Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 12

Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
LỜI MỞ ĐẦU
Đi lên từ một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Việt
Nam đã trải qua 2 cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc kéo dài, cùng với
đó là một chế độ kế hoạch hoá tập trung không còn phù hợp với thời
bình. Điều đó sẽ đưa nền kinh tế nước ta vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng. Nó thể hiện ở chỗ đời sống cua nhân dân thấp kém dưới
mức trung bình,cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, y tế, giáo dục không
được đảm bảo. Trước tình hình đó Đảng và nhà nước ta đã thực hiện một
cải cách lớn: chuyển dịch kinh tế nước ta từ kinh tế kế hoạch hoá tập
trung – nền kinh tế “đóng cửa”sang nền kinh tế hàng hoá - nền kinh tế
cửa.Sau đại hội VI tháng 8/1986, năm 1997 nhà nước ta ban hành và
thực hiện luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Điều này xuất phát từ nhu
cầu vốn đầu tư quốc tế không thể thiếu trong điều kiện vốn nước hạn hẹp.
Như vậy huy động và sử dụng nguồn lực nước ngoài là giải pháp quan
trọng đưa kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng khó khăn.Việc thực thi
định hướng nền kinh tế 19 năm qua góp phần đáng kể vào các thành tựu
cải cách trong đó có cả việc thu hút một khối lượng không nhỏ vốn nước
ngoài.Nhất là từ` khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN có sự quản lí của nhà nước trong mấy năm qua, với những thành
tựu đáng kể, một mặt chỉ ra giải pháp phát triển tổng quát đáng tin cậy,
mặt khác nó làm rõ các giới hạn cần được vượt bỏ để nền kinh tế có thể
phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Trong số các giới hạn, nguồn vốn
phát triển hiện đang là một trong các thách thức to lớn nhất, khó khắc
phục nhất.
Chính sự quan trọng của vốn quốc tế trong công cuộc phát triển và xây
dựng đất nước, đặc biệt khi nước ta đang trong tiến trình thực hiện công
nghiệp hiện đại hoá thì nó càng trở nên cấp thiết. Nó có thể rút ngắn thời
gian thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Vì vậy mà thu hút đầu tư
1

Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
thế một phần cho xuất khẩu hàng hoá. Như vậy sự khác biệt giữa xuất
khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá là ở chỗ khi xuất khẩu hàng hoá thì
nhà tư bản thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài. Cùng với thời gian,
xuất khẩu tư bản đã bổ sung cho xuất khẩu hàng hoá và ngày càng phát
triển không ngừng. Xuất khẩu tư bản về cơ bản được thực hiện dưới hình
thức hợp tác đầu tư quốc tế.
Hoạt động đầu tư là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Vì vậy nó trở thành một trong
những vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm đến. Từ trước tới nay đã có
nhiều định nghĩa về đầu tư nhưng chung quy lại nó đề có một nội dung cơ
bản.
Vậy đầu tư là gì?
• Đầu tư quốc tế là một quá trình hoạt động kinh tếmà bên nước
ngoài hoặc các tổ chức viện trợ quốc tế bỏ vốn vào một nước
để xây dựng, tạo lập cơ sở trong một hoặc nhiều lĩnh vực kinh
tế xã hội nhằm mục đích tạo ra sự thu nhập, lợi ích hoặc tạo ra
công ăn việc làm trong tương lai.
• Hợp tác đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế trong đó các
nhà đầu tư nước ngoài ( tổ chức cá nhân ) đưa vốn hoặc bất kì
hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện
các hoạt động sản xuất và kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi
nhuận và đạt được các hiệu quả xã hội.
Bất kì một quốc gia nào khi quan tâm tới đầu tư quốc tế đều phải quan
tâm tới nguồn đầu tư trực tiếp( FDI) và nguồn viện trợ phát triển nước
ngoài.
• Nguồn viện trợ chính thức ODA là các khoản việ trợ không
hoàn lại hoặc cho vay với những điều kiện ưu đãi của các cơ
quan tài chính thuộc các tổ chức quốc tế các nước, các tổ

• Ưu điểm:
4
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
_ Vốn vay chủ yếu dưới dạng tiền tệ, dễ trở thành các phương
tiện đầu tư khác.
_ Nước tiếp nhận đầu tư toàn quyền chủ động sử dụng vốn đầu
tư cho các mục đích riêng lẻ của mình.
_ Chủ đầu tư nước ngoài có thu nhập ổn định, thông qua lãi suất
của số tiền cho vay không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh.
_ Nhiều nước chủ đầu tư thông qua hình thức này đã trói buộc
một số nước vào vòng ảnh hưởng của mình.
• Nhược điểm:
_ Hiệu quả sử dụng vốn càng thấp do bên nước ngoài không
trực tiếp tham gia điều hành đối hành họ bỏ vốn đầu tư. Và hậu
quả là nhiều nước chậm phát triển lâm vào tình trạng nợ nần,
thậm chí có nước mất khả năng chi trả từ đó đưa đến sự phụ
thuộc vào chủ nợ.
Hình tức này phụ thuộc nhiều vào bên đi vay và bên cho
vay.
1.2.3. Đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước
ngoài đóng góp một ssố vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ,
cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng họ bỏ vốn đầu tư.
Trong trường hợp này quyền sở hữu vốn thống nhất với quyền sử dụng
vốn.
• Ưu điểm.
_ Mặc dù hình thức này vẫn chịu sự chi phối của chính phủ
nhưng có phần ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị của hai bên

trong đầu tư và GNP. Vì thế mà đầu tư nước ngoài tuy không phải là
nhân tố quyết định nhưng lại vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế
xã hội.
2.1.1. Vai trò tạo nguồn vốn.
Vốn cho đầu tư phát triển kinh tế bao gồm:
6
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
+Vốn trong nước.
+ Vốn nước ngoài.
Đối với các nước lạc hậu, sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốn
tích luỹ được trong nứơc còn chưa nhiều thì vốn đầu tư nước ngoài có ý
nghĩa cực kì quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế. Ở các giai
đoạn này có nhiều tiềm năng về phát triển lao động, tài nguyên thiên
nhiên nhưng trình độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèo
nàn , lạc hậu nên chưa có điều kiện khai thác các tiềm năng ấy. Các nước
này chỉ có thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quân của sự nghèo đói bằng
cách tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tế
cao và ổn định. Để thực hiện được điều này đòi hỏi các nước đang phát
triển phải có vốn đầu tư. Trong điều kiện hiện nay, khi mà trên thế giới
đang có nhiều nước nắm giữ trong tay một khối lượng vốn khổng lồ và có
nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là cơ hội để các nước phát triển có
thể tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào việc phát triển kinh tế.
2.1.2 Vai trò trong chuyển giao công nghệ.
Các quốc gia nhận được đầu tư thường là các quốc gia có nền kinh
tế chậm phát triển, khoa học, công nghệ còn cách xa so với các quốc gia
phát triển. Vì thế các nước nhận đầu tư nước ngoài đều muốn có một
công nghệ hiện đại hoặc có thể dễ chấp nhận được với quốc gia mình.Mặt
khác ta cũng thấy khi đầu tư vào một quốc gia nào đó, chủ đầu tư không
chỉ chuyển vào nước đó vốn bằng tiền mặt mà còn chuyển vốn hiện vật

tiềm năng về lao động. Ở Việt Nam hiện có khoảng 100.000 người đang
làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với sự
tăng lên của số việc làm cho người lao động thì chất lượng lao động cũng
được nâng cao.
2.1.5. Vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là yêu cầu, đòi hỏi của bản
thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc
tế hoá đời sông kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Sự dịch
chuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển
8
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước
ngoài. Ngược lại chính đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là FDI lại góp phần
chủ yếu nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù nguồn
ODA góp phần trực tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế không lớn
nhưng nó lại góp phần gián tiếp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì thông
qua đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện những lĩnh vực và ngành
kinh tế mới ở nước nhận đầu tư. Đồng thời nó cũng tạo ra sự phát triển
nhanh chóng trình độ kĩ thuật công nghệ ỏ nhiều ngành kinh tế, góp phần
thúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỉ phần của
nó trong nền kinh tế. Bên cạnh một số ngành được kích thích phát triển
bởi đầu tư nước ngoài thì cũng có một số ngành bị mai một đi rồi tiến tới
bị xoá sổ. Nói chung sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế mang tính tiến bộ
chung của xu thế chung thế giới.
2.1.6. Vai trò đối với thu ngân sách nhà nước.
Đầu tư nước ngoài góp phần đang kể vào thu ngân sách nhà nước
thông qua việc thu thuế đối với các đơn vị đầu tư nước ngoài. Đây là một
khoản thu tương đối lớn cho ngân sách nhà nước. Nó bao gồm thu: thuế
nhà đất, thuế sản xuất, thuế xuất khẩu vì các đơn vị đầu tư nước ngoài

được cái gì? sẽ thu lợi nhuận là bao nhiêu? sẽ mất cái gì? xuất phát từ
tình hình kinh tế các nước đầu tư. Các nước đầu tư thường là các nước có
nền kinh tế phát triển. Do lợi nhuận thu được từ trong nước ngày càng
giảm đi vì số lượng nhà đầu tư ngày càng tăng, mức độ cạnh tranh ngày
càng khốc liệt. Mặt khác các nhà đầu tư mới tham gia thị truờng trong
nước sẽ gặp phải khó khăn khi tìm kiếm thị trường, đáp ứng nhu cầu thị
trường, đối mặt với các nhà đầu tư lớn có nhiều kinh nghiệm. Cộng thêm
với nó là nhu cầu trong nước về kĩ thuật, công nghệ cao, giá rẻ, chất
lượng cao và nguồn nguyên liệu đầu vào như giá nhân công là điều hiển
nhiên. Chính vì thế mà đầu tư trong nước mình sẽ không có lợi. Xuất phát
từ đây các nhà đầu tư đem vốn sang đầu tư ở các nước khác, các nước
khác ở đây thường là các quốc gia đang phát triển.
Vậy chủ đầu tư được gì?
10
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thứ nhất, phần lớn các nước này là những nước công nghiệp phát
triển mà tỉ suất lợi nhuận ngày càng có xu hướng giảm và kèm theo là
hiện tượng thừa tương đối tư bản ở trong nước. Cho nên, bằng hình thức
đầu tư trực tiếp quốc tế, các nước này đã sử dụng những lợi thế của nơi
tiếp nhận sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như tỉ suất lợi
nhuận của vốn đầu tư.
Thứ hai, đầu tư quốc tế khắc phục được tình trạng lão hoá sản
phẩm tức là thông qua đầu tư quốc tế( thường gọi là đầu tư trực tiếp) các
nước tư bản đã di chuyển một bộ phận sản xuất công nghiệp, phần lớn là
máy móc ở giai đoạn lão hoá sang các nước kém phát triển để tiếp tục sử
dụng, kéo dài hơn chu kì sống của sản phẩm. Vào những năm 70 khi cuộc
khủng hoảng cơ cấu nổ ra trong chiến lược tái triển khai công nghiệp lúc
đó, các nước tư bản đã phát triển đã di chuyển một bộ phận công nghiệp
có kĩ thuật đơn giản dùng nhiều lao động mà gây ô nhiễm môi trường bao

Cũng xuất phát từ quan điểm và lợi ích, các nước nhận đầu tư đều
muốn tăng trưởng kinh tế để có thể đuổi kịp các nước phát triển. Các
nước nhận đầu tư thường có xuất phát điểm thấp, thể hiện: mức thu nhập
trên đầu người thấp, GDP thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu,
tiềm năng về vốn bị hạn hẹp. Do đó nhu cầu về vốn đầu tư của nước
ngoài là tất yếu,song không phải luôn luôn như vậy. Một số quốc gia có
nên kinh tế phát triển rất cao nhưng vẫn tăng cường thu hút vốn đầu tư
nước ngoài vì họ thấy rằng đầu tư trong nước không đáp ứng nổi, ngoài
ra còn do một số lĩnh vực quá mới đối với các nước nhận đầu tư cho nên
đầu tư từ nước ngoài vẫn đem lại lợi ích cao hơn từ đầu tư trong nước.
Vậy nước nhận đầu tư sẽ được hưởng những ích lợi gì?
Trứơc hết đối với những nước phát triển như Mỹ và Tây âu thì:
+ Thứ nhất, giúp Mỹ giải quyết những vấn đề khó khăn
trong nước như thất nghiệp, lạm phát.
+ Thứ hai, cứu nguy cho một số xí nghiệp trên bờ vực phá
sản thông qua việc các chủ đầu tư Nhật mua lại các xí nghiệp đó.
12
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
+ Thứ ba, tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để
giải quyết tình hình bội chi ngân sách của Mỹ.
+ Thứ tư, tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát
triển kinh tế và thương mại.
+ Thứ năm, giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinh
nghiệm quản lí tiên tiến của Nhật.
Đối với các nước chậm phát triển đầu tư quốc tế có vai trò quan
trọng như sau:
+ Thứ nhất, đầu tư quốc tế giải quyết vấn đề thiếu vốn cho
các nước này, trong giai đoạn đầu các nước này đều gặp phải vấn
đề nan giải là,thiếu vốn đầu tư do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không

giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc cải tiến cơ cấu kinh
tế, mặc dù tỉ trọng đầu tư trực tiếp trong tổng số vốn đầu tư của
một số nước không cao nhưng thường chiếm tỉ trong lớn trong đầu
tư tài sản cố định trong một số ngành quan trọng của nền kinh tế .
Tất nhiên các nước nhận đầu tư nên nhớ một điều là không có gì
cho không vì vậy phải cân nhắc thận trọng khi đưa ra quyết định và phải
lập ra kế hoạch hợp lý cho việc thu nhận và sử dụng vốn đầu tư nước
ngoài một cách có hiệu quả.
* Nói chung đầu tư và đi đầu tư có quan hệ hữu cơ. Lợi ích của những
nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư là hoàn toàn phù hợp với nhau.
III. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI.
3.1. Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.
Nói chung sự ổn định của môi trường vĩ mô luôn là điều kiện tiên
quyết cho mọi ý định và hành vi đầu tư . Đối với những nguồn vốn nước
ngoài, điều này lại càng có ý nghĩa hơn. Trong môi trường vĩ mô phải
tính trước hết đến sự ổn định chính trị, xã hội. Lịch sử thế giới cho thấy
rằng quốc gia nào mất ổn định về chính trị, xã hội như một số nước Châu
Phi, Nam Á gần đây tuy có thể thu hút được một số viện trợ nào đó song
mức độ là không đáng kể. Trong bối cảnh đó, rất ít, hoặc thậm chí không
14
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
có vốn đầu tư hoặc cho vay từ nước ngoài nhằm mục tiêu phát triển đổ
vào. Tuy nhiên ở đây, điều muốn được nhấn mạnh hơn là mức độ ổn định
kinh tế vĩ mô với tư cách là điều kiện quan trọng để thu hút vốn nước
ngoài.
Không xét đến những tiêu chuẩn tối thiểu bảo đảm mức độ ổn định kinh
tế vĩ mô, chẳng hạn như lương thực, khả năng duy trì cung cầu đối với
một số mặt hàng tiêu dùng tối thiểu, tính ổn định ở đây được xét theo

sở hữu và sử dụng công trình được xây dựng bằng vốn nước ngoài
sao cho người đầu tư thu được phần lợi nhuận thích đáng tạo nên
sức hấp dẫn đặc biệt đối với nhà đầu tư và cho vay quốc tế.
• Thứ hai, quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận đối với các
hình thức vận động cụ thể của nước ngoài tại nước sở tại. Về
nguyên tắc, quy chế này nhằm tạo ra sự ưu đãi về phần lợi nhuận
mà nhà đầu tư nước ngoài được hưởng và môi trường thuận lợi cho
sự vận động đó. Đồng thời sự thuận lợi đó nếu được đảm bảo còn
khuyến khích việc bắt đầu từ lợi nhuận tại lãnh thổ do nhà đầu tư
cảm thấy yên tâm và có lợi trong một môi trường như vậy.
Để thấy rằng hai điểm mấu chốt này của môi trường pháp lý là
thuận lợi hơn, an toàn hơn cho sự vận động của vốn nước ngoài thì khả
năng thu hút vốn càng cao. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý tới những quy
định pháp lý cụ thể có liên quan đến việc làm thuận lợi hoá môi trường
vận động của vốn. Các đạo luật về quyền sở hữu đất đai, quyền chuyển
nhượng và thuê mướn đất, quy chế về trọng tài kinh tế nếu không rõ
ràng, lại có thể gây trở ngại đáng kể trong việc thu hút và sử dụng có
hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài.
3.3. Tính ổn định của nền kinh tế thế giới
Sự ổn định của nền kinh tế thế giới cũng tác động không nhỏ tới
thu hút vốn đầu tư của các nước. Thực tế cuộc khủng hoảng kinh tế
Đông Nam Á diễn ra vào năm 1997 – 1998 vừa qua đã cho thấy khi
nền kinh tế khu vực hay thế giới không ổn định sẽ dẫn tới việc rút vốn
16
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
ra không đầu tư nhà nước nữa do tác động xấu đem đến sự phi lợi
nhuận từ việc đầu tư vào các quốc gia này. Mặt khác sự không ổn định
kinh tế của cả nước đầu tư cũng ảnh hưởng tới đầu tư sang nước khác
và sự rút vốn về nước ở tại là điều hiển nhiên. Các nước ở khu vực

điều kiện khắt khe, vì vậy để chấp nhận được đầu tư đòi hỏi các bên
đầu tư phải cạnh tranh nhau và nhà đầu tư nào đáp ứng tốt sẽ được
chấp nhận. Song trường hợp này xảy ra rất ít mà trái lại các nước nhận
đầu tư thì nhiều còn các nước đi đầu tư thì lại rất ít. Cho nên để có các
nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi các ước nhận đầu tư phải có những
chính sách thích hợp trong việc thu hút đầu tư nước ngoài mỗi nước sẽ
tìm cho mình một giải pháp tốt nhất để thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài vào sản xuất kinh doanh nhưng không phải bằng bất kì hình thức
nào, mục đích chính là thu hút được nhiều nhà đầu tư nhất với số vốn
cao vào nhiều ngành, trong nhiều lĩnh vực mới, quan trọng.
Qua đó cho thấy sự cạnh tranh giứa các nước đi đầu tư và nhận đầu
tư cũng là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ VIỆN
TRỢ PHÁT TRIỂN NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.
I. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
NĂM QUA.
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
1.1. Tình hình đầu tư nước ngoài trong những năm qua.
18
Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
FDI là hình thức đầu tư có vai trò quan trọng trong sự phát triển của
nền kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù vẫn chịu sự chi phối trực
tiếp của các chính phủ nhưng có điều ít lệ thuộc vào mối quan hệ giữa hai
bên. Theo hình thức này bên nước ngoài trực tiếp tham gia điều hành
quản lý kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án là khá cao. Lợi ích của
nhà đầu tư gắn chặt với các dự án đó, các nhà đầu tư rất quan tâm đến
hiệu quả kinh tế của các dự án và tiến hành quản lý kinh doanh rất chặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status