Phần mở đầu
Đi lên từ một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam lại
trải qua 2 cuộc chiến tranh xâm lợc tàn khốc kéo dài. Cộng với nó là một chế độ kế
hoạch hoá tập trung không còn phù hợp trong thời bình. Điều đó sẽ đa nền kinh tế
nớc ta rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Nó thể hiện đời sống của nhân
dân thấp kém dới mức trung bình, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, y tế, giáo dục,
xã hội không đảm bảo. Trớc tình hình đó Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện một
cuộc cải cách lớn: chuyển dịch kinh tế nớc ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung-nền kinh tế "đóng cửa" sang nền kinh tế hàng hóa - nền kinh tế "mở cửa".
Sau đại hội 6 (tháng 8/1986) một năm, năm 1987 Nhà nớc ta đã ban hành và thực
thi luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Điều này xuất phát từ nhu cầu về vốn đầu t
quốc tế không thể thiếu trong tình hình vốn trong nớc bị hạn hẹp. Lôgic của vấn đề
dẫn tới một kết luận rằng : Huy động và sử dụng nguồn lực nớc ngoài là giải pháp
quan trọng đa nền kinh tế Việt Nam thoát ra khỏi khó khăn. Việc thực thi định h-
ớng nền kinh tế 14 năm qua góp phần đáng kể vào các thành tựu cải cách, trong đó
có cả việc thu hút một khối lợng không nhỏ vốn nớc ngoài. Nhất là từ khi chuyển
sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc trong mấy
năm qua, với những thành tựu khá ngoạn mục, một mặt chỉ ra giải pháp phát triển
tổng quát đáng tin cậy, mặt khác nó làm rõ các giới hạn cần đợc vợt bỏ để nền kinh
tế có thể tiếp tục phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Trong số các giới hạn, nguồn
vốn phát triển hiện đang là một trong các thách thức to lớn nhất, khó khắc phục
nhất.
Chính sự quan trọng của vốn quốc tế trong công cuộc phát triển đất nớc.
Đặc biệt khi nớc ta đang trong tiến trình thực hiện công nghiệp hiện đại hoá thì nó
càng trở lên cấp thiết. Nó có thể góp phần rút ngắn thời gian công nghiệp hoá -
hiện đại hoá. Vì vậy mà thu hút đầu t trực tiếp và viện trợ phát triển chính thức
luôn
là một vấn đề đợc nhiều ngời quan tâm. Với bản thân mình xét thấy đây là một
vấn đề rất thiết thực, nó cung cấp và trang bị thêm kiến thức hiểu biết cho sinh viên
kinh tế khi ra trờng. Cho nên em chọn đề tài "Thực trạng và một số giải pháp
chức viện trợ quốc tế bỏ vốn vào một nớc để xây dựng, tạo lập cơ sở trong một
hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm mục đích tạo ra sự thu nhập, lợi ích hoặc
tạo ra công ăn việc làm (dịch vụ) trong tơng lai.
Bất kỳ một quốc gia nào khi xem xét đầu t quốc tế đều phải xem xét tới
nguồn đầu t trực tiếp (FDI) và nguồn viện trợ phát triển nớc ngoài (ODA). Vậy đầu
t trực tiếp là gì ? Viện trợ phát triển chính thức là ? trả lời câu hỏi này từ trớc tới
nay cũng có rất nhiều quan điểm nhng nhìn chung nó đều thống nhất cả về nội
dung và hình thức. Dới đây là một trong những cách định nghĩa mang tính chuẩn
xác hơn cả.
* Nguồn viện trợ chính thức (ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại
hoặc cho vay với những điều kiện u đãi của các cơ quan tài chính thuộc các tổ chức
quốc tế các nớc, các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh
vợng của các nớc khác.
*Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) là một loại hình di chuyển vốn quốc tế,
trong đó ngời chủ sở hữu vốn đồng thời là ngời trực tiếp quản lý và điều hành hoạt
động sử dụng vốn.
1.2 Các hình thức đầu t quốc tế
Đầu t có nhiều cách phân loại. Nhng xét theo tính chất địa lý có thể phân
thành đầu t trong nớc và đầu t quốc tế (Đầu t nớc ngoài).
Tuy nhiên do điều kiện về mặt thời gian có hạn cho nên dới đây bản thân em
xin trình bày "các hình thức đầu t quốc tế" có liên quan tới việc nghiên cứu đề tài.
Đầu t quốc tế có 2 dòng chính: Đầu t của t nhân và trợ giúp phát triển chính
thức (ODA) của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế, xem sơ đồ dới đây
3
Sơ đồ 1: Cơ cấu vốn đầu t nớc ngoài
1.2.1. Đầu t của t nhân
Đầu t của t nhân đợc thực hiện dới 3 hình thức là: Đầu t trực tiếp, đầu t gián
gián tiếp và tín dụng thơng mại bằng nguồn vốn của t nhân nớc ngoài.
1.2.1.1. Trớc hết ta xem xét đầu t trực tiếp: Đây là hình thchính sách đầu t
quốc tế chủ yếu mà chủ đầu t nớc ngoài đầu t toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu t
Tín dung
thương
mại
Hỗ trợ
dự án
Hỗ trợ phi
dự án
Tín dụng
thương mại
Trợ giúp phát triển chính thức của
Chính phủ và tổ chức quốc tế
định) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tợng mà họ bỏ
vốn đầu t.
1.2.1.3. Tín dụng thơng mại: Đây là hình thức đầu t dới dạng cho vay và thu
lợi nhuận qua lãi suất tiền vay.
1.2.2. Hỗ trợ phát triển nguồn đầu t chính thức (ODA)
Đây là một nguồn đầu t rất quan trọng trong đầu t quốc tế. Nó đợc chia làm
3 loại: Hỗ trợ dự án, hỗ trợ phi dự án và tín dụng thơng mại. Hỗ trợ phát triển chính
thức có các đặc điểm sau:
+Trớc tiên nó là nguồn vốn tài trợ u đãi của nớc ngoài, các nhà tài trợ không
trực tiếp điều hành dự án, nhng có thể tttham gia gián tiếp dới hình thức nhà thầu
hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nớc chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nh-
ng thông thờng danh mục dự án phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ.
+Mặc dù nguồn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản u đãi. Song
nếu quản lý, sử dụng nó kém hiệu quả hiệu quả thì vẫn có nguy cơ để lại gánh
nặng nợ lần trong tơng lai.
+Các nớc nhận vốn ODA phải hội đủ 1 số điều kiện nhất định mới đợc nhận
tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc quy định của từng nhà tài trợ.
+ Vốn ODA chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu t vào cơ sở hạ tầng nh
giao thông vận tải, giáo dục y tế
còn hạn hẹp thì vốn đầu t nớc ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá
trình phát triển kinh tế. ở các giai đoạn này có nhiều tiềm năng về lao động, tài
nguyên thiên nhiên, nhng do trình độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vật chất kỹ
thuật nghèo nàn, lạc hậu nên cha có điều kiện khai thác các tiềm năng ấy. Các nớc
này chỉ có thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói bằng cách tăng c-
ờng đầu t phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trởng kinh tế cao và ổn định. Để thực
hiện điều này đòi hỏi các nớc đang phát triển phải có nhiều vốn đầu t. Trong điều
kiện hiện nay, khi mà trên thế giới có nhiều nớc đang nắm giữ trong tay một khối
lợng vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu t ra nớc ngoài thì đó là cơ hội để các nớc phát
triển có thể tranh thủ nguồn vốn đầu t nớc ngoài vào việc phát triển kinh tế
2.1.2. Vai trò trong chuyển giao công nghệ
Các quốc gia nhận đầu t thờng là những quốc gia có nền kinh tế chậm phát
triển , khoa học, công nghệ còn cách xa so với các nớc phát triển. Chính vì thế các
nớc nhận đầu t nớc ngoài đều muốn có một công nghệ hiện đại hoặc có thể dễ chấp
nhận đợc với quốc gia mình. Mặt khác ta cũng thấy khi đầu t vào một nớc nào đó,
chủ đầu t không chỉ chuyển vào nớc đó vốn bằng tiền mặt mà còn chuyển cả vốn
hiện vật nh máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (hay còn gọi là công nghệ cứng)
và vốn vô hình nh chuyên gia kỹ thuật, công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản
lý, năng lực tiếp cận thị trờng (hay còn gọi là công nghệ mềm). Thông qua hoạt
động đầu t trực tiếp nớc ngoài, quá trình chuyển giao công nghệ đợc thực hiện tơng
đối nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên đầu t cũng nh bên nhận đầu t.
2.1.3. Thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nớc ngoài, các nớc đang phát triển muốn sử
dụng nó để thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trởng kinh
tế. Đây cũng là cái mức để các nớc đang phát triển thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn
của sự đói nghèo. Thự c tế kinh nghiệm của nhiều nớc cho thấy quốc gia nào thực
hiện chiến lợc kinh tế mở car với bên ngoài, biến nó thành nhân tố bên trong thì
quốc gia đó tạo ra đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao. Mức tăng trởng kinh tế ở các
nớc đang phát triển thờng do nhân tố tăng đầu t là chủ yếu, nhờ đó các nhân tố
khác nh tổng số lao động đợc sử dụng, năng suất lao động cũng tăng lên theo. Vì
ngoài thì cũng có một số ngành bị mai một đi rồi dẫn tới chỗ bị xoá sổ. Nói chung
sự chuyển dịch cơ cấu là mang tính tiến bộ theo xu thế chung thế giới.
2.1.6. Vai trò đối với thu ngân sách nhà nớc
Đầu t nớc ngoài góp phần đáng kể vào thu ngân sách của nhà nớc thông qua
việc thu thuế đối với các đơn vị đầu t nớc ngoài. Đây là một khoản thu tơng đối
lớn cho ngân sách nhà nớc. Nó bao gồm thu: thuế nhà đất, thuế sản xuất, thuế xuất
khẩu vì các đơn vị đầu t nớc ngoài chủ yếu tập trung vào sản xuất các hàng hoá
xuất khẩu. Nhng để tạo ra hàng hoá nó đòi hỏi phải có địa điểm sản xuất và sử
dụng các cơ sở hạ tầng của nớc nhận đầu t. Do vậy đầu t nớc ngoài đóng góp
nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nớc.
2.2. Tính tất yếu của đầu t nớc ngoài
7
Nh đã biết trong cơ cấu của GDP thì đầu t luôn góp một lợng giá trị rất lớn.
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển đợc thì phải đạt đợc mức đầu t phải lớn.
Đầu t của các nớc chủ yếu là đầu t nớc ngoài. Một quốc gia không có đầu t nớc
ngoài thì đồng nghĩa với việc "đóng cửa" và chịu sự thụt lùi về kinh tế. Nớc ta đã
trải qua một thời kỳ dài nh vậy và cho tới tận Đại hội 6 (tháng 8 năm 1986) sau khi
mô hình kinh tế của một số nớc bị sụt đổ do "đóng cửa" hoặc "hé mở cửa" thì ta
mới thực hiện kinh tế mở cửa. Song mãi tới năm 1987 luật đầu t nớc ngoài mới ra
đời. Chính sự "đóng cửa kinh tế" đã đa đến một thời kỳ dài thiếu vốn đầu t, không
thể đáp ứng đợc nhu cầu về vốn trong nớc dẫn tới các nhu cầu khác cũng không thể
đáp ứng đợc. Tuy nhiên việc chấp nhận đầu t không phải đi liền với việc chủ đầu t
đi làm "không công" còn bên nhận đầu t lại hoàn toàn có lợi và không hề bị dàng
buộc gì cả. Điều đó là không thể xảy ra ở bất kỳ một quốc gia nào. Có thể thấy một
điều rằng việc đầu t chỉ đợc thực hiện khi nó đợc yêu cầu từ 2 phía: phía nhận đầu
t và phía đi đầu t
2.2.1. Quan điểm từ phía nhà đầu t
Đầu t là "đánh bạc với tơng lai". Đây là một hoạt động kinh tế mang tính
rủi ro cao. Song không phải vì thế mà các quốc gia muốn đạt lợi nhuận cao sẽ đem
vốn từ quốc gia mình đi đầu t vào các quốc gia khác một cách ồ ạt không suy tính.
trong nớc không đáp ứng nổi; ngoài ra do một một số lĩnh vực còn quá mới đối với
nớc nhận đầu t, cho nên đầu t từ nớc ngoài vẫn đem lại lợi ích cao hơn so với đầu t
trong nớc. Vậy nớc nhận đầu t sẽ có đợc những lợi ích gì? khi có đầu t nớc ngoài
vào sẽ giải quyết đợc vấn đề chỗ làm việc, nâng cao trình độ lao động; tăng GDP;
tăng thu cho cho ngân sách nhà nớc từ việc đánh thuế và có thể kéo theo một số
ngành nghề kinh tế khác phát triển, cân đối cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập trên đầu
ngời góp phần từng bớc cải thiện đời sống ngời lao động. Đặc biệt nguồn viện trợ
phát triển đây cũng là một nguồn vô cùng quan trọng. Nó góp phần vào việc giải
quyết vấn đề vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng: trờng học, bệnh viện, giao thông
và một số ngành mang tính chiến lợc toàn cầu nh môi trờng.. Tất nhiên các nớc
nhận đầu t nên nhớ một điều là "không có gì cho không". Vì vậy phải cân nhắc
thận trọng khi đa ra quyết định và phải lập ra kế hoạch hợp lý cho việc thu nhận và
sử dụng vốn đầu t nớc ngoài một cách hiệu quả.
*Nói chung giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ. Lợi ích của nớc đi đầu t và
nớc nhận đầu t là hoàn toàn phù hợp nhau. Chừng nào những mâu thuẫn này còn
tồn tại thì việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài sẽ còn gặp phải khó khăn.
iii. những yếu tố tác động tới thu hút vốn đầu t từ n-
ớc ngoài
3.1. Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô
Nói chung, sự ổn định của môi trờng vĩ mô luôn luôn là điều kiện tiên quyết
của mọi ý định và hành vi đầu t. Đối với nguồn vốn nớc ngoài điều này lại càng có
ý nghĩa hơn. Trong môi trờng vĩ mô, phải tính trớc hết đến sự ổn định chính trị - xã
hội. Lịch sử thế giới cho thấy rằng ở quốc gia nào có độ mất ổn định về chính trị-
xã hội cao chẳng hạn nh một số nớc châu Phi, Nam á vài năm gần đây, tuy có thể
thu hút đợc một lợng viện trợ nhân đạo nào đó, song mức độ là không đáng kể.
Trong bối cảnh đó, chỉ rất ít, thậm chí không hề có vốn đầu t hay cho vay từ nớc
ngoài nhằm mục tiêu phát triển đổ vào. Tuy nhiên ở đây, điều muốn đợc nhấn
mạnh hơn là mức độ ổn định kinh tế vĩ mô với t cách là điều kiện quan trọng để
thu hút vốn nớc ngoài.
Không xét đến những tiêu chuẩn tối thiểu bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô,
nhằm tạo ra sự u đãi về phần lợi nhuận mà nhà đầu t nớc ngoài đợc hởng và môi
trờng thuận lợi chô sự vận động của lợi nhuận đó. Đồng thời sự thuận lợi đó nếu
đợc bảo đảm, còn khuyến khích việc bắt đầu từ lợi nhuận tại thổ do nhà đầu t cảm
thấy yên tâm và có lợi trong một môi trờng nh vậy.
Để thấy rằng hai điểm mấu chốt này của môi trờng pháp lý là thuận lợi hơn,
an toàn hơn cho sự vận động của vốn nớc ngoài thì khả năng thu hút vốn càng cao.
Tuy nhiên, cũng cần lu ý đến những quy định pháp lý cụ thể có liên quan đến việc
làm thuận lợi hoá môi trờng vận động của vốn. Cái đạo luật về quyền sở hữu đất
đai, quyền chuyển nhợng và thuê mớn đất, quy chế về trọng tài kinh tế nếu
không rõ ràng, lại có thể gây trở ngại đáng kể trong việc thu hút và sử dụng có hiệu
quả vốn nớc ngoài.
3.3. Tính ổn định của nền kinh tế thế giới
Sự ổn định của nền kinh tế thế giới cũng tác động không nhỏ tới thu hút vốn
đầu t của các nớc. Thực tế cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam á diễn ra vào
1997 và 1998 vừa qua đã cho thấy khi nền kinh tế của khu vực hay thế giới không
ổn định sẽ dẫn tới việc rút vốn ra không đầu t nhà nớc nữa do tác động xấu đem
đến sự phi lợi nhuận từ việc đầu t vào các quốc gia này. Mặt khác sự không ổn
10
định kinh tế cả nớc đầu t cũng gây ảnh hởng tới đầu t sang nớc khác và sự rút vốn
về nớc sở tại là điều hiển nhiên. Các nớc trong khu vực Đông Nam á nh Đài
Loan, Singapo, Thái Lan sau khi rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng
họ đã hạn chế đầu t vào Việt Nam và giành vốn để đầu t vào trong nớc để cứu vớt
tình hình nghiêm trọng kinh tế trong nớc. Có thể thấy rằng sự phát triển kinh tế
vững mạnh của các quốc gia trên thế giới cũng tác động không nhỏ tới thu hút vốn
đầu t nớc ngoài. Do đó các nhà hoạch định phải nắm bắt đợc đối tợng, thời điểm
để có chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài cho phù hợp.
3.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng đóng góp vào việc tạo ra những u thế riêng cho
thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Nó có thể đợc xem nh một điều kiện, yêu cầu mà quốc
gia đi đầu t luôn xem xét trớc khi quyết định đầu t. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm: cơ
1.1. Nhu cầu về vốn của Việt Nam
ở Việt Nam nhu cầu về vốn trong nớc những năm gần đây tơng đối lớn.
Trong khi tiết kiệm trong nớc không đủ để đaps ứng. Điều đó đợc thể hiện rất rõ
qua số liệu sau
Năm Đầu t Tiết kiệm %GDP
1994 25,5 16,9
1995 27,3 17,0
1996 27,9 16,7
1997 27,6 20,1
1998 23,6 17,0
1999 21 18
Nh vậy đầu t nớc ngoài là rất cần thiết. Việt Nam tiến hành mở cửa nền kinh
tế sẵn sàng làm bạn với tất cả các nớc không phân biệt chế độ chính trị, miễn là tôn
trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và tôn trọng chế độ chính trị
của Việt Nam.Với quan điểm đó Việt Nam đã thu hút đợc nhiều đối tác nớc ngoài
từ các châu lục khác nhau đầu t vào Việt Nam. Trong đó phải kể đến các quốc gia
châu á có tới 70% lợng vốn đầu t nớc ngoài và 60% kim ngạch thơng mại của Việt
Nam là nhờ vào quan hệ với các quốc gia này.
Nhu cầu về vốn đầu t xây dựng của toàn xã hội vẫn tăng, cụ thể:
Năm Vốn đầu t (tỷ đồng)
1995 68.047,8
1996 79.367,4
1997 96.870,4
1998 96.400
1999 103.900
Ngoài việc thu hút vốn nớc ngoài chúng ta cần phải huy động từ bên ngoài
thông qua FDI hoặc ODA.
12