Quan điểm của Lênin về tô nhượng và sự vận dụng của đảng ta trong chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài. - Pdf 55

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý luận của V.I.Lênin về “tô nhượng” trong tác phẩm Bàn về thuế lương
thực là một vấn đề đã gây nhiều tranh cãi trong nội bộ nước Nga lúc đó đồng
thời đây là một yếu tố quan trọng trong hệ thống lý luận của Lê nin về chính
sách kinh tế mới và đã được Lênin chỉ đạo triển khai ở nước Nga xô viết những
năm 20 của thế kỉ XX.
Chính sách kinh tế mới ( NEP ) của Lênin và đảng Bôn sê vích – Nga ra
đời vào năm 1921, khi nền kinh tế, chính trị, xã hội nước Nga đang rơi vào tình
trạng khủng hoảng trầm trọng. Sự ra đời đúng thời điểm của chính sách kinh tế
mới đã chỉ ra con đường để khôi phục lại nền sản xuất, khôi phục và củng cố
liên minh công nông, từng bước phát triển sản xuất, xã hội ổn định, đặc biệt là
đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử nước Nga xô viết lúc bấy giờ.
Qua đó cho thấy rằng chính sách kinh tế mới là công lao to lớn và đóng
góp của xuất sắc của Lê nin vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Nó là sự kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa Mac vừa là sự sáng tạo của Lê
nin về cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế nước Nga. Đồng thời
nó chỉ ra và xác định nội dung kinh tế của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội. Vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước là xây dựng cơ sở vật
chất cho chủ nghĩa xã hội,hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, phát triển lực lượng
sản xuất cách quản lí tiến bộ nhằm đưa kinh tế và xã hội đạt tới một xã hội mới
ngày một hoàn thiện hơn.
Đảng nhà nước ta đã vận dụng một cách đúng đắn chính sách kinh tế mới
của V.I.Lênin – đó là sự vận dụng nguyên lí của chủ nghĩa Mác, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh, đây là nền tảng tư tưởng đúng đắn để từng bước giúp đảng
ta đi đúng hướng và sửa chữa những khuyết điểm trong nhận thức về chính sách
kinh tế trong thời kì quá độ, đặc biệt từ sau đại hội VI của đảng (1986) đã được
chỉnh sửa. Bởi vậy, nền tảng kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu vượt
bậc.
1


3. Mục đích, nhiệm vụ, và phạm vi nghiên cứu:
Mục đích:
Đề tài có mục đích phân tích những quan điểm của Lênin về tô nhượng
trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” và việc đánh giá việc vận dụng của
đảng nhà nước ta trong việc thu hút các công ty nước ngoài.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện và hoàn thành mục đích nêu ra ở trên, đề tài có những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề tô nhượng trong chính sách kinh tế
mới của Lênin.
- Phân tích, đánh giá các chính sách và kết quả đạt được từ việc thu hút
vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Nhận thấy vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước có phạm vi rộng và nhiều bộ
phận tạo thành. Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về tô nhượng và thực
tiễn đầu tư FDI của các công ty nước ngoài vào Việt Nam.
4. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lú luận của lý luận chủ nghĩa Mác –
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách, pháp luật của nhà nước ta về kinh tế
đối ngoại
Đề tài sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và
các phương pháp nghiên cứu khác: phân tích – tổng hợp, lịch sử - cụ thể, kết hợp
với các phương pháp như: phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xã
hội …., đặc biệt đề tài hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu của kinh tế chính trị
Mác – Lênin.
5. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài:
Đề tài góp một phần nhỏ nhằm nghiên cứu vấn đề tô nhượng và việc áp
dụng chính sách đó trong việc thu hút vốn đầu tư của các công ty nước ngoài

3

ch cng hũa bc u cũn non tr v tỡnh hỡnh chớnh tr, tỡnh hỡnh kinh t
cng khụng kộm phn khú khn, phc tp.
1.1.1. Kinh tế
Do hậu quả của chiến tranh, nền kinh tế của nớc Nga sa
sút, đình trệ.
Năm 1920, sản xuất công nghiệp giảm 7 lần so với năm
1913. Khai thác than đá và dầu mỏ giảm từ 2,5 3 lần, sản lợng
gang giảm 30 lần. Do thiếu cả nguyên liệu lẫn nhiên liệu, phần
lớn các nhà máy phải đóng cửa, đình chỉ sản xuất. Giao thông
vận tải hầu nh không còn đủ sức duy trì những mối liên hệ
bình thờng giữa các vùng trong nớc. Hơn 7 vạn km đờng sắt,
hơn một nửa số đầu máy xe lửa bị phá huỷ.
Nông nghiệp cũng bị chiến tranh tàn phá, cộng thêm hạn
hán, mất mùa. Sản lợng nông nghiệp chỉ còn khoảng một nửa
so với thời kỳ trớc chiến tranh, nạn thiếu thức ăn cho gia súc, nạn
chết súc vật đã làm kìm hãm thêm việc phục hồi ngành vận tải
và công nghiệp. Do không đủ bánh mì và các thực phẩm cần
thiết khác, các thành phố và trung tâm công nghiệp đã lâm
vào nạn đói. Nhiều công nhân phải bỏ về nông thôn để kiếm
sống. Theo sau nạn đói là sự hoành hành của các loại bệnh
dịch nguy hiểm.

5


Các chỉ tiêu về công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận
tải, tài chính đều bị giảm sút so với năm 1913.
Về cơ cấu kinh tế, Lênin đã phân tích tính chất quá độ
của nền kinh tế và chỉ rõ năm thành phần kinh tế tồn tại ở nớc
Nga khi đó là:

Ngoi nhng khú khn v kinh t thỡ nc Nga-Xụ vit vo thi im ú
cũn gp khú khn v chớnh tr c th mựa xuõn nm 1921
Trong thời điểm đó nội bộ Đảng bị chia rẽ, mất đoàn kết
giữa hai phái là Bônsêvích và Mensêvích, bọn phản cách mạng
trong nớc ra sức chống phá, kích động công nhân và nông
dân nổi loạn.
Trong thời đi cạnh đó nội bộ Đảng Bônsêvích cũng có
những mâu thuẫn, một số Đảng viên không kiên định, tỏ ra
dao động.
Chính quyền non trẻ Nga xô - viết mới ra đời nên còn
nhiều hạn chế. Nhân dân lao động (nông dân, binh lính, ngời
sản xuất hàng hoá nhỏ) tỏ ra không ổn định về t tởng chính
trị, suy giảm lòng tin vào chính quyền.
Về xã hội có nhiều phức tạp do nền kinh tế bị đình trệ,
khủng hoảng nên nạn thất nghiệp gia tăng, tệ nạn xã hội lan
tràn, mâu thuẫn xã hội bao gồm mâu thuẫn giữa các thành
phần kinh tế, mâu thuẫn giữa lợi ích của các tầng lớp nhân
dân với chính sách của nhà nớc có xu hớng ngày càng tăng mà
không đợc giải quyết.
Nhiệm vụ đặt ra lúc này là Đảng và Nhà nớc Nga xô - viết
phải củng cố liên minh công nông, khôi phục lại lòng tin của
nhân dân lao động đối với chính quyền, biện pháp cấp tốc
nhất, cơng quyết nhất là cải thiện đời sống nhân dân, nâng
cao sản xuất, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.

7


Chính sách Cộng sản thời chiến đã hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ của nó và để khắc phục những khó khăn, đa

là một giao kèo, một sự liên kết, liên minh giữa chính quyền xô
- viết, nghĩa là nhà nớc vô sản, với chủ nghĩa t bản nhà nớc,
chống lại thế lực tự phát triển t hữu (có tính chất gia trởng và
tiểu t sản) [7, 269].
Lênin viết trờng hợp hoặc ví dụ đơn giản nhất về cách
mà chính quyền xô - viết dùng để hớng bớc phát triển của chủ
nghĩa t bản vào con đờng chủ nghĩa t bản nhà nớc và về
cách mà chính quyền xô - viết du nhập chủ nghĩa t bản nhà
nớc, là chế độ tô nhợng [7, 269].
Bi th, hình thức tô nhợng chính là một sự du nhập chủ
nghĩa t bản nhà nớc, thừa nhận sự tồn tại và phát triển của chủ
nghĩa t bản nhà nớc trong lòng nớc Nga xô - viết.
Hợp đồng tô nhợng dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí.
Trong mỗi hợp đồng tô nhợng, tô nhợng chỉ quan hệ đến độc
một nhà t bản hay độc một hãng, một xanh - đi ca, các ten
hay tơ - rớt. [7, 272]. Nếu so sánh với hình thức hợp tác xã (một
trong những hình thức của chủ nghĩa t bản nhà nớc) thì tô
nhợng cho phép và thậm chí nhất thiết phải có một hợp đồng
chính xác và một thời hạn chính xác. Đồng thời chuyển từ
chế độ tô nhợng lên chủ nghĩa xã hội là chuyển từ một hình
thức đại sản xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác.
[7, 273].Cho nờn tụ nhng l mt hỡnh thc c Lờnin c bit quan tõm
trong ch ngha t bn nh nc v ó ginh mt chng bn v vn nay
Tuy vy, so với những hình thức khác của chủ nghĩa t
bản nhà nớc trong lòng chế độ xô - viết thì chủ nghĩa t bản
nhà nớc dới hình thức tô nhợng là hình thức đơn giản nhất,
rành mạch mạch nhất, sáng tỏ nhất, có hình thù rõ rệt nhất. [7,
270]. Mà theo Lênin thì: ở đây chúng ta có một hợp đồng

9

chiến thắng tình trạng vô chính phủ, tiểu t sản tự phát. Mặt
khác, nếu so sánh chủ nghĩa t bản nhà nớc trong cơ cấu nền

11


kinh tế nớc Nga lúc đó thì quan hệ sở hữu của chủ nghĩa t
bản nhà nớc cao hơn, phát triển hơn so với quan hệ sở hữu tiểu
t sản tự phát, nó điều tiết lại về tổ chức, quản lý và phân phối
trong kinh tế.
Chủ nghĩa t bản nhà nớc còn là một cơ hội để Đảng
Bônsêvích và giai cấp công nhân Nga có thể thực hiện đợc sự
chuyển giao, tiếp thu và học tập kinh nghiệm tổ chức nền sản
xuất lớn.
Theo Lênin, Chủ nghĩa t bản nhà nớc không phải là một bớc tiến liền ngay sau chế độ độc quyền t bản nhà nớc, Chủ
nghĩa t bản nhà nớc là phòng chờ đi vào chủ nghĩa nghĩa xã
hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc
thang đợc gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc thang
nào ở giữa cả [7, 256].
Tuy nhiên, để có thể sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc thì
cần phải có những điều kiện nhất định đó là: Phải có chính
quyền đợc xây dựng trên nền tảng liên minh công - nông dới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản - Đảng Bônsêvích Nga. Mặt khác là
chủ nghĩa t bản nhà nớc phải mang lại lợi ích cho chính quyền
xô - viết.
cho nờn, vn sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc không phải
là đầu hàng hay thoả hiệp với chủ nhĩa t bản mà nhà nớc Nga
xô - viết sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc nhằm mục đích
từng bớc chuẩn bị những điều kiện đầy đủ về kinh tế, cơ sở
vật chất, kinh nghiệm để đa nớc Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội

chỉnh đối lập với những quan hệ tiểu t sản vô chính phủ
[7,270].
Để có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội, Nhà nớc Nga xô - viết
phải chuẩn bị đầy đủ điều kiện, đặc biệt là phải chuẩn bị

13


đợc cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại: Không có kỹ thuật hiên
đại t bản chủ nghĩa xây dựng trên những phát minh mới nhất
của khoa học hiện đại, không có một tổ chức nhà nớc có kế
hoạch khiến cho hàng chục triệu ngời phải tuân theo hết sức
nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản
xuất và phân phối sản phẩm thì không thể nói đến chủ
nghĩa xã hội đợc.[7, 253]. Vì vậy chế độ tô nhợng dựa trên
cơ sở đại công nghiệp cơ khí hoá, sử dụng chính sách tô nhợng một khi thắng lợi sẽ đa lại cho chính quyền xô - viết một
số ít xí nghiệp kiểu mẫu - kiểu mẫu so với những xí nghiệp
của chính quyền xô - viết ngang với trình độ của chủ nghĩa
t bản tiên tiến, hiện đại, mấy chục năm nữa, những xí
nghiệp đó sẽ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nớc Nga
xô - viết. [7, 273].
Có nghĩa rằng, sử dụng tô nhợng và có một vài hy sinh là
thả cho t bản hàng chục triệu phỳ sản phẩm vô cùng quý báu
của chính quyền xô - viết, đổi lại sẽ thu đợc cơ sở vật chất
phục vụ cho quá trình cơ khí hoá và điện khí hoá. Mặt khác
nó sẽ giúp cải thiện đợc nhanh chóng (đến một mức độ nào
đó không cao lắm) tình trạng sản xuất, đời sống của công
nhân và nông dân. [7, 270].
Sử dụng tô nhợng là một sự du nhập chủ nghĩa t bản
nhà nớc, vậy nó có nguy hiểm cho chính quyền xô - viết

xuất, củng cố chính quyền, áp dụng những lý luận của chủ
nghĩa Mác vào thực tiễn, chống lại tình trạng phân tán của
những ngời sản xuất nhỏ và phần nào chống lại cả bệnh quan
liêu. [7, 294], dù rằng trong việc sử dụng tô nhợng và các hình
thức khác của chủ nghĩa t bản nhà nớc sẽ phải trả học phí,
nhng chính quyền xô - viết có thể và phải học tập nhiều nữa
ở bọn t bản. [7, 280].

15


Tuy nhiên, trong những mức độ và điều kiện cho phép,
tô nhợng sẽ có lợi nhng cần phải lu ý rằng tuỳ thuộc vào sự so
sánh lực lợng, chính cuộc đấu tranh sẽ quyết định điều đó,
vì tô nhợng cũng là một hình thức đấu tranh, là sự tiếp tục
của đấu tranh giai cấp dới một hình thức khác, chứ tuyệt nhiên
không phải là sự thay thế đấu tranh giai cấp bằng hoà bình
giai cấp. Thực tiễn sẽ chỉ rõ những phơng thức đấu tranh [7,
234]. Du nhập chủ nghĩa t bản dới hình thức tô nhợng ở đây
có rất nhiều lợi thế cho nên nền kinh tế nớc Nga, nó không nguy
hiểm nhng cũng không có nghĩa rằng chính quyền xô - viết
đã chấm dứt cuộc đấu tranh giai cấp. Lúc này đấu tranh giai
cấp đã chuyển sang một hành thức mới, đó là đấu tranh trên
mặt trận kinh tế trong môi trờng hoà bình và cũng rất khốc
liệt vì đây là giai đoạn đấu tranh ai thắng ai.
Vấn đề đặt ra cho chính quyền xô - viết lúc này là
phải biết áp dụng những nguyên tắc, những nhuyên lý, những
cơ sở của chính sách tô nhợng (tức là giống nh chủ nghĩa t
bản nhà nớc trong lĩnh vực tô nhợng) vào những hình thái
khác của chủ nghĩa t bản, của tự do buôn bán, của những trao

2.1. Quan niệm của Đảng và nhà nớc ta về thu hút vồn
đầu t nớc ngoài trong phát triển kinh tế xó hi
Trc tiờn chỳng ta phi khng nh rng ch ngha Mỏc Lờnin v t
tng H chớ Minh l nn tng v kim ch nam cú tớnh nguyờn tc i vi cỏch
mng vit nam,l bc phỏt trin v nhn thc v t duy lý lun ca ng ta
trong cụng cuc i mi nhm phỏt trin kinh t xó hi hin nay.
Đại hội Đảng VI đảng cộng sản Việt Nam(12/1986) đánh
dấu bớc ngoặt về đổi mới nhận thức; lí luận và chính sách.
Những t tởng của Lênin trong chính sách kinh tế mới vợt qua
những nhận thức cũ, duy ý chí...vấn đề đặt ra là quan điểm

17


công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Chủ nghĩa t bản nhà nớc
trong chính sách kinh tế mới đợc Đảng ta vận dụng sáng tạo
trong quan điểm thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Năm 1987, Đảng ta ban hành 2 đạo luật đó là:Luật đầu
t trong nớc và luật đầu t nớc ngoàikhẳng định sự đúng đắn
trong chủ trơng, đờng lối chính sách mở cửa nền kinh tế của
Đảng ta. Với sự ra đời củaluật đầu t nớc ngoàiđã tạo nhiều
điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài
vào Việt Nam, cũng nh việc nhập khẩu trang thiết bị máy móc
phục vụ cho sản xuất.
Từ năm 1987 đến nay luật đầu t nứơc ngoài đã đợc bổ
sung, sửa đổi để phù hợp với kinh tế trong nớc và thị trờng
quốc tế. Luật đầu t đợc sửa đổi vào các năm 1990,1992,
1996, 2000 đã tạo nhiều thuận lợi cho sự đầu t nớc ngoài. Đặc
biệt vào năm 2005 Quốc hội ban hành luật đầu t nớc ngoài có
hiệu lực từ ngày 01/07/2006 và thay thế cho luật đầu t nớc

tế thời mở cửa, việc thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài có ý
nghĩa vô cùng to lớn. Đảng và nhân dân ta có nhiều thành tựu
vợt bậc trong sự phát triển kinh tế nhất là việc thu hút vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài.
Từ năm 1988 n nay Việt Nam có kết quả thu hút vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài là hn 200 dự án với tổng số vốn đăng kí
cấp mới 2,1 tỉ USD. Việc đầu t trực tiếp nớc ngoài không ảnh hởng đến kinh tế xã hội. Trong giai đoạn 1991-1995 vốn đầu t
nớc ngoài tăng lên là 1409 dự án với tổng vốn đăng kí cấp mới là
18,3 tỉ USD. Đến thời gian từ năm 1991 -1996 con số thu hút
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tăng lên nhanh chóng là 1781 dự
án đợc cấp phép trên tổng số vốn đăng kí là 28,3 tỷ USD. Đây
là giai đoạn mà môi trờng đầu t tại việt nam thu hút nhiều nhà

19


đầu t kinh doanh của một số nớc trong khu vực. Trong 3 năm
1997-1999 có 961 dự án đợc cấp phép trên tổng số vốn đăng
kí hơn 13 tỷ USD chủ yếu là các dự án vừa và nhỏ. Từ năm
2000-2003 dòng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào việt nam có
nhiều điểm khởi sáng. Vốn đăng lí cấp mới năm 2000 đạt
2,7 triệu USD, tăng 2,1% so với năm 1999; năm 2001 so với năm
2000 tăng 18,2%; năm 2003 tăng 6% so với năm 2001; năm 2005
tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4%; vào năm 2007 đạt mức kỉ
lục là 20,3 tỉ USD tăng 69% so với năm 2006.
Với việc thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài nh vậy, đã tác
động đến sự phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác, tạo
nhiều cơ sở sản xuất phát triển, tận dụng đợc nguồn lực lao
động dồi dào, nhân công rẻ, thị trờng mới. Việc tăng thu hút
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở mỗi giai đoạn khác nhau và tập

2006-2007, quy mô vốn đầu t trung bình của một dự án ở mức
15 triệu USD cho thấy số dự án có quy mô lớn có tăng lên so với
thời kì trớc, đó là do đợc sự quan tâm của một số tập đoàn
đa quốc gia đầu t vào một số dự án lớn(Intel, Panasonic,
Honda...).
Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu quan trọng nhất để phát
triển kinh tế thị trờng. Trong năm 1987 chúng ta chú trọng thu
hút vốn đầu t vào lĩnh vực công nghiệp- xây dựng. Trong
những năm 1990 thực hiện chủ trơng thu hút vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài chính phủ ban hành chính sách u đãi, khuyến
khích các dự án: sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu,
sản xuất hàng xuất khẩu, sử dụng nguòn nhiên liệu trong nớc và
có tỉ lệ nội địa hoá cao.

21


Nhng sau khi gia nhập WTO, Việt nam đa dạng hơn trong
vấn đề cơ cấu để thu hút vốn đầu t. Cụ thể: Thu hút đầu t
nớc ngoài lĩnh vực công nghiệp- xây dựng tuy có thay đổi về
lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhng cơ bản vẫn theo định hớng
khuyến khoách sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao,
công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính
xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử. Đây cũng chính
là các dự án tạo ra giá trị gia tăng cao. Cơ cấu đầu t có chuyển
biến tích cực theo hớng gia tăng tỉ trọng đầu t vào lĩnh vực
cao, lọc dầu và công nghệ thông tin với sự có mặt của các tập
đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới nh Intel, Panasonic,
Canoon. Hầu hết các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài này sử
dụng thiết bị hiện đại gần 100% và tự động hoá đạt 100%

phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của
ngành, trong, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế
biến mía đờng, gạo. Tiếp là các dự án trồng rừng và chế biến
lâm sản chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành. Còn
chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7%. Còn chỉ
chiếm gần 9% là trong các dự về trồng trọt.
Từ năm 1988 cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh
thổ đầu t trực tiếp vào ngành nông- lâm- ng nghiệp. Các nớc
châu á nh Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc,...chiếm 60% tổng
vốn đầu t vào nông nghiệp. Các nớc thuộc EU đầu t vào Việt
Nam có Pháp là 8%, quần đảo British Virgin Islands là 11%.
Hin nay, thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc trải rộng
cả nớc, nhng chủ yếu đợc tập trung các vùng trọng điểm, thuận
lợi trong phát triển kinh tế. ở phía Bắc có 2220 dự án với tổng
vốn đầu t trên 24 tỷ USD chiếm 26% dự án chiếm 27% vốn
đăng ký của cả nớc và chiếm 24% tổng vốn đã thực hiện cả nớc. Hà Nội đứng đầu với 987 dự án, Hải Dơng 271 dự án, Hải

23


Phòng 268 dự án, Vĩnh Phúc 140 dự án, Hà Tây là 74 dự án. Đó
là việc đầu t ở vùng phía Bắc, còn ở Miền Nam thì việc thu
hút vốn rất mạnh vì nó là vùng sôi động. Với 5293 dự án, tổng
vốn đầu t 44,87 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký. Thành
Phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nớc với 2398 dự án, tổng vốn là
16,5 tỷ USD chiếm 36,9% tổng vốn của cả Miền Nam. Đồng Nai
918 dự án, vốn đăng ký 11,6 tỷ USD chiếm 25,9% của Miền
Nam. Bình Dơng chiếm 18,8% tổng vốn của Vùng. Bà RịaVũng Tàu với 159 dự án chiếm 13,6% và các địa phơng khác. ở
các vùng Miền Trung thu hút đợc 491 dự án với tổng vốn đăng
ký là 8,6 tỷ USD trong vòng hơn 20 năm chiếm 6% tổng vốn

STT Chuyờn ngnh S d ỏn TVT Vn iu l
TT Chuyờn ngnh
I Cụng nghip v xõy dng
CN du khớ
CN nh
CN nng

S d ỏn
6,340
47

TVT
Vn iu l
84,846,166,474 29,516,774,539
14 4753 418 4656 341 815

2814

15
15

2592

806
41 436 809 740 14 091 426 566
25

5463

50 6834 306 739


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status