Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài tại KCN - KCX vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Pdf 23

Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao hiệu quả đầu
tư nước ngoài tại KCN - KCX vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
MỤC LỤC
Chương 1: Khái quát sự hình thành và phát triển KCN-KCX ở Việt Nam
I. Khái niệm và đặc điểm của KCN, KCX
1. Khái niệm khu công nghiệp – khu chế xuất
2.Vai trò của khu công nghiệp – khu chế xuất
2. Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội
3.Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp - khu chế xuất ở Việt Nam:
4. Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu công nghiệp - khu chế xuất ở Việt Nam đến hết năm
2006
Chương II: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp - khu chế
xuất tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
I. Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào KCN, KCX cả nước
1. Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư vào KCN, KCX ở Việt Nam (tính theo vốn đầu tư đăng ký
2. Tình hình đầu tư nước ngoài
II. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp - khu chế xuất tại vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có ảnh hưởng đến thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp - khu chế xuất nói
riêng
1.1. Thuận lợi
1.2. Khó khăn
2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX tại Vùng KTTĐ Bắc Bộ
I. Đánh giá thực trạng thu hút ĐTTTNN vào khu công nghiệp – khu chế xuất
1. Kết quả đạt được
2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại
Chương III: Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao hiệu
quả đầu tư nước ngoài tại khu công nghiệp - khu chế xuất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
I. Phương hướng mục tiêu của Nhà nước
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đầu tư nước ngoài tại khu công nghiệp - khu chế xuất

các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lí xác
định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập”.
1.1.2. Đặc điểm KCN-KCX:
2
Cho đến nay, các KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm và
phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nói chung các KCN có những đặc điểm chủ yếu
sau :
Về tính chất hoạt động : Là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không có dân cư (gọi chung là doanh
nghiệp KCN), KCN là nơi xây dựng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công
nghiệp hoặc các đơn vị kinh doanh dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp. Theo điều
6 Quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm Nghị định 36/CP thì doanh nghiệp KCN
có thể là các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài hoặc các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Các doanh
nghệp này được quyền kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể sau:
- Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng.
- Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu dùng
ở trong nước; phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công
nghệ.
- Nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và
tạo ra sản phẩm mới
- Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ thống điện nước, điện thoại… Thông
thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN do một công ty xây dựng và phát triển
cơ sở hạ tầng đảm nhiệm. Ở Việt Nam những công ty này là các doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực hện. Các

“chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là bước đột phá trong quan điểm
của Đảng, đóng vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong
những năm qua.
4
 Để hội nhập và phát triển trong điều kiện nền tích luỹ nội bộ còn thấp
thì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng. Khu công nghiệp, khu
chế xuất là một mô hình quản lý kinh tế hiện đại, tập trung, hiệu quả,là giải pháp hữu
hiệu nhằm huy động vốn đầu tư nước ngoài, cũng là điểm giao thoa của nền kinh tế Việt
Nam với nền kinh tế thế giới. Từ đó chúng ta có thể từng bước học hỏi, nâng cao nhận
thức và chuẩn hoá luật pháp, các quy trình và thông lệ theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa đất
nước từng bước hội nhập, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020. Theo đường lối đổi mới đó của Đảng, khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất
(KCX) ở Việt Nam ra đời và phát triển mạnh mẽ.
Từ khi khu công nghiệp đầu tiên (KCN Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh)
được thành lập năm 1991, sau 16 năm, việc xây dựng và phát triển KCN đã được Nhà
nước đặc biệt quan tâm. Tính đến hết năm 2006, cả nước có 139 KCN nằm ở 50 tỉnh,
thành phố, với tổng diện tích đất tự nhiên trên 29.000 ha (không kể các khu kinh tế tổng
hợp như Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội…). Trong đó, 90 KCN đã đi vào hoạt động, các
khu còn lại đang trong quá trình giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong
quy hoạch từ nay đến năm 2010, cả nước sẽ thành lập và xây dựng mới gần 100 KCN,
đồng thời mở rộng thêm gần 30 KCN khác, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của
các KCN (trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước) từ 26,4% hiện nay lên 35%
và tỷ lệ xuất khẩu (trong giá trị xuất khẩu cả nước) tăng 18,7% lên 32% vào 2010. Các
KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc 3 vùng kinh tế trọng điểm, là các mũi nhọn phát
triển công nghiệp của địa phương và của vùng. Số lượng các KCN được phân bố như
sau :
• Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có 25 khu, diện tích 4601 ha, lao động
Việt Nam 116.668 người.
• Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ có 67 khu, diện tích 16.565 ha, lao động
Việt Nam 592.109 người.

nhiều dự án công nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, nhiều KCN đã được Chính phủ cấp
phép thành lập mới hoặc mở rộng, như KCN Tân Trường (199,3 ha, thuộc tỉnh Hải
6
Dương); KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn (230 ha, tỉnh Bắc Ninh). KCN Ninh Phúc (Ninh
Bình) giai đoạn 1 được mở rộng thêm 40,8 ha. Chỉ tính riêng năm 2006, đã có 9 KCN
được cấp phép và bắt đầu xây dựng cơ sở hạ tầng trên cả nước với tổng diện tích là 1900
ha bằng 6,9% so với tổng diện tích KCN trước 2006, lớn nhất là KCN Phước Nam (Ninh
Thuận) có diện tích 370 ha.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006, triển vọng thu
hút đầu tư nước ngoài nói chung vào các KCN, KCX từ nay đến năm 2010 được mở
rộng hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử phát triển các KCN. Việt Nam trở thành
điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các thành viên của
WTO. Các đoàn doanh nghiệp lớn, công nghệ cao liên tục đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội
đầu tư. Nhiều dự án lớn với vốn đầu tư trên 500 triệu USD đã và đang được cấp phép và
đi vào hoạt động như dự án nhà máy sản xuất thép của Tập đoàn Posco (Hàn Quốc) tại
Khu công nghiệp Phú Mỹ 2, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,2 tỷ USD, dự án của Tập
đoàn Intel vốn đầu tư 605 triệu USD. Đối với đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp tiếp
tục phát huy hiệu quả, được đánh giá là có tiềm năng to lớn trong việc huy động vốn.
Theo dự báo, những lĩnh vực có triển vọng hơn cả trong việc thu hút đầu tư vào các
KCN trong 5 năm tới sẽ là ngành công nghiệp năng lượng (điện, than và dầu khí); tiếp
đến là công nghiệp ô tô; công nghiệp dệt may, da giày; cơ khí đóng tàu; sản xuất máy
móc, thiết bị điện tử, thiết bị thông tin, phần mềm và vật liệu xây dựng.
2. Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội
Nhờ việc tích cực thực hiện cải cách kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
theo chủ trương của Đại hội Đảng đề ra, trong 20 năm đổi mới vừa qua(1986-2006),
Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng về kinh tế cũng như đời sống văn
hoá, xã hội.
- Tỷ lệ tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm (trung bình giai đoạn 2001-
2005 đạt 7,5%), riêng năm 2006 đạt 8,17%, tổng GDP toàn xã hội ước tính đạt 61,7 tỷ
USD, GDP đầu người đạt 11,5 triệu đồng, tương đương 720 USD.

- Trong năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của DN trong các KCN cả nước
(không kể doanh thu dịch vụ) đạt 16,8 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2005 và chiếm
khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước.
- Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ USD, tăng
hơn 22% so với năm 2005 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp
xuất khẩu của cả nước.
- Trong năm, các DN KCN đã nộp ngân sách Nhà nước khoảng 880 triệu USD,
tăng 35,4% so với năm 2005.
- Số lao động trực tiếp làm việc tại KCN cuối năm 2005 là 80 vạn người, đến
cuối năm 2006 là 91,8 vạn người. Như vậy, cả năm tăng thêm 11,8 vạn người, tăng 15%
so với cuối năm 2005.
. Tại Hà Nội, vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN chiếm tỷ trọng lớn, đạt tới
98% tổng vốn đầu tư. Nguồn vốn này đóng góp 7,5% vào tổng vốn đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội của Thành phố và được coi là xung lực, tạo sự đột phá cho sự tăng
trưởng kinh tế của Hà Nội. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2005, có 67 doanh nghiệp
hoạt động trong 3 KCN tập trung đã đạt tổng doanh thu 795,4 triệu USD, xuất khẩu
550,52 triệu USD, nộp ngân sách Nhà nước 25,48 triệu USD và tạo thêm 28.160 việc
làm cho người lao động. Mặc dù các KCN của Hà Nội chỉ chiếm 16% tổng số dự án và
18% tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
nhưng lại chiếm tới 43% tổng doanh thu, 88% tổng kim ngạch xuất khẩu và 18% tổng
mức nộp ngân sách Nhà nước và đã tạo được 35% số việc làm mà các dự án đầu tư nước
ngoài trên địa bàn tạo ra.
- Thu hút lượng khá lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Riêng đầu tư trực
tiếp nước ngoài, tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn bổ sung vào các KCN trong năm
2006 đầu tư đạt 5682 triệu USD tăng gần 2 lần so với năm 2005, chiếm 56% tổng vốn
FDI đăng ký mới và bổ sung trong năm của cả nước. Tổng hợp đến cuối năm 2006, các
9
KCN đã thu hút được 2433 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 21,79 tỷ USD.
Đầu tư trong nước cũng diễn biến khả quan với hơn 300 dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 15.000 tỷ đồng (tương đương 940 triệu USD). Đến

hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế công
nghiệp hoá, thị trường, hiện đại. Nhiều KCN nói chung đã phát triển các ngành công
nghiệp hoàn toàn mới có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như thiết bị văn phòng
(Canon), điện tử (Orion -Hanel...), phụ tùng ôtô, xe máy, vật liệu xây dựng, sản phẩm
thép... Theo đánh giá, những công nghệ đang sử dụng ở các dự án FDI trong các KCN
đều hiện đại hơn công nghệ vốn có của nước ta, là cơ hội để các doanh nghiệp trong
nước học hỏi và áp dụng, nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp.
- KCN còn góp phần quan trọng vào mở rộng thị trường, đẩy mạnh kinh tế đối
ngoại và tăng kim ngạch xuất khẩu cho khu vực hành lang kinh tế. Do đa dạng hoá thị
trường, đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, các doanh nghiệp trong các KCN có
cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ
USD, chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước.
Các doanh nghiệp trong các KCN còn góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
và cơ cấu nhập khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ trong khu vực và trên thế giới.
2.3. Nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hoá cách thức quản lý sản xuất
KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với
nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng nên đây chính là điểm đến lý tưởng của các
nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài. Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế
giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay nghề của
công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam. Đây cũng là
những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Cùng với dòng vốn đầu tư nước
ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào
11
Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả
những dự án công nghiệp kỹ thuật cao (phần lớn của Nhật Bản), như Công ty TNHH
Canon Việt Nam, Mabuchi Motor, Orion Hanel..., những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu
kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử...

dịch vụ trong vùng.
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của
nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ
các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư. Việc các
doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia
xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp
vào KCN.
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự
án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng
lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để
các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình
thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN
Tân Tạo (TP.Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)…
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo
sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới,
các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công
trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà
ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như
điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc... đáp ứng nhu
cầu hoạt động và phát triển của các KCN.
13
3.Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp - khu chế xuất ở Việt
Nam:
Sự ra đời của các KCN, KCX gắn liền với đường lối đổi mới, chính sách mở cửa
do Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng. Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ

cho chính mình. Sự tập trung sản xuất, giúp cho việc xây dựng cơ chế riêng hỗ trợ hoạt
động của doanh nghiệp, đồng thời giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thuận tiện hơn
trong quá trình theo dõi giám sát, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp. Một trong
những mục tiêu quan trọng của việc hình thành các KCN và các KCX là tiếp nhận sự
chuyển giao công nghệ trong đó có công nghệ về quản lý, kinh nghiệm về điều hành. Sự
chuyển giao công nghệ đã đạt được những thành công trong một số lĩnh vực nhất định.
Trong tổng số hơn 5000 dự án đầu tư phát triển công nghiệp trong các KCN đến
thời điểm tháng 12 năm 2006 có tới 2433 dự án đầu tư nước ngoài. Các dự án đầu tư
nước ngoài nhìn chung có công nghệ tương đối hiện đại, sản phẩm có chất lượng tốt và
cạnh tranh được cả trên thị trường trong nước và thị trường nước ngoài.
Các dự án đầu tư nước ngoài tại các KCN thực sự là một trong những kênh
chuyển giao công nghệ một cách nhanh chóng. Các dự án này sử dụng một số lượng
đáng kể lao động trong nước. Qua thực tiễn hoạt động trong các doanh nghiệp KCN lực
lượng lao động được đào tạo và tiếp cận với công nghệ tương đối hiện đại và được nâng
cao trình độ chuyên môn của mình.
Thứ ba là, KCNC là vườn ươm công nghệ, nơi có cơ chế hoạt động hấp dẫn các
nhà khoa học đến làm việc nghiên cứu, thí nghiệm. Đây là nơi triển khai các dự án,
những phát minh sáng chế trong công nghệ trước khi đưa vào sản xuất. Đó là nơi nối nhà
khoa học với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Với những chính sách ưu đãi tốt, hoàn
toàn có khả năng thu hút các ngành công nghệ mũi nhọn như điện tử, sinh học vật liệu
mới,… Đây là khu thu hút các lao động khoa học, nguồn nhân lực đầu ra của các viện
nghiên cứu. Do đó, KCN, KCX, KCNC là nơi các doanh nghiệp trong nước có điều kiện
tiếp nhận các thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới, để vận dụng
15
vào sản xuất của chính doanh nghiệp mình, thúc đẩy nhanh hơn quá trình thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, tăng trưởng kinh tế,
hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, tạo bước chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu và
tiêu thụ trong nước. Đồng thời KCN cũng góp phần giải quyết việc làm, đào tạo cán bộ

Như vậy, phát triển các KCN, KCX, KCNC cũng nhằm thực hiện được mục tiêu của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần tăng trưởng kinh tế (tăng GDP của địa
phương có KCN); phát triển xã hội (xoá đói giảm nghèo, phấn đấu cho công bằng xã
hội); đảm bảo hội nhập kinh tế quốc tế (doanh nghiệp và sản phẩm có khả năng cạnh
tranh trên thị trường khu vực và quốc tế). Cần ưu tiên phát triển các KCN, các ngành
công nghiệp tạo được giá trị gia tăng lớn, tránh được tình trạng đầu tư theo phong trào
mà không tính đến hiệu quả kinh tế.
Vì vậy khi chọn ngành công nghiệp theo hướng hiện đại trong KCN cần chú ý tới
những điểm sau:
- Một là, lựa chọn ngành công nghiệp ưu tiên phát triển nhanh hơn, với mức đầu
tư tập trung hơn, tạo tiền đề thúc đẩy các ngành công nghiệp khác.
Đặc điểm đáng lưu ý khi Việt Nam bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá là:
mức thu nhập thấp (GDP cho đến nay mới chỉ đạt mức trung bình của nhóm 4 nước đi
đầu trong ASEAN); vị trí của Việt Nam trong chuỗi phân công lao động khu vực còn
đang ở mức lao động giản đơn; sức cạnh tranh của một số ngành công nghiệp còn yếu;
lợi thế so sánh có những thay đổi bất lợi hơn trước. Vì vậy, những ngành công nghiệp
mũi nhọn được chọn sẽ phải đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới đang gia tăng, đồng
thời có lợi thế so sánh động, có thể làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của
ngành công nghiệp nước ta trong tương lai gần.
- Hai là: việc lựa chọn ngành ưu tiên phải chú ý tới ưu thế vượt trội của Việt Nam
so với các nước và khả năng thu hút đầu tư vào ngành đó, đồng thời cũng cần cân nhắc
ưu tiên những vùng có vị trí thuận lợi về hạ tầng, điều kiện dịch vụ,... để nâng cao sức
17
cạnh tranh trong hội nhập kinh tế. Hiện nay, Việt Nam có lợi thế so sánh nhất định ở
những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn (công nghiệp dệt
- may, da - giầy, đồ gỗ,...) và những ngành vừa có hàm lượng lao động cao, vừa sử dụng
nhiều nguyên liệu từ nông nghiệp (công nghiệp chế biến,...). Trong suốt ba thập kỷ qua,
các nước Đông Á đã theo đuổi chiến lược phát triển các ngành có hệ số vốn đầu tư thấp,
sử dụng nhiều lao động nên đã có được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế rất cao (giữ được hệ số
ICOR thấp), đồng thời giải quyết được lượng lớn lao động, góp phần ổn định xã hội.

nguồn vốn lớn cùng công nghệ tiến bộ trong giai đoạn toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập
quốc tế. Công nghệ và tri thức có vai trò càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng
sản xuất, là một xu thế khách quan lôi cuốn nhiều nước tham gia. KCN, KCX như các tế
bào sản xuất của ngành công nghiệp của mỗi quốc gia, phải được nhân rộng và phát triển
để trở thành các trung tâm công nghiệp vùng, lãnh thổ. Quan tâm tới công tác quy hoạch,
xây dựng phát triển KCX, công nghệ cao là nhằm mục tiêu phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
4. Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu công nghiệp - khu
chế xuất ở Việt Nam đến hết năm 2006:
Cùng với những chuyển biến mới của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động của các KCN
cả nước trong năm 2006- năm mở đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và kế
hoạch 5 năm 2006-2010 - đã đạt được những thành tựu nổi bật về nhiều mặt.
Tổng diện tích đất quy hoạch tăng thêm trong năm là 2607 ha, từ 9 KCN mới
được thành lập và 3 KCN được phép mở rộng. Đến hết năm 2006, cả nước có 139 KCN
với tổng diện tích quy hoạch là 29.392 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có khả
năng cho thuê đạt 19.743 ha. So với cuối năm 2005, quỹ đất tự nhiên (gồm cả đất đã
được phân định cho sản xuất công nghiệp) của toàn bộ các KCN được thành lập (đến
thời điểm này) tăng 11%.
Ngoài ra, đến nay có 8 khu kinh tế (KKT) đã được hình thành theo Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên là 323.940 ha. Đó là các KKT mở
Chu Lai, KKT Dung Quất, Nhơn Hội, Nghi Sơn, Vũng áng, Vân Phong, Phú Quốc và
19
Chân Mây-Lăng Cô. Từ đó, đã và đang mở ra tiềm lực về quỹ đất dồi dào để phát triển
kinh tế, phát triển công nghiệp trên nhiều vùng khác nhau.
Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN được đẩy nhanh hơn, số các KCN được
xây dựng xong và đưa vào vận hành trong năm là 15 KCN. Trong tổng số 139 KCN đã
được thành lập đã có 90 KCN cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và thực tế đã
vận hành, với tổng diện tích công nghiệp 13.683 ha, tăng 19% so với năm 2005 (năm
2005 có 75 KCN đi vào hoạt động với 11.480 ha đất công nghiệp đã hoàn tất xây dựng

vốn đầu tư 40 triệu USD.
Đặc biệt, một số dự án đăng ký mở rộng sản xuất, tăng vốn bổ sung cũng với số
vốn lớn như: Công ty TNHH Công nghiệp Gốm Bạch Mã (Bình Dương) tăng thêm 150
triệu USD; Công ty TNHH Hoya Glass Disk (Hà Nội) tăng thêm 130 triệu USD; Công ty
Giấy Ching Luh (Long An) tăng 98 triệu USD; nhà máy sản xuất máy in Canon (Bắc
Ninh) với mức tăng 70 triệu USD; Công ty Formosa (Đồng Nai) tăng 66,4 triệu USD,...
Năng lực thu hút nguồn đầu tư trong nước vào KCN cũng có chuyển biến khá
Trong năm 2006, các KCN, KKT tiếp tục thu hút được hơn 300 dự án đầu tư
trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 15.000 tỷ đồng (tương đương 940 triệu
USD). So với năm 2005, tuy giảm về số dự án (2005 là 350 dự án) nhưng tổng vốn đầu
tư trong nước của năm 2006 lại tăng 50% với khoảng 5000 tỷ đồng, do cũng có nhiều dự
án đầu tư trong năm có lượng vốn đăng ký lớn hơn. Tổng hợp đến cuối năm 2006, tổng
số dự án trong nước còn hiệu lực là 2623 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng
135.690 tỷ đồng (tương đương khoảng 9 tỷ USD). Tỷ lệ so sánh giữa hai nguồn vốn này
là 0,41 thể hiện nguồn vốn đầu tư trong nước đã có vai trò quan trọng nhất định trong
phát triển các KCN những năm qua.
Tổng diện tích đất công nghiệp thực tế cho thuê lại trong năm đạt 1766 ha, tăng
18% so với năm 2005, đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho nhà đầu tư trong năm.
Tính chung cả nước đến cuối năm 2006, các KCN đã cho thuê khoảng 10.758 ha đất
công nghiệp, đạt tỷ lệ diện tích đất cho thuê 54,5% trong tổng diện tích công nghiệp có
thể cho thuê của các KCN đã thành lập (gồm cả diện tích của những KCN mới thành lập
chưa khởi công xây dựng). Nếu tính riêng diện tích công nghiệp của những KCN đã vận
21
hành (cơ sở hạ tầng đủ điều kiện tiếp nhận, thực hiện dự án) thì diện tích đất công
nghiệp thực tế cho thuê đạt 72,2%, thể hiện tốc độ thu hút đầu tư tăng nhanh, tiến độ xây
dựng cơ sở hạ tầng có khả năng được đẩy nhanh hơn và sớm thực hiện nhiều dự án đầu
tư.
Gia tăng tốc độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong và ngoài nước.
Tính đến cuối năm 2006, tổng số các dự án đầu tư trong và ngoài nước còn hiệu
lực đã tăng 12% so với cuối năm 2005, trong đó dự án đã và đang triển khai thực hiện

1. Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư vào KCN, KCX ở Việt Nam (tính theo
vốn đầu tư đăng ký):
Sau 16 năm xây dựng và phát triển, các KCN, KCX ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đã có
đóng góp quan trọng vào việc thu hút vốn đầu tư. Tổng số vốn đầu tư thực hiện thu hút
được đến hết năm 2006 là :
Bảng 2.1: Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước
Chỉ tiêu Tổng
vốn
Vốn đầu tư
xây dựng
Số dự án Số vốn
Số dự án
(dự án)
Tỷ trọng Số vốn
(triệu
USD)
Tỷ trọng
Đầu tư trong
nước
5.335 850 2.625 51.9% 4.485
28.3%
Đầu tư nước
ngoài
11.954 585 2.433 48.1% 11.369
71.7%
Tổng vốn 17.289 1.435 5.058 100% 15.854 100%
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lí KCN-KCX, Bộ Kế hoạch Đầu tư
Các KCN, KCX tại Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển ban
đầu nên lượng vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định và chiếm tỷ trọng
lớn, dần dần lượng vốn này có xu hướng giảm tương đối so với lượng vốn đầu tư vào

Hiện nay, KCN đã trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong nước, ngoài những
doanh nghiệp di chuyển từ các đô thị vào thì các doanh nghiệp được thành lập mới tại
KCN ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số dự án đầu tư vào các KCN, KCX.
 Đầu tư nước ngoài: Quy mô vốn trung bình là 4,67 triệu USD/ dự án,
chiếm 71,7% tỷ trọng về vốn so với tổng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chiếm 95%
tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX. Có thể nói, KCN là nơi chính sách ưu
đãi đối với khu vực đầu tư nước ngoài được thể hiện rõ nhất, các nhà đầu tư nước ngoài
có xu hướng đầu tư vào KCN, bởi KCN có một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và sẵn
có, một môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất, có cơ chế “một cửa, tại chỗ” được
thực thi. Vì vậy, vốn đầu tư nước ngoài trong KCN chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò chủ
đạo đối với KCN và tổng vốn ĐTTTNN trong cả nước.
2. Tình hình đầu tư nước ngoài:
25

Trích đoạn Việt Nam với chiến lược phát triển các khu công nghiệp khu chế xuất Mục tiêu, triển vọng phát triển và thu hút đầu tư vào các KCN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đến Giải pháp thu hút đầu tư nước ngoà .Một số kiến nghị nhằm phát huy tác động tràn của ĐTTTNN tại KCN, KCX vùng KTTĐ Bắc Bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status