1
Chương 1: Khái quát sự hình thành và phát triển
KCN-KCX ở Việt Nam
I. Khái niệm và đặc điểm của KCN, KCX
1. Khái niệm khu công nghiệp – khu chế xuất:
Xuất phát từ các quốc gia ở ven bờ Đông và Nam Địa Trung Hải vào đầu thế kỷ
19, quan niệm về kc lan sang châu Á dưới hình thức hải cảng tự do. Cùng với sự phát
triển của hoạt động thương mại và đầu tư, KCN dần xuất hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau: khu mậu dịch tự do, kho quá cảng, đặc khu kinh tế…
Theo nghĩa rộng thì KCN bao gồm tất cả cá khu vực được Chính phủ nước sở tại
cho phép chuyên môn hoá sản xuất công nghiệp, nó là khu biệt lập có chế độ mậu dịch
và thuế quan riêng, không phụ thuộc vào chế độ mậu dịch và thuế quan phổ thông ở
nước đó.
Theo Quy chế KCN, KCX, KCNC, ban hành kèm theo Nghị định số
36/1997/NĐ-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, KCN ở Việt Nam được hiểu là “khu tập
trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do
Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh
nghiệp chế xuất”.
Cũng theo Quy chế KCN,KCX,KCNC, KCX ở Việt Nam được hiểu là “khu công
nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lí xác
định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập”.
1.1.2. Đặc điểm KCN-KCX:
Cho đến nay, các KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm và
1
2
phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nói chung các KCN có những đặc điểm chủ yếu
sau :
nghiệp.
1.2.Vai trò của khu công nghiệp – khu chế xuất:
Trong gần 20 năm thực hiện cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế thế
giới, Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng như: tỷ lệ tăng trưởng cao và
liên tục trong nhiều năm, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh,... Trong các thành quả đó nền kinh tế chung của đất
nước, các khu công nghiệp đã đóng góp đáng kể thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của đất nước.
1.2.1. Vai trò của các khu công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
Toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và gắn liện với nó là ngày càng có
nhiều nước hội nhập và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ở nước ta,
tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế cũng được hình thành và phát triển tích cực qua các kì
Đại hội Đảng. Quan điểm “sẵn sàng mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các
công ty nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng
buộc, nhưng phải chủ động phòng ngừa, tránh bị lệ thuộc”(Đại hội Đảng khoá VI,1986)
đã nâng cao thành “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế (Đại hội Đảng khoá
VII, 1991), “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút
các nguồn lực bên ngoài; tích cực chủ động thâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế” (Đại
hội Đảng khoá IX, 2001), “lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là
nguyên tắc chủ đạo; đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế” (Đại
hội Đảng khoá X, 2006). Như vậy, quan điểm chấp nhận hội nhập đã được nâng lên
“chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là bước đột phá trong quan điểm
của Đảng, đóng vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong
những năm qua.
Để hội nhập và phát triển trong điều kiện nền tích luỹ nội bộ còn thấp thì thu hút được
nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng. Khu công nghiệp, khu chế xuất là một mô
hình quản lý kinh tế hiện đại, tập trung, hiệu quả,là giải pháp hữu hiệu nhằm huy động
3
4
5
tư vào các KCN tại 3 vùng KTTĐ đóng vai trò then chốt trong tiến trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá, tạ đà cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời
gian tới.
Hiện nay, tại vùng KTTĐ phía Nam, Đồng Nai - địa phương nổi lên là một trong
những tỉnh có các KCN phát triển mạnh nhất - đặt mục tiêu: đến năm 2010, thu hút 30 tỉ
USD vốn đầu tư vào các KCN, trong đó đầu tư mới là 20 tỉ USD và đầu tư mở rộng 10 tỉ
USD. Đã có 26 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh Đồng Nai, trong đó Đài Loan
2,47 tỉ USD, Hàn Quốc 1,13 tỉ USD, Nhật Bản 1,06 tỉ USD, Mỹ 203 triệu USD, Liên
minh châu Âu 601 triệu USD, các nước ASEAN 1.470 triệu USD. Tính đến hết năm
2006, các KCN Đồng Nai đã thu hút được 828 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 8,34 tỉ
USD. Trong đó, 198 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đầu tư khoảng 514 triệu
USD, chiếm 6% tổng vốn đầu tư vào các KCN, doanh nghiệp liên doanh có khoảng 50
dự án, tổng vốn đăng ký trên 900 triệu USD, chiếm 11%, doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài trên 450 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 6.900 triệu USD, chiếm 83%.
Tại vùng KTTĐ Bắc Bộ, những tín hiệu khả quan cũng đang đến với các KCX,
KCN Hải Phòng trong năm 2006. Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
trong KCX, KCN khá ổn định với vốn thực hiện đạt 2 triệu USD, tăng 43% so với cùng
kỳ 2005. Các doanh nghiệp đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu với doanh thu 10 triệu
USD, tăng 50% so với tháng 1/2005.
Theo các nhà quản lý kinh tế, nhờ tốc độ tăng trưởng và hiệu quả hoạt động của
các KCN, KCX trên toàn quốc tiếp tục được giữ vững nên dòng vốn đầu tư của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong nước đều tăng đều đặn, trong đó có
nhiều dự án công nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, nhiều KCN đã được Chính phủ cấp
phép thành lập mới hoặc mở rộng, như KCN Tân Trường (199,3 ha, thuộc tỉnh Hải
Dương); KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn (230 ha, tỉnh Bắc Ninh). KCN Ninh Phúc (Ninh
Bình) giai đoạn 1 được mở rộng thêm 40,8 ha. Chỉ tính riêng năm 2006, đã có 9 KCN
được cấp phép và bắt đầu xây dựng cơ sở hạ tầng trên cả nước với tổng diện tích là 1900
ha bằng 6,9% so với tổng diện tích KCN trước 2006, lớn nhất là KCN Phước Nam (Ninh
Thuận) có diện tích 370 ha.
6
7
- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao kỷ lục, xấp xỉ 40 tỷ USD, tăng
24% so với năm 2005 và vượt 2 tỷ USD so với kế hoạch. Số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
đạt giá trị từ 1 tỉ USD trở lên tăng từ 0 mặt hàng năm 1981 lên 9 năm 2006, trong đó 4
mặt hàng lớn truyền thống là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch mỗi mặt
hàng đạt trên 3,3 tỷ USD.
- FDI và ODA ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, góp
phần cung cấp vốn, cải thiện công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến, tạo ra những sản
phẩm có chất lượng cao hơn, thị trường xuất khẩu lớn hơn, đa dạng hơn, tăng tính cạnh
tranh và tạo việc làm cho người lao động. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng đột
biến, đạt trên 10,2 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là một trong những
sự kiện kinh tế nổi bật nhất trong năm 2006; tỷ suất FDI/GDP tăng từ cuối thập kỷ 1980
lên 6,41% năm 1994 lên 16,5% năm 2006. Tổng lượng vốn ODA đạt giá trị 2.666 triệu
USD, trong đó vốn vay đạt 2.412 triệu USD và vốn viện trợ đạt 254 triệu USD, cam kết
năm 2007 là 4,5 tỷ USD. Xuất khẩu hàng hoá năm 2006 ước tính đạt 39,6 tỷ USD, trong
đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 14,5 tỷ USD, tăng 30,1% so với năm
2005, đóng góp 46,9% vào tổng giá trị xuất khẩu cả nước.
Trong sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, KCN là
điểm sáng, đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong định
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng cường khả năng tiếp nhận công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tạo việc làm cho người lao động, góp phần
xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩy xuất nhập khẩu. Điều này được thể hiện ở những khía
cạnh chủ yếu sau:
- Trong năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của DN trong các KCN cả nước
(không kể doanh thu dịch vụ) đạt 16,8 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2005 và chiếm
khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước.
- Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ USD, tăng
hơn 22% so với năm 2005 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp
xuất khẩu của cả nước.
8
9
3.424 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và trên 856 dự án đang triển khai xây dựng cơ
bản.
- Tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Năm 2006
các KCN đã thu hút thêm gần 118.000 lao động trực tiếp, tăng 15% so với năm trước,
đưa tổng số lao động trực tiếp trong KCN lên 918.000 người, không kể gần 2 triệu lao
động gián tiếp khác. Tại Hà Nội, chỉ tính 67 doanh nghiệp đi vào hoạt động, đã thu hút
gần 43.000 lao động trực tiếp và khoảng 45.000 lao động gián tiếp, bằng 40% số lao
động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn, phần lớn các lao động đều
được đào tạo huấn luyện để nhanh chóng nắm bắt và sử dụng các dây chuyền sản xuất
mới, làm gia tăng chất lượng nguồn nhân lực kể cả lao động quản lý và kỹ năng lao động
trực tiếp.
- Thúc đẩy việc đổi mới và hoàn thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh. Các doanh nghiệp trong các KCN, đi tiên phong trong việc thu hút vốn đầu
tư nước ngoài và áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, là mô hình thử
nghiệm thích hợp nhất để cải thiện môi trường đầu tư trong nước, đã đem lại nhiều bài
học kinh nghiệm góp phần quan trọng vào việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ
thống pháp luật, thủ tục hành chính, nhất là thể chế tiền tệ và tín dụng, ngoại hối của các
địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Các doanh nghiệp này cũng góp phần làm
thay đổi bộ mặt và cấu trúc mạng lưới thương mại hàng hoá và dịch vụ, cơ cấu hệ thống
hậu cần thương mại cũng như toàn bộ lĩnh vực phân phối, lưu thông và dịch vụ xã hội.
- Tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của mình, đồng
thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong vùng, miền và cả nước.
- Các KCN góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới và
công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàn tuyến
hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế công
nghiệp hoá, thị trường, hiện đại. Nhiều KCN nói chung đã phát triển các ngành công
nghiệp hoàn toàn mới có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như thiết bị văn phòng
(Canon), điện tử (Orion -Hanel...), phụ tùng ôtô, xe máy, vật liệu xây dựng, sản phẩm
ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm... Tuy nhiên, các KCN cũng
đã thu hút được các dự án có quy mô và yêu cầu vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí,
10
11
sản xuất ôtô, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng... Mặc dù
số lượng các dự án này trong KCN mới chiếm khoảng 5-10% số dự án, nhưng cũng đã
góp phần phát triển và đa dạng hoá cơ cấu ngành nghề công nghiệp.
Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành
thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan
toả và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Việt Nam lên một bước. Một lượng
đáng kể người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được
tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing,
quản lý tài chính, tổ chức nhân sự... Việc được trực tiếp làm việc trong môi trường có kỷ
luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc
giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại.
2.4. Hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng
Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành
dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc
độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và
ngoài KCN. Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát
triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và
thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Điều này có thể dễ dàng
nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng
Nai), Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn (Bắc Ninh)… cùng với quá trình phát triển
KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu
cầu về các dịch vụ gia tăng, đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở
dịch vụ trong vùng.
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của
trọng điểm, các KCX, khu kinh tế đặc biệt, KCN tập trung”. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội
lần thứ VIII của Đảng năm 1996 cũng đã xác định rõ “Hình thành các KCN tập trung
(bao gồm cả KCX, KCNC), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công
nghiệp mới. Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. ở các thành phố, thị
12
13
xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử
lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với
khu dân cư”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
cũng xác định phương hướng trong thời gian tới là “Phát triển từng bước và nâng cao
hiệu quả các KCN”. Để thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển và phân bố công
nghiệp, Nhà nước chủ trương tập trung phát triển công nghiệp vào các KCN, KCX theo
quy hoạch xác định.
Thực tế, trong 16 năm qua kể từ ngày nước ta có KCX đầu tiên đến nay, các
KCN, KCX, KCNC đã thể hiện vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều đó thể hiện:
Trước hết là, việc xây dựng các KCN, KCX nhằm phát huy hiệu quả của sự tập
trung nguồn lực cho sản xuất. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư. Đầu tư nước
ngoài vào các KCN, KCX cho đến nay chiếm khoảng 27,6% tổng lượng vốn đầu tư
nước ngoài vào nền kinh tế và khoảng 61,4% vào phát triển công nghiệp.
Hầu hết, các dự án đầu tư vào các KCN triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với
ngoài KCN, KCX, KCNC. Tính đến nay, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp
KCN đạt trên 53% vốn đầu tư đăng ký. Thời gian xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư
vào KCN tương đối ngắn (khoảng 1 - 2 năm, cá biệt có dự án chỉ 6 tháng sau khi cấp
giấy phép đầu tư đã đi vào sản xu t kinh doanh).
Thứ hai là, KCX là nơi tập trung sản xuất và gia công hàng xuất khẩu. KCN,
KCX là nơi tập trung hoá sản xuất cao, ở đó tiếp nhận các phương pháp quản lý hiện đại
vận hành trên các dây chuyền công nghiệp hiện đại của các đối tác trực tiếp nước ngoài
và các liên doanh. Nếu cùng xây dựng tại đây, các doanh nghiệp Viêt Nam có nhiều điều
kiện tiếp thu, học hỏi phương thức tổ chức quản lý sản xuất, tiếp thu công nghệ hiện đại
tiêu thụ trong nước. Đồng thời KCN cũng góp phần giải quyết việc làm, đào tạo cán bộ
quản lý và công nhân lành nghề, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu hẹp chênh
lệch giữa các vùng của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động các KCN cũng đặt ra
nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, môi trường cần quan tâm xử lý để tiếp tục phát triển.
14
15
Sự phát triển nhanh, có chất lượng của các KCN, KCX và KCNC có tác động
rất tích cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu của một tỉnh, một vùng, và của cả nước.
Từ một nước nông nghiệp đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá, nhu cầu việc làm rất lớn. Phát triển công nghiệp nói chung và các KCN nói riêng
nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lao động dư thừa ở khu vực nông
nghiệp, góp phần nâng cao được năng suất ở khu vực này. Theo số liệu điều tra, hiện nay
1 ha đất KCN, KCX tạo ra khoảng 150 chỗ làm việc kể cả gián tiếp và trực tiếp, (trong
đó lao động trực tiếp bình quân khoảng 81 người/ha).
Các KCN, KCX góp phần thúc đẩy mạnh quá trình chuyển biến cơ cấu sản xuất
công nghiệp theo hướng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu một cách có hiệu quả, nâng dần
tỷ trọng các mặt hàng đã qua chế biến, hạn chế đến mức thấp nhất việc xuất khẩu
nguyên liệu thô.
Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát,
xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, do vậy KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm từ nội thành, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Đây là một trong
số các mục tiêu đặt ra đối với việc thành lập KCN. Cho đến nay, hầu hết các KCN tập
trung được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong thiết kế cũng như
trong quá trình triển khai xây dựng có chú ý đến việc xử lý nước thải công nghiệp, và đã
có các cơ sở hạ tầng xử lý.
Sự phát triển các KCN tập trung trong giai đoạn vừa qua rộng khắp trên phạm
vi toàn quốc, song nhìn chung tập trung chủ yếu ở khu vực ba vùng kinh tế trọng điểm.
Sự phân bố tập trung này là khách quan, bởi lẽ các vùng kinh tế trọng điểm là nơi thuận
lợi cho sự phát triển công nghiệp nói chung và các KCN nói riêng.
Tới đây, việc phát triển, xây dựng, củng cố các KCN, KCX, KCNC nhằm
các nước Đông Á đã theo đuổi chiến lược phát triển các ngành có hệ số vốn đầu tư thấp,
sử dụng nhiều lao động nên đã có được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế rất cao (giữ được hệ số
ICOR thấp), đồng thời giải quyết được lượng lớn lao động, góp phần ổn định xã hội.
Trong gian đoạn đầu của công nghiệp hoá, Việt Nam cần phải tham gia những
ngành sử dụng nhiều lao động (như dệt, may, da giầy,...), đồng thời với những ngành
công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao đòi hỏi lao động có kỹ năng cao, kỹ thuật lành
16
17
nghề (như công nghệ tin học - viễn thông, thiết bị điều khiển, đồ điện gia dụng, xe
máy,...). Để thực hiện phương châm “đi tắt, đón đầu”, Việt Nam cần chủ động lựa chọn
đón trước phát triển những ngành công nghiệp của các nước tiên tiến chứ không thụ
động ngồi chờ chuyển giao các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động mà các nước
NIEs, NICs đã trải qua, theo kiểu lan tỏa, phát triển theo mô hình đàn sếu bay. Ví dụ,
ngành công nghiệp đóng tầu theo mô hình đàn sếu bay thì lan tỏa từ Nhật Bản sang 4
nước NIEs (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore), rồi tới Trung Quốc và sau đó
đến Việt Nam là một chu trình dài ít nhất 30 năm. Đây là mô hình phát triển theo kiểu
“đuổi bắt” nhiều tầng trong quá trình công nghiệp hoá vào thập kỷ 60 -70 ở Đông Á.
Vì những lẽ đó, ngành kinh tế mũi nhọn cần chú ý lựa chọn sẽ là những ngành có
thế mạnh, đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu; có khả năng đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư,
theo yêu cầu phát triển của thị trường, hạn chế tác động bằng kế hoạch; có khả năng giúp
ổn định xã hội cao, nhất là ổn định nông thôn; đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, đảm
bảo yêu cầu bảo vệ môi trường phù hợp khả năng nền kinh tế; có khả năng đầu tư ra
nước ngoài, hỗ trợ phát triển trong nước (dịch vụ, khai thác tài nguyên,…).
Kinh tế thế giới đang phát triển, thúc đẩy các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia mở
rộng đầu tư ra những khu vực ổn định về chính trị, có nguồn lao động rẻ, giá thuê đất
không cao, do đó xây dựng KCN, KCX trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế phải tuân
thủ quy hoạch tổng thể ngành, vùng lãnh thổ để phát huy đồng đều mọi tiềm năng đất
nước, tiết kiệm đất để đảm bảo tốt an ninh lương thực, thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Văn kiện đại hội IX chỉ rõ “ Quy hoạch phân bố hợp lý KCN trên cả nước. Phát
triển có hiệu quả các KCN, KCX, xây dựng KCNC, hình thành các cụm công nghiệp lớn
Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN được đẩy nhanh hơn, số các KCN được
xây dựng xong và đưa vào vận hành trong năm là 15 KCN. Trong tổng số 139 KCN đã
được thành lập đã có 90 KCN cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và thực tế đã
vận hành, với tổng diện tích công nghiệp 13.683 ha, tăng 19% so với năm 2005 (năm
2005 có 75 KCN đi vào hoạt động với 11.480 ha đất công nghiệp đã hoàn tất xây dựng
cơ sở hạ tầng). Tỷ lệ KCN đã vận hành, hoạt động trong năm chiếm 65% tổng các KCN
hiện có. Trong đó, có 17/19 dự án xây dựng hạ tầng có vốn ĐTNN và 73/120 xây dựng
hạ tầng của DN trong nước.
18
19
Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN, tính
đến cuối năm 2006 đạt khoảng 585 triệu USD và 13,596 tỷ đồng. So với tổng vốn dự
toán, vốn thực hiện FDI đạt 60,3% với trình độ xây dựng các công trình hạ tầng đạt chất
lượng khá cao. Tổng vốn đầu tư thực hiện xây dựng hạ tầng của các dự án trong nước
đạt 36,5%.
Năng lực thu hút đầu tư dự án nước ngoài (FDI) tăng vượt trội so với năm 2005
Năm 2006, các KCN đã thu hút 356 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký mới
là 4336 triệu USD tăng 2,4 lần so với năm trước; đồng thời có 337 lượt dự án mở rộng
sản xuất, tăng vốn với tổng số vốn đầu tư đăng ký tăng thêm 1.347 triệu USD, tăng
30,5% so với năm 2005. Tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn bổ sung vào các KCN
trong năm 2006 đầu tư đạt 5682 triệu USD tăng gần 2 lần so với năm 2005 chiếm 56%
tổng vốn FDI đăng ký mới và bổ sung trong năm của cả nước.
Tổng hợp đến cuối năm 2006, các KCN đã thu hút được 2433 dự án FDI với tổng
vốn đầu tư đăng ký đạt 21,79 tỷ USD.
Các dự án ĐTNN có quy mô lớn hơn năm trước
Quy mô vốn đầu tư bình quân mỗi dự án ĐTNN đăng ký mới vào KCN trong
năm là 12,18 triệu USD/dự án, gấp hơn 2 lần năm 2005. Bình quân mỗi lượt dự án mở
rộng sản xuất có mức vốn đầu tư bổ sung là 4 triệu USD/dự án, tăng 39% so với năm
trước. Có mức tăng trưởng cao như vậy là do trong năm có nhiều dự án ĐTNN có quy
mô vốn lớn đầu tư vào KCN, KKT ở các vùng kinh tế trọng điểm. Nhờ đó, một số địa
hành (cơ sở hạ tầng đủ điều kiện tiếp nhận, thực hiện dự án) thì diện tích đất công
nghiệp thực tế cho thuê đạt 72,2%, thể hiện tốc độ thu hút đầu tư tăng nhanh, tiến độ xây
dựng cơ sở hạ tầng có khả năng được đẩy nhanh hơn và sớm thực hiện nhiều dự án đầu
tư.
Gia tăng tốc độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong và ngoài nước.
Tính đến cuối năm 2006, tổng số các dự án đầu tư trong và ngoài nước còn hiệu
lực đã tăng 12% so với cuối năm 2005, trong đó dự án đã và đang triển khai thực hiện
đầu tư là 4300 dự án, tăng 30% so với năm 2005 và chiếm 85% tổng số các dự án còn
hiệu lực (năm 2005, tỷ lệ này đạt 73%).
20
21
Trong tổng số dự án đang thực hiện phân theo nguồn vốn đầu tư có tình hình như
sau:
Dự án có vốn ĐTNN còn hiệu lực trong năm là 2433 dự án, trong đó những dự án
đã đi vào sản xuất kinh doanh trong KCN là 1700 dự án và 380 dự án đang xây dựng nhà
xưởng. Tổng vốn đầu tư thực hiện đến cuối năm 2006 đạt 11,37 tỷ USD, chiếm 52%
tổng vốn đăng ký.
Trong 2633 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 135.690
tỷ đồng, hiện đã có 1720 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và gần 500 dự án đang xây
dựng nhà xưởng. Tổng vốn đầu tư thực hiện của những dự án này đạt 78.000 tỷ đồng
chiếm khoảng 58% tổng vốn đăng ký.
Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN trong các KCN đạt mức tăng trưởng
khá cao và toàn diện. Trong năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của DN trong các
KCN cả nước (không kể doanh thu dịch vụ) đạt 16,8 tỷ USD, tăng 19% và chiếm
khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước.
Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ USD, tăng
hơn 22% so với năm 2005 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp
xuất khẩu của cả nước.
Trong năm, các DN KCN đã nộp ngân sách Nhà nước khoảng 880 triệu USD,
tăng 35,4% so với năm 2005.
28.3%
Đầu tư nước 11.954 585 2.433 48.1% 11.369 71.7%
22
23
ngoài
Tổng vốn 17.289 1.435 5.058 100% 15.854 100%
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lí KCN-KCX, Bộ Kế hoạch Đầu tư
Các KCN, KCX tại Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển ban
đầu nên lượng vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định và chiếm tỷ trọng
lớn, dần dần lượng vốn này có xu hướng giảm tương đối so với lượng vốn đầu tư vào
sản xuất kinh doanh tăng mạnh tại các KCN đã hoàn thành xây dựng cơ bản. Tính đến
năm 2006, cả nước có 90 KCN đã cơ bản xây dựng xong cơ sở hạ tầng và 49 khu đang
thực hiện xây dựng cơ bản theo hình thức cuốn chiếu, cho thuê để sản xuất kinh doanh
những phần đã hoàn thành xây dựng cơ bản.
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Vốn trong nước chiếm 60%, giai đoạn đầu chủ
yếu là nguồn vốn ngân sách, hiện nay đã áp dụng chính sách giao đất cho doanh nghiệp
thầu xây dựng cơ sở hạ tầng nên tỉ trọng đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
bắt đầu tăng, tuy còn nhiều bất cập về giá trị gia tăng sau khi xây dựng cơ sỏ hạ tầng và
hiệu quả xây dựng. Vốn nước ngoài chiếm 40% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
và chiếm và có xu hướng tăng lên trong thời gian tới, giữ vai trò quan trọng trong việc
hiện đại hoá cơ sở hạ tầng các KCN, KCX theo quy chuẩn quốc tế, tăng sức hấp dẫn của
KCN, KCX đối với các nhà đầu tư.
Về đầu tư vào sản xuất kinh doanh:
Đầu tư trong nước: Quy mô vốn trung bình là 1,709 triệu USD/dự án, chiếm tỷ trọng vốn
28,3% tổng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại các KCN, KCX trên cả nước. Các
doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN, KCX thuộc mọi thành phần kinh tế, đa số là
các doanh nghiệp thành lập từ trước, do nhu cầu mở rộng sản xuất lập thêm di dời từ
ngoài KCN vào trong KCN, hoặc thành lập thêm cơ sở sản xuất trong KCN. Tuy chỉ giữ
vai trò khiêm tốn nhưng đây là nguồn vốn có tính chất quyết định, là nhân tố nội lực.
Những năm đầu xây dựng KCN, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của KCN trong
TB giai đoạn
1996-2000
TB giai đoạn
2001-2005
2006
Tổng vốn ĐTNN vào
KCN,KCX
triệu
USD
844 808,4 2.011,2 5.682
Vốn ĐTNN vào xây
dựng CSHT
tr.USD 74 91,2 43 56,2
24
25
%tăng giảm liên
hoàn
Tỷ trọng ĐT CSHT
trên tổng vốn ĐTNN
vào KCN,KCX
%
%
-
8,8
23,2
11,3
-59,2
2,1
30,7
1
KCN, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng vẫn tăng 23% lên 456 triệu USD, chiếm 11,3% tổng
vốn đầu tư nước ngoài của cả giai đoạn.
Giai đoạn 2001-2005 đánh dấu sự phục hồi của nền kinh tế khu vực và thế giới
sau khủng hoảng kinh tế ở châu Á, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX tăng
vượt bậc với tổng vốn thu hút được lên tới 10.056 triệu USD (tăng 149%), Tổng số vốn
vào sản xuất kinh doanh đạt 9.841 triệu USD, chiếm tỷ lệ 97,9% tổng số vốn và tăng
174,4% so với thời kỳ 1996-2000, trung bình năm thu hút 2.011 triệu USD. Tuy nhiên
lượng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm xuống thấp nhất chỉ còn 215 triệu USD, do các
KCN cũ đã hoàn thành và đi vào hoạt động, các KCN chưa được thành lập hoặc gặp khó
khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng.
Riêng năm 2006, nhờ tích cực cải cách môi trường đầu tư, tăng cường các hoạt
động đối ngoại, chú trọng quảng bá các cơ hội đầu tư ở Việt Nam, đặc biệt là việc gia
25