Lời nói đầu
Đến nay, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã thu
đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Chúng ta đang khơi dậy và phát
huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đồng thời, chúng ta cũng cố gắng thu hút các
nguồn đầu t, viện trợ nớc ngoài và sử dụng chúng một cách hợp lý, kịp thời,
có hiệu quả.
Cũng giống nh các nớc đang phát triển khác, trong chủ trơng chính
sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc ta, nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) là một trong những nguồn vốn nớc ngoài có ý
nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, vốn ODA không thể thay thế đợc vốn trong n-
ớc, mà chỉ là chất xúc tác, tạo điều kiện để khai thác tối đa và có hiệu quả
mọi nguồn vốn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá và hiệu đại hoá đất
nớc.
Hơn nữa, kinh nghiệm thu hút sử dụng vốn từ bên ngoài của nhiều nớc
trên thế giới cho thấy không phải lúc nào ODA cũng mang lại hiệu quả tốt.
ODA có hai mặt, nếu sử dụng khéo sẽ hỗ trợ thật sự cho công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội. Nếu ngợc lại sẽ dẫn đến hậu quả gánh nặng nợ nần khó trả
cho nhiều thế hệ. Trong một số trờng hợp, viện trợ đã không làm giảm đợc
tình trạng nghèo khổ, mà trái lại có khi nó còn làm trầm trọng thêm tình
trạng này do tệ quan liêu, tham nhũng, cũng nh việc xử lý và phân bổ không
hợp lý nguồn viện trợ ở các nớc nhận viện trợ. Vấn đề đặt ra là làm sao khai
thác đợc mặt tốt của ODA và đồng thời cũng hạn chế đợc tác động và hậu
quả không tốt của nó.
Đề tài: "Một số giải pháp tăng cờng thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt
Nam giai đoạn 2001 - 2005" chính là một sự lựa chọn nhằm góp phần tìm
ra lời giải đáp cho vấn đề trên.
Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm hệ thống hoá các vấn đề lý luận
và thực tiễn về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đồng thời đánh giá
khái quát thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức ở Việt Nam trong những năm qua. Trên cơ sở đó đa ra một số kiến nghị,
Năm 1972, OECD, tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
1
đã đa ra định
nghĩa ODA là một giao dịch chính thức đợc thiết lập với mục đích chính là
thúc đẩy sự phát triển sự phát triển kinh tế - xã hội của các nớc đang phát
triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất u đãi và thành tố viện
trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%.
Với tên gọi nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, ODA về nguyên tắc
chỉ tập trung cho việc khôi phục và thúc đẩy sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã
hội của một quốc gia nh xây dựng đờng xá, giao thông công cộng, các công
trình thuỷ lợi, bệnh viện, trờng học, cấp thoát nớc và vệ sinh môi trờng.
Những dự án đợc đầu t từ vốn ODA thờng là các dự án không hoặc ít có khả
năng sinh lời cao, ít có khả năng thu hút đợc nguồn đầu t t nhân. Vì vậy,
1
Đây là tổ chức tập hợp hầu hết các nhà tài trợ song phơng lớn trên
thế giới, hiện nay có 30 thành viên, trong đó có 22 nớc và cộng đồng châu
Âu (EU) Là các nhà tài trợ vốn ODA.
3
nguồn lực này rất có ý nghĩa để hỗ trợ thực hiện các chơng trình, dự án phục
vụ các lợi ích công cộng.
-Các hình thức cung cấp ODA: ODA đợc thực hiện thông qua các hình
thức sau:
+Hỗ trợ cán cân thanh toán: là viện trợ tài chính trực tiếp dới
hình thức hiện vật hay hỗ trợ nhập khẩu, có thể là tiền mặt.
+ Hỗ trợ chơng trình : là viện trợ cho một mục đích tổng quát với
thời hạn nhất định, không phải xác định một cách chính xác nó sẽ đợc sử
dụng nh thế nào (gọi là viện trợ phi dự án).
+Tín dụng thơng mại với điều kiện u đãi, thực tế là một dạng viện
trợ hàng hoá có ràng buộc .
+Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA, bao gồm:
Quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới là một nhân tố quan trọng thúc
đẩy sự phân công lao động giữa các nớc. Bản thân các nớc phát triển nhìn
thấy lợi ích của mình trong việc hợp tác, giúp đỡ các nớc chậm phát triển để
mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm và thị trờng đầu t. Đi liền với sự quan
tâm và lợi ích kinh tế đó, các nớc phát triển còn sử dụng ODA nh là một công
cụ chính trị xác định vị trí và ảnh hởng tại các nớc và khu vực tiếp nhận
ODA, nhất là đối với các nớc lớn.
Các nớc viện trợ nói chung đều muốn làm lợi cho mình. Họ muốn vừa
đạt đợc ảnh hởng về chính trị, vừa đem lại lợi nhuận cho hàng hoá và dịch vụ
2
Hiện nay các nớc Bắc Âu đã tiến đến xấp xỉ tỷ lệ này. Ví dụ Đan mạch
0,97% ;Na Uy 0,86%
5
của nớc họ. Do vậy ODA luôn bị ràng buộc trực tiếp hoặc gián tiếp. Đi kèm
theo với ODA bao giờ cũng có những ràng buộc nhất định về chính trị, kinh
tế hoặc khu vực địa lý. ODA có thể đợc cung cấp với điều kiện ràng buộc
(phải chi tiêu mua sắm ở nớc tài trợ) hoặc không bị ràng buộc (đợc phép chi
tiêu, chi tiêu ở bất kỳ nơi nào) hoặc có thể ràng buộc một phần (một phần chi
tiêu ở nớc tài trợ, phần còn lại chi tiêu ở bất kỳ nơi nào). Họ gắn quỹ viện trợ
với việc mua bán hàng hoá và dịch vụ của nớc họ nh là một biện pháp nhằm
tăng cờng khả năng làm chủ thị trờng xuất khẩu và giảm bớt tác động của
viện trợ đối với cán cân thanh toán. Các nớc nh Bỉ, Đức và Đan mạch yêu cầu
khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch vụ của nớc mình. Canađa
cao nhất là 70%. Thuỵ sỹ chỉ 1,7%, Hà lan 22%, Niu-di-lân 0%. Tính chung
trong khối DAC là 22%. Tuy nhiên theo tính toán của các chuyên gia, thì cho
dù không đi kèm theo các điều kiện rằng buộc thì viện trợ vẫn đem lại lợi ích
thơng mại cho quốc gia viện trợ.
Nớc nhận viện trợ phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ nh
điều chỉnh cơ cấu, chính sách đối ngoại, cải cách thể chế... cho phù hợp với
mục đích của bên tài trợ. Điển hình là WB, IMF chỉ cấp viện trợ cho các nớc
những nớc đang phát triển là chìa khoá để tạo bớc nhảy vọt cả về lợng và
chất. Khi các nớc cải cách chính sách của mình, viện trợ đúng lúc có thể giúp
tăng cờng lợi ích của cải cách và duy trì sự ủng hộ của công chức. Viện trợ n-
ớc ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết cho việc cải cách chính sách
và thể chế nh hỗ trợ việc thử nghiệm, thực hiện thí điểm, đào tạo và phổ biến
các bài học kinh nghiệm. Các nhà tài trợ và các tổ chức tài trợ đã tiến hành
nhiều dự án khác nhau ở nhiều nớc khác nhau với thể chế và cấu trúc khác
nhau và họ đã đa ra những dẫn chứng và bài học so sách mà những nớc đơn
lẻ không thể có đợc. Việc phân tích chính sách và chia xẻ kinh nghiệm của
chuyên gia là những công việc hữu ích để hoạch định ra các chính sách kinh
tế mới thích hợp hơn.
7
Thông qua các hoạt động viện trợ, các nớc tài trợ có điều kiện để mở
rộng thị trờng của mình để tiêu thụ sản phẩm và đầu t. Việc các nớc tài trợ
cung cấp ODA thực chất là sự hỗ trợ của Chính phủ cho bản thân các công ty
trong nớc xuất khẩu trang thiết bị, hàng hoá, tránh thuế chuyển giao công
nghệ, chuyên gia.
Nguồn vốn ODA thờng đợc đầu t cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
nh xây dựng đờng giao thông, phát triển năng lợng, hệ thống cấp thoát nớc...
là sự chuẩn bị trớc cho vốn đầu t trực tiếp (FDI) và tạo điều kiện sử dụng vốn
FDI đầu t vào một cách hiệu quả. Viện trợ có thể ảnh hởng đến con ngời theo
nhiều cách khác nhau. Mục tiêu chính của viện trợ là giảm đói nghèo. Quá
trình giảm đói nghèo ở các nớc đang phát triển có quan hệ chặt chẽ với tăng
thu nhập đầu ngời. Một nghiên cứu về tăng thu nhập và giảm đói nghèo ở 67
nớc cho thấy thu nhập đầu ngời theo hộ gia đình tăng thì đói nghèo giảm
xuống và các nớc có thu nhập giảm thì đói nghèo lại tồi tệ hơn. Vì vậy, viện
trợ tác động đến nâng cao mức sống. Điều đó có nghĩa là thu nhâp bình quân
đầu ngời tăng lên và nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo. Hai yếu tố này đã tạo
ra nhiều cơ hội đầu t.
c.Phân biệt giữa Viện trợ phát triển chính thức (ODA) với một số dạng
của ngời đầu t thống nhất với nhau, tức là ngời có vốn đầu t trực tiếp tham
gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu t, chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh và thu đợc lợi nhuận kinh doanh. Nguồn vốn của đầu t
trực tiếp chủ yếu là của doanh nghiệp và cá nhân. Nó diễn ra theo cơ chế thị
trờng và ít lệ thuộc vào quan hệ chính trị. Nó thờng đa lại hiệu quả cao nhng
cũng dễ đa đến sự thua thiệt của phía chủ nhà nếu nh trình độ quản lý của
9
phía chủ nhà non yêú. Đầu t trực tiếp có thể rất lớn nếu môi trờng đầu t thuận
lợi nhng lại phụ thuộc vào ý đồ của nhà đầu t nớc ngoài.
Đầu t gián tiếp là loại hình đầu t mà quyền sở hữu tách rời quyền sử
dụng số vốn đầu t đó, ngời có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức,
điều hành dự án đầu t, thu lợi chủ yếu dới hình thức lợi tức cho vay hoặc lợi
tức cổ phần (hoặc có thể không thu lợi trực tiếp). Nguồn vốn đầu t gián tiếp
rất đa dạng, có thể là của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi
chính phủ. Các nguồn vốn này có thể thực hiện dới hình thức viện trợ hoàn
lại và không hoàn lại, cho vay u đãi và không u đãi. Doanh nghiệp và t nhân
cũng có thể đầu t gián tiếp dới hình thức mua cổ phiếu và chứng khoán ở mức
không quá lớn, cha đạt đến tỷ lệ cổ phần khống chế để buộc phải đứng ra
điều hành dự án đầu t. Các khoản đầu t gián tiếp mang tính u đãi thờng phụ
thuộc vào quan hệ chính trị giữa các chính phủ hoặc quan hệ với các tổ chức
quốc tế. Nó tạo khả năng chủ động cho phía chủ nhà trong việc bố trí cơ cấu
đầu t nhng có nguy cơ đa đến hiệu quả đầu t không cao và gây ra gánh nặng
nợ nần của ngân sách nhà nớc. Nói chung quy mô đầu t gián tiếp không lớn,
chịu giới hạn khách quan về nguồn vốn.
Trong các nguồn vốn đầu t gián tiếp thì một bộ phận quan trọng là viện
trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ một số nớc công nghiệp phát
triển .
2.Sự cần thiết phải thu hút vốn ODA.
a,Vai trò tích cực của vốn ODA trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các
nớc đang phát triển.
đến thời điểm đó, Việt Nam đã đạt đợc bớc cải thiện rõ rệt về kinh tế - xã hội
với kết quả là mức thu nhập tăng lên, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nghèo đói giảm
xuống.
11
Viện trợ thúc đẩy đầu t t nhân: Tác dụng của viện trợ đối với tăng tr-
ởng ở các nớc có cơ chế quản lý tốt rất cao. Điều này có thể xảy ra vì một khi
cơ chế quản lý tốt sẽ có những đề án đầu t công cộng có hiệu quả dành cho
viện trợ. Nếu một nền kinh tế đang tăng trởng nhanh, lợi nhuận đầu t vào
khôi phục đờng giao thông, chẳng hạn, sẽ cao. Nếu nền kinh tế trì trệ, lợi
nhuận rất thấp và thậm chí không có. Tơng tự, kinh tế tăng trởng làm tăng tỷ
lệ nhập học và hiệu quả đầu t vào phát triển con ngời sẽ cao. Ngợc lại, một
nền kinh tế trì trệ sẽ làm yếu động lực cho trẻ em tới trờng. Do vậy khi có cơ
chế quản lý kinh tế tốt, viện trợ giúp các chính phủ có nhiều nguồn để đầu t
vào lĩnh vực đem lại hiệu quả cao này. Những bằng chứng kinh tế ở cấp vi
mô cũng thống nhất với những phát hiện này.
Viện trợ hiệu quả bổ sung cho đầu t t nhân. ở những nớc có cơ chế quản
lý kinh tế tốt thì viện trợ nớc ngoài không thay thế cho sáng kiến t nhân.
Đúng vậy, viện trợ đóng vai trò nh nam châm hút đầu t t nhân theo tỷ lệ
xấp xỉ 2 đôla trên 1 đôla viện trợ. Đối với những nớc đã cam kết cải cách thì
viện trợ góp phần củng cố niềm tin tởng cho khu vực t nhân và hỗ trợ các
dịch vụ công cộng quan trọng. Tại những môi trờng bị bóp méo nghiêm
trọng thì viện trợ lại loại trừ đầu t t nhân, điều này giải thích tại sao trong
những trờng hợp nh vậy tác động của viện trợ lại rất nhỏ.
Mục tiêu chính của viện trợ là giảm nghèo. Qúa trình giảm nghèo ở
các nớc đang phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với tăng thu nhập đầu ngời.
Các nhà kinh tế học phát triển trớc kia đã từng lo ngại rằng các lợi ích của
tăng trởng sẽ bị sự mất công bằng trong thu nhập làm vô hiệu hoá khi các nớc
nghèo phát triển. Tuy nhiên, các chứng cứ gần đây đã chỉ ra rằng điều lo lắng
này là không thể có.
Hiện nay nguồn vốn ODA ở Việt Nam dờng nh giữ vai trò quan trọng
ODA.
13
-Điều kiện đầu tiên để thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ODA đó là
nớc tiếp nhận phải có một môi trờng chính sách thể chế phù hợp với thông lệ
quốc tế và với nớc đầu t vốn ODA. Theo các kết quả nghiên cứu chính sách
của WB về ODA, viện trợ chỉ có hiệu quả trong một môi trờng cơ chế quản
lý tốt
-Khác với loại hình đầu t trực tiếp nớc ngoài, nguồn vốn hỗ trợ phát
triển chính thức ODA đòi hỏi chính phủ nớc tiếp nhận phải có vốn đối ứng
đây là một điều kiện cực kỳ quan trọng của loại hình đầu t này. Vốn đối
ứng là giá trị các nguồn lực (tiền mật, hiện vật ) huy động trong n ớc để
chuẩn bị và thực hiện các chơng trình, dự án ODA theo yêu cầu của chơng
trình, dự án.
-Nớc tiếp nhận ODA phải xây dựng các chiến lợc phát triển kinh tế -
xã hội làm cơ sở cho các nhà tài trợ xác định chiến lợc phát triển của mình.
-Thoả mãn các điều kiện của bên viện trợ ODA .
Bên cạnh những những yêu cầu đó năng lực cán bộ làm công tác dự án
và năng lực quản lý giám sát dự án cũng là một nhấn tố quan trọng để nhà
đầu t xem xét, cân nhắc
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý và sử
dụng vốn ODA.
1.ODA là một nguồn vốn của ngân sách Nhà nớc.
Luật ngân sách của Việt Nam có quy định ba nguồn vốn cơ bản để phát
triển nền kinh tế đó là: nguồn vốn tích lũy trong nớc, vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Trong các tinh thần
đại hội VIII, VIIII, X đều nhấn mạnh tầm quan trọng cũng nh việc nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong điều kiện nguồn vốn tích luỹ trong
14
nớc hạn hẹp, nguồn vốn nớc ngoài góp phần không nhỏ bổ sung cho nguồn
vốn trong nớc.
đợc. Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và có kiểm tra, quản lý chặt
chẽ chống lãng phí tiêu cực Với một l ợng vốn nhất định phải vừa đạt đợc
các mục tiêu kinh tế đề ra, vừa trả đợc nợ đòi hỏi chúng ta phải sử dụng một
cách có hiệu quả, tránh lãng phí
5.Tăng cờng vị thế của nớc sử dụng có hiệu quả ODA trên trờng quốc
tế.
Việc sử dụng có hiệu quả vốn ODA ở mỗi một quốc giacó ảnh hởng rất
lớn đến vị thế của nớc đó trên thế giới. Bất cứ một quốc gia, một nhà tài trợ
nào trớc khi viện trợ cho một quốc gia khác khác họ đều phải xem xét đến
khả năng trả nợ của nớc nhận viện trợ cũng nh việc sử dụng có hiệu quả vốn
ODA. Các nhà đầu t sẽ sẵn sàng và đầu t nhiều vào những nớc sử dụng có
hiệu quả vốn ODA (về cả khía cạnh kinh tế và chính trị). Hay nói cách khác
những nớc sử dụng có hiệu quả sẽ có uy tín lớn trên thế giới, có thể nói đó là
nơi mà các nhà đầu t (cả trực tiếp và gián tiếp) sẵn sàng làm bạn.
III. Kinh nghiệm về sử dụng và quản lý vốn ODA
của các nớc trên thế giới.
1.Lịch sử hình thành và phát triển ODA trên thế giới.
Trên thế giới, ODA đã đợc thực hiện từ nhiều thập kỷ trớc đây, bắt đầu bằng
kế hoạch Mác San của Mỹ cung cấp viện trợ cho các nớc Tây Âu sau chiến
tranh thế giới lần thứ hai. Tiếp đó Hội nghị Cô-lôm-bô (năm 1955) hình
thành những ý tởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển. Sau khi
thành lập Tổ chức OECD vào năm 1961 và DAC, các nhà tài trợ đã tập hợp
lại thành cộng đồng nhằm phối hợp các hoạt động chung về hỗ trợ hợp tác
16
phát triển. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu Đông - Tây, trên thế
giới tồn tại 3 nguồn ODA chủ yếu:
- Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu.
- Các nớc thuộc tổ chức OECD.
- Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ.
2. Kinh nghiệm của một số nớc sử dụng ODA trên thế giới.
kinh nghiệm quản lý ODA của các nớc khác.
Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và sử dụng ODA của một số nớc, ta
thấy nổi lên các vấn đề sau:
a. Xác định chiến lợc sử dụng ODA
Xác định chiến lợc sử dụng ODA là yêu cầu đầu tiên của công tác
quản lý ODA. Việc xác định chiến lợc sử dụng ODA sẽ làm cho sử dụng
ODA đúng mục đích và không dẫn đến gánh nặng nợ nần cho các nớc nhận
tài trợ. Nhng có một số nớc lại không quan tâm đến vấn đề này, khi nguồn
viện trợ ngày càng tăng thì việc sử dụng lãng phí, đầu t tràn lan cũng có xu h-
ớng ngày càng cao, nhất là giai đoạn đầu của vốn vay, khi nghĩa vụ trả nợ
gốc còn ẩn giấu sau thời gian ân hạn. Họ đã không cân nhắc đến nhu cầu
thực tế, đến khả năng hấp thụ ODA, khả năng trả nợ của đất nớc, xây dựng
những dự án thiếu căn cứ khoa học và luận chứng kỹ thuật cha chặt chẽ dẫn
đến tình trạng phiêu lu trong sử dụng vốn. ở Châu Mỹ la tinh, điển hình là
Braxin, bằng vốn vay nớc ngoài, nớc này đồng thời tiến hành một chơng trình
xây dựng kinh tế cực kỳ to lớn bao gồm một loạt dự án: Xây dựng tuyến đ-
ờng sắt từ Miras Gnerais tới Sao Paolo kéo dài hơn 3 năm; Xây dựng nhiều
18
nhà máy thủy điện mà chỉ riêng một nhà máy đã ngốn số vốn gấp 10 lần số
vốn đầu t vào chơng trình thủy lợi ở toàn vùng Đông Bắc; Xây dựng chín
nhà máy điện hạt nhân; Xây dựng tổ hợp nông - công nghiệp gang thép vùng
Đông Bắc với số vốn khổng lồ là 620 triệu USD. Kết quả là Braxin đã trở
thành con nợ lớn nhất thế giới: 108 tỷ USD năm 1986 và là một trong hai nớc
đầu tiên tuyên bố vỡ nợ vào tháng 8 năm 1992.
ở Châu Phi, nguồn viện trợ đã tập trung quá lớn vào xây dựng nhiều
công xởng, biệt thự lớn, đầu t chủ yếu vào phát triển đô thị, không quan tâm
đến phát triển nông nghiệp, đầu t không cân đối chú trọng nhiều đến khu vực
làm ăn thu lỗ, cần sự bao cấp của nhà nớc, đã dẫn đến sử dụng vốn kém hiệu
quả, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế quốc dân. Kết quả là mặc dù nguồn vốn
ODA đổ vào những nớc Châu Phi những năm 80 lên tới 35 - 40% tổng ODA
Thông thờng căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và
ngắn hạn mà mỗi nớc xác định lĩnh vực đầu t cụ thể. Xét về tính chất nguồn
vốn, ODA đợc chia làm hai loại: không hoàn lại và có hoàn lại. Cho nên việc
xác định các lĩnh vực u tiên đầu t u bằng nguồn vốn ODA là rất quan trọng.
Tại Đài Loan, từ việc xác định nông nghiệp là lĩnh vực u tiên hàng đầu
nên thời kỳ 1951 - 1953, trong tổng số vốn 267 triệu USD viện trợ nớc này đã
chi hơn 50% cho lĩnh vực phát triển nông nghiệp, tiếp theo là các lĩnh vực
khác nh kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng thủy lợi, giao thông...
(iii). Quy định mức vay và trả nợ hàng năm
Phần vốn ODA hoàn lại thờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ODA,
thông thờng khi tổng mức ODA càng cao thì tỷ trọng vốn này càng ngày
càng cao. Một trong những biện pháp giúp Thái lan không bị sa lầy vào vòng
nợ nần là xác định "trần vay", trả hàng năm. Một khoản vay không đợc tính
là nguồn thu ngân sách nhng các khoản trả nợ đợc nhà nớc cân đối trong
ngân sách quốc gia hàng năm. Chính phủ Thái Lan, quy định mức vay nợ
không đợc vợt quá 10% kế hoạch thu ngân sách, mức trả nợ bằng 9% kim
ngạch xuất nhập khẩu hoặc 20% chi ngân sách hàng năm. Sự khống chế này
20
nhằm cân đối khả năng vay, trả nợ, mức xuất khẩu của đất nớc, tránh vay m-
ợn tràn lan. Nhiều dự án phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nớc, có
nguồn vay nhng vợt quá giới hạn cho phép đều bị gác lại. Là một nớc có mức
vay nợ nớc ngoài cao (từ năm 1980 - 1986 mức vay nợ mỗi năm bình quân
khoảng 1,75% tỷ USD) nhng Thái Lan luôn trả nợ đúng hạn (trung bình mỗi
năm trên 1 tỷ USD).
(iv). Chuẩn bị tốt các dự án xin viện trợ
Việc chuẩn bị tốt các dự án góp phần không nhỏ vào hiệu qủa sử dụng
vốn viện trợ. Malaysia, Inđônêsia xuất bản "Quyển sách xanh" trong đó ghi
rõ các dự án u tiên đề nghị vốn đầu t từ ODA và các nguồn vốn khác cho tài
khoá năm sau. Quyển sách xanh đợc gửi đến các tổ chức quốc tế, các nớc
cung cấp viện trợ. Đồng thời các cơ quan của Chính phủ có liên quan phải
hợp giản đơn những kinh nghiệm từ thực tế của các nớc đã và đang sử dụng
ODA.
Việc xem xét, học hỏi kinh nghiệm nớc ngoài không phải là sao chép
nguyên xi nhng cũng cần đợc coi là một vấn đề mang tính cấp bách trong
giai đoạn hiện nay đối với Việt Nam, khi nguồn vốn ODA đang có xu hớng
ngày càng tăng. Hơn nữa, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nên
việc sử dụng vốn nớc ngoài có hiệu quả trong một nền kinh tế thị trờng là
một vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Học tập những kinh nghiệm của các nớc sẽ
giúp Việt Nam sớm đi đến thành công.
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Kinh nghiệm trên thế giơí cũng nh thực tể quản lý nguồn tài chính nớc
ngoài của nớc ta trong những năm qua đã cho Việt Nam nhiều bài học kinh
nghiệm.
Một là, ODA gắn liền với các điều kiện chính trị, ngoại trừ một số
khoản có tính chất cứu trợ khẩn cấp, viện trợ của nớc ngoài nhìn chung có thể
đợc coi là đầu ra" của một chính sách đối ngoại và việc thực hiện những
mục tiêu của chính sách đối ngoại.
Tuy nhiên bằng nhiều chính sách đối ngoại khôn khéo các nớc tiếp
nhận viện trợ vẫn có thể đa phơng hoá quan hệ hỗ trợ phát triển của mình, sử
22
dụng có hiệu quả các nguồn ODA phục vụ các mục tiêu phát triển trong khi
vẫn giữa đợc độc lập tự chủ của đất nớc.
Hai là, phải coi trọng hiệu quả sử dụng ODA hơn là số lợng ODA đợc
sử dụng. Tổng lợi ích kinh tế - xã hội do vốn ODA mang lại là tích số của lợi
ích do mỗi đơn vị vốn ODA và tổng số ODA. Với lợng ODA không đổi, tổng
lợi ích sẽ cao hơn nếu dự án đợc thực hiện có hiệu quả hơn. Coi trọng hiệu
quả hơn số lợng còn tránh cho nền kinh tế nguy cơ chịu đựng gánh nặng nợ
nần nớc ngoài.
Ba là, vốn ODA là quan trọng nhng vốn trong nớc là quyết định. Đối
với các nớc đang phát triển vốn ODA là cực kỳ quan trọng nhng vốn ODA
trình viện trợ lơng thực)
1978: quan hệ với một số tổ chức tài chính quốc tế nh WB, IMF hay
chính phủ nh Nhật Bản bị gián đoạn do sự kiện Campuchia và sau này là
thời kỳ Mỹ cấm vận Việt Nam. Từ thời gian này cho đến cuối thập niên 80,
viện trợ bên ngoài nhận đợc chủ yếu từ khối XHCN cũ và chấm dứt hoàn
toàn vào đầu thập niên 1990 sau khi Liên Xô (cũ) tan rã. Hai tổ chức viện trợ
24
duy nhất còn lại là UNDP và SIDA Thuỵ Điển với mức hạn chế không đầy
1% GDP.
1993: quan hệ viện trợ chính thức đợc nối lại, đánh dấu bằng hội nghị
CG đầu tiên tại Paris (11/1993). Hội nghị này đã ghi nhận sự hoà nhập hoàn
toàn trở lại của Việt Nam với cộng đồng tài trợ quốc tế và sự thừa nhận của
cộng đồng này đối với các nỗ lực cải cách kinh tế và mở cửa của chính phủ
Việt Nam .
b.Tình hình sử dụng vốn ODA .
ODA đợc sử dụng trong hầu hết các ngành kinh tế lớn của quốc gia ,
và tập trung chủ yếu vào các ngành nhằm phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ thuật
và xã hội nh năng lợng, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, thuỷ lợi, cấp thoát
nớc. Ngoài ra, một phần không nhỏ nguồn vốn ODA (chiếm khoảng 15%
tổng số vốn) đợc sử dụng dới dạng các hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cờng năng
lực cho các cơ quan khác nhau của Chính phủ, tiến hành các cuộc nghiên cứu
chơng trình, dự án phát triển, nghiên cứu khoa học, khảo sát, điều tra cơ bản,
v.v. Các hỗ trợ kỹ thuật này trên thực tế đã có tác dụng quan trọng góp phần
cho cải cách kinh tế, phát triển thể chế, cải cách hành chính và đào tạo đội
ngũ cán bộ cho giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trờng.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc việc sử dụng nguồn vốn ODA thời
gian này nói chung không đạt đợc chỉ tiêu, kế hoạch đề ra nên Việt Nam đã
bị rơi vào tình trạng không trả đợc nợ, bị mất t cách thành viên trong ADB,
WB, IMF và không đợc vay nợ khác.
Đặc biệt sau sự kiện Campuchia năm 1979 Mỹ cấm vận Việt Nam và