNQD) do Trung
ƣơng quản lý; 46 XNQD cũ do địa phƣơng quản lý. Đồng thời tỉnh còn xây dựng mới
đƣợc 29 XNQD ; vận động thành lập 60 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp với 4.624
lao động; 376 tổ hợp sản xuất và 4.051 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp với 4.862
lao động [69;tr.104-109].
Có thể khẳng định rằng Đồng Nai nói chung và Thành phố Biên Hòa nói riêng
đã đƣợc các nhà đầu tƣ cũng nhƣ chính quyền Nhà nƣớc quan tâm đầu tƣ phát triển
công nghiệp từ rất sớm. Nhờ vậy, ở Đồng Nai đã hình thành những điều kiện về cơ sở
vật chất cần thiết cũng nhƣ xây dựng tƣơng đối hoàn chỉnh về hệ thống giao thông
cũng nhƣ các điều kiện khác cho ngành công nghiệp phát triển về sau. Lịch sử phát
triển của ngành công nghiệp ở Đồng Nai cũng là minh chứng cho thấy ở đây là một địa
chỉ có nhiều tiềm năng và là địa chỉ lý tƣởng để thu hút đầu tƣ.
b) Giai đoạn 1986 – nay
Từ năm 1986 đến nay, lịch sử công nghiệp đã chứng kiến sự đầu tƣ mạnh mẽ
của các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài vào tỉnh Đồng Nai. Sự phát triển mạnh
mẽ của ngành công nghiệp cũng đã phản ánh chính xác các chính sách và đƣờng lối
đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc đối với ngành công nghiệp. “Nghị quyết của Đại hội
tỉnh Đảng bộ Đồng Nai lần thứ IV xác định nhiệm vụ của địa phƣơng: chuyển đổi từ
19

cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, xoá bỏ bao cấp, tiến hành rà soát, sắp xếp
lại các cơ sở sản xuất, mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế
đầy đủ cho các doanh nghiệp Kết quả thực hiện trong thời kỳ này về giá trị tổng sản
lƣợng công nghiệp trên địa bàn (tính theo giá cố định 1989): năm 1985 đạt 325.794

doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó có nhiều doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài lớn đã đầu tƣ xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh tại đây.
“Khu công nghiệp Biên Hòa 1 hình thành trên cơ sở Khu kỹ nghệ Biên Hòa cũ
(1963) nhƣng diện tích quy hoạch hẹp hơn (382/511 ha). Hiện nay Khu công nghiệp
Biên Hòa 1 có tất cả 62 cơ sở sản xuất công nghiệp đang hoạt động với số lao động là
21.237 ngƣời, trong đó có 36 nhà máy, xí nghiệp quốc doanh do trung ƣơng quản lý
với 15.890 lao động; 8 nhà máy, xí nghiệp quốc doanh do địa phƣơng quản lý với
3.079 lao động; 7 doanh nghiệp tƣ nhân với 193 lao động; 11 doanh nghiệp có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài với tổng số vốn đầu tƣ là 89.833 ngàn USD và 2.075 lao động. Ngoài
các cơ sở trên còn có 3 cơ sở có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài với số vốn là 41.877 ngàn USD
đang trong giai đoạn xây dựng”[69;tr.126].
20

Khu công nghiệp Biên Hòa 2 thành lập theo quyết định số 742/TTg ngày 14 -
11 - 1995 của Thủ tƣớng Chính phủ có diện tích 400 ha. Quản lý xây dựng và kinh
doanh dịch vụ hạ tầng kỹ thuật KCN Biên Hòa 2 do Công ty SONADEZI.
“Tính đến 30 - 09 - 1997, Khu công nghiệp Biên Hòa 2 đã có 93 dự án đầu tƣ
đƣợc cấp giấy phép với số vốn đăng ký là 1.015 triệu USD, diện tích cấp cho các dự án
đầu tƣ là 210 ha và số lao động sử dụng là: 22.993 ngƣời. Trong đó: có 83 dự án có
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, (12 dự án liên doanh, 71 dự án 100% vốn nƣớc ngoài); với số
vốn đăng ký là 967 triệu USD; 10 dự án vốn đầu tƣ trong nƣớc (6 dự án quốc doanh và
4 dự án doanh nghiệp tƣ nhân) với số vốn đầu tƣ theo đăng ký là 33 triệu USD. 52 dự
án đã đi vào sản xuất với số vốn 678 triệu USD (45 dự án vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (5 dự
án liên doanh, 40 dự án 100% vốn nƣớc ngoài) có vốn đầu tƣ đăng ký là 672 triệu
USD; 7 dự án vốn đầu tƣ trong nƣớc với vốn đầu tƣ đăng ký là 26 triệu USD). Số lao
động của 52 dự án là 22.852 ngƣời”[69; tr.127]. Đến nay, số doanh nghiệp thuộc Khu
công nghiệp Biên Hòa 2 đã tăng lên 127 doanh nghiệp trong đó chiếm phần lớn là
doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Khu công nghiệp Loteco thành lập theo quyết định số 613/TTg ngày 6 - 9 -
1996 của Thủ tƣớng Chính phủ có diện tích 100 ha. Đến năm 1998 khu công nghiệp

công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và của cả nƣớc.
1.1.2. Vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trong nền
kinh tế của tỉnh Đồng Nai
Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài là hình thức doanh nghiệp đƣợc thành lập
tại nƣớc sở tại, có tƣ cách pháp nhân riêng theo luật của nƣớc sở tại với 100% vốn của
đối tác nƣớc ngoài. “Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài do phía nƣớc ngoài toàn
quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp, tự do tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
trong phạm vi pháp luật nƣớc chủ nhà quy định ”[63;tr.8] Tuy nhiên, các doanh
nghiệp FĐI có vai trò ngày càng lớn đối với nền kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung
và đối với tỉnh Đồng Nai nói riêng. Vai trò đó của các doanh nghiệp FĐI thể hiện ở
những khía cạnh nhƣ sau:
1.1.2.1. FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế của tỉnh Đồng Nai
Tỷ lệ tích luỹ vốn ở nƣớc ta nói chung và tại tỉnh Đồng Nai nói riêng còn ở mức
thấp, là một trở ngại lớn cho phát triển nền kinh tế xã hội. Với mục tiêu "xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đƣa nƣớc ta trở thành một nƣớc công nghiệp, ƣu tiên phát triển
lực lƣợng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với định hƣớng
XHCN Trong khi đó liên doanh với nƣớc ngoài, việc bỏ vốn đầu tƣ của các doanh
nghiệp trong nƣớc có thể giảm đƣợc rủi ro về tài chính. Bên cạnh đó, FDI vào Việt
Nam sẽ tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khác nhƣ
ODA(Official Development Assistance), NGO(non-governmental organization).
“Đối với Đồng Nai, doanh nghiệp FDI đóng góp đáng kể vào thu ngân sách
Nhà nƣớc của tỉnh. Các doanh nghiệp FDI đóng góp cho ngân sách Nhà nƣớc ngày
càng tăng, năm sau cao hơn năm trƣớc từ 7% đến 30%. Đến năm 2010 đạt trên 350
triệu USD (tƣơng đƣơng khoảng 6.626 ngàn tỷ đồng) chiếm trên 36% tổng thu ngân
sách của tỉnh, và năm 2011 đạt 473 triệu USD, chiếm đến 41% thu ngân sách của
tỉnh.”[41;tr.8 ]. Đây là một trong những tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ƣơng đã tiếp
nhận một nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào nền kinh tế lớn nhất trong cả nƣớc trong
nhiều năm qua.
1.1.2.2. FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển
Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trƣởng và sự phát triển

50% lao động ngoại tỉnh, giúp Đồng Nai giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 2,58% tính
đến cuối năm 2011.” [40;tr.9 ]
1.1.2.4. FDI giúp mở rộng thị trƣờng và thúc đẩy xuất khẩu
Đối với Việt Nam hiện nay, xuất khẩu là yếu tố quan trọng quyết định sự tăng
trƣởng. Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà các yêu tố sản xuất của Việt Nam đƣợc khai
thác hiệu quả hơn trong quá trình phân công lao động quốc tế. Thông qua thu hút đầu
tƣ nƣớc ngoài cho phép nƣớc ta có thể tiếp cận nhanh chóng hơn với thị trƣờng quốc
tế.
Doanh nghiệp FDI giúp cho tỉnh Đồng Nai nói riêng, Việt Nam nói chung mở
rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của đất nƣớc trên trƣờng quốc
tế. Cho đến nay ở tỉnh này đã có các nhà đầu tƣ của 39 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tƣ
xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh. “Một số thƣơng hiệu lớn đã chọn Đồng
Nai là nơi đầu tƣ lý tƣởng nhƣ: Netsle’, Amata, Fujitsu, Novatis, Formosa, Shell,
23

Phillips, Ajinomoto… Những doanh nghiệp này đã góp phần nâng cao uy tín của Việt
Nam trong suốt hơn 20 năm qua. Doanh nghiệp FDI đóng góp quan trọng vào kim
ngạch xuất nhập khẩu tỉnh Đồng Nai. Năm 2011, kim ngạch xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp FDI trong KCN đạt 6,8 tỷ USD, chiếm 70% kim ngạch xuất nhập khẩu
cả tỉnh”[41;tr.12]
1.1.2.5. FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những yếu tố đảm bảo cho Việt Nam
có thể hội nhập tốt với nền kinh tế của khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong giai đoạn
hiện nay, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng một nền kinh tế hàng hóa sẽ giúp
cho Việt Nam ngày càng đƣợc nâng cao vị thế của mình trên trƣờng quốc tế. “Đối với
Việt Nam, vốn FDI đóng vai trò nhƣ lực khởi động, nhƣ một trong những điều kiện
đảm bảo cho sự phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Một số dự án FDI góp
phần làm vực dậy một số doanh nghiệp Việt Nam đang trong điều kiện khó khăn, sản
xuất đình đốn nguy cơ phá sản”[63; tr.12].
Đối với Đồng Nai, các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là nguồn bổ

doanh hàng năm của công ty; Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý công ty; Quyết định các dự án đầu tƣ có
giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản đƣợc ghi trong báo cáo tài chính gần
nhất của Công ty, v.v ” [28;tr.4-5]. Trong đó, hầu hết các nội dung của văn bản này
đều quy định nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam của Chủ
sở hữu doanh nghiệp đối với việc thành lập, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp mình tại Việt Nam. (Quyền và nghĩa vụ cụ thể của Chủ sở hữu doanh
nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài xem phụ lục văn bản)
1.2.1.2. Chủ tịch công ty
Chức danh chủ tịch công ty là một loại chức danh quản lý chỉ có trong các
doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Đặc biệt chức danh quản lý này chủ yếu
đƣợc hình thành trong cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp do các nhà đầu tƣ thuộc
các nƣớc nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan,…Trong các doanh nghiệp
100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, đảm nhận chức danh Chủ tịch công ty thông thƣờng là
các chuyên gia, các nhà kinh doanh thuộc các nƣớc đầu tƣ. Chủ tịch công ty có thể
đƣợc cử từ công ty mẹ (ở nƣớc ngoài) hoặc các chuyên gia do Nhà đầu tƣ thuê để điều
hành và quản lý hoạt động của công ty ở Việt Nam. Theo quy định tại các văn bản
Điều lệ của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thì Chủ tịch công ty có các
quyền và nghĩa vụ nhƣ:“Chủ tịch nhân danh Chủ sở hữu công ty tổ chức thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của Chủ sở hữu công ty; có quyền nhân danh công ty thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật và Chủ sở hữu công
ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ đƣợc giao theo quy định của Luật Doanh
nghiệp và pháp luật có liên quan Chủ tịch công ty tự mình ra quyết định về các vấn
đề thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật có liên quan, Điều lệ và tự
chịu trách nhiệm về các quyết định này”[33; tr.12-13]. Ngoài ra, Chủ tịch công ty cũng
có những quyền hạn khác theo quy định của Pháp luật Việt Nam có liên quan và quy
định của Điều lệ thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (quyền hạn và
nghĩa vụ cụ thể của Chủ tịch công ty xem phụ lục văn bản).
1.2.1.3. Tổng Giám đốc (một số doanh nghiệp có quy mô nhỏ gọi là Giám đốc)
Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, Tổng

quy định của pháp luật Việt Nam và quy định của Điều lệ thành lập các doanh nghiệp
100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (quyền và nghĩa vụ cụ thể của Ban kiểm soát trong các
doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài xem phụ lục văn bản)
1.2.1.5. Các Phó Tổng Giám đốc(một số doanh nghiệp có quy mô nhỏ gọi là
Phó Giám đốc), Kế toán trƣởng
Theo kết quả khảo sát của tác giả đề tài, hầu hết các văn bản Điều lệ thành lập
các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài không đề cập đến quyền và nghĩa vụ
của các chức danh quản lý từ Phó Tổng giám đốc và các chức danh quản lý thấp hơn.
Dựa trên cơ sở khảo sát, chúng tôi trình bày khái quát về quyền và nghĩa vụ của các
chức danh quản lý kể trên nhƣ sau:
A) Phó Tổng giám đốc
Phó Tổng giám đốc trong các doanh nghệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc
các Nhà đầu tƣ/Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm từ các chuyên gia nƣớc ngoài hoặc thuê
các nhà quản lý Việt Nam có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm quản lý. Đây là
những ngƣời có chức năng tham mƣu cho Tổng Giám đốc về các lĩnh vực chuyên môn
mà họ đƣợc phân công quản lý. Đồng thời, Phó Tổng giám đốc cũng chịu trách nhiệm
26

trƣớc Tổng Giám đốc và pháp luật về các hoạt động quản lý của mình trong doanh
nghiệp. Thông thƣờng trong các doạnh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Phó Tổng
giám đốc đƣợc bổ nhiệm từ 1 đến 3 ngƣời phụ trách về các lĩnh vực nhƣ: sản xuất, tài
chính, nhân sự, Một số doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bổ nhiệm 2 đến 3 Phó Tổng
giám đốc để quản lý chung các lĩnh vực, đồng thời bổ nhiệm tiếp theo các Giám đốc
phụ trách các lĩnh vực chuyên môn sâu nhƣ: Giám đốc nhân sự, Giám đốc tài chính,
Giám đốc marketting,
B) Kế toán trƣởng
Kế toán trƣởng trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng
đƣợc thuê và bổ nhiệm từ những cán bộ kế toán có kinh nghiệm và có chuyên môn sâu
về kế toán, tài chính và kiểm toán. Kế toán trƣởng trong các doanh nghiệp 100% vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài là ngƣời giúp cho Tổng Giám đốc chỉ đạo toàn bộ công tác thống

chuyển hàng cho khách.
D) Phòng KCS (kiểm tra chất lƣợng hàng hóa, nguyên vật liệu): Chịu trách
nhiệm kiểm tra chất lƣợng hàng hóa, nguyên vật liệu. Có trách nhiệm nghiêm chỉnh
thực hiện quy định pháp luật Nhà nƣớc, quyết định và chỉ thị cơ quan cấp trên về kiểm
tra chất lƣợng hàng hóa, nguyên vật liệu.
E) Bộ phận bảo quản nguyên vật liệu hàng hóa: Có trách nhiệm xử lý hàng hóa,
nguyên vật liệu.
F) Đội xe vận tải và bốc xếp: Có nhiệm vụ bốc xếp,vận chuyển hàng
hóa,nguyên vật liệu cho khách hàng”[64;tr.25 -26].
Đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau, tùy thuộc vào quy mô sản xuất và các
nhiệm vụ cụ thể mà cơ cấu tổ chức có thể có những điểm khác nhau. Một số doanh
nghiệp thành lập phòng Hành chính – Nhân sự (tức là gộp lĩnh vực hành chính và lĩnh
vực nhân sự vào một phòng). Một số doanh nghiệp khác lại giao lĩnh vực quản lý hành
chính cho Xƣởng quản lý nhƣ trƣờng hợp công ty TNHH Mabuchi Motor. (xem phụ
lục sơ đồ cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài).
1.2.2. Các mối quan hệ công tác của doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài
Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài khi thành lập tại Việt Nam đều
phải tuân thủ các qui định của pháp luật về đầu tƣ để đƣợc cấp phép và đƣợc phép
thành lập, thuê đất, xây dựng nhà máy tại các địa phƣơng trên lãnh thổ Việt Nam.
Đồng thời, trong quá trình hoạt động sản xuất của mình các doanh nghiệp này phải
thực hiện nghĩa vụ về thuế và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Hơn nữa,
các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài cũng phải xây dựng và giữ gìn các mối
quan hệ công tác với các nhà đầu tƣ (hay còn gọi là các công ty đa quốc gia, các công
ty mẹ ở nƣớc ngoài) và mối quan hệ công tác với các đối tác. So với các doanh nghiệp
trong nƣớc thì doanh nghiệp100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có mối quan hệ công tác
phức tạp hơn. Vì thế, với năng lực quản lý yếu, kém thì các cơ quan quản lý Nhà nƣớc
cũng nhƣ các cấp chính quyền địa phƣơng sẽ khó có thể kiểm soát và thực hiện hiệu
quả công tác quản lý của mình đối với các doanh nghiệp này. Từ đó sẽ làm xuất hiện
nhiều vấn đề hạn chế trong công tác quản lý của các cơ quan Nhà nƣớc đối với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status