TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(NIÊN KHÓA 2007-2011)
Đề Tài:
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN PHÁP
QUYỀN VIỆT NAM
GVHD:Ths.Thạch Huôn
SVTH:Lê Hoàng Bảo
MSSV:5075244
Lớp:Thương mại 3
Khóa
Cần Thơ,Tháng 4/2011
GVHD :Thạch Huôn
-1-
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
1.4.2.1.Sự cần thiết của việc Hiến Chương ra đời……………………………...….….16
1.4.2.2.Tiến trình xây dựng hiến chương………………………………………...……19
1.4.2.2.1. Ý tưởng thực hiện……………………………………………………...……...19
1.4.2.2.2.Công tác soạn thảo…………………………………………………….……….20
1.4.2.2.3.Tiến trình ký kết và phê chuẩn……………………………………...…..……20
2.Nhận định chung về Hiến Chương ASEAN và những ảnh hưởng đến nền pháp
quyền Việt Nam…………………………………………………………………….….…21
2.1Về Hiến Chương ASEAN…………………………………………………..….…..…21
2.2.Ảnh hưởng của Hiến Chương đến nền pháp quyền Việt Nam…………….…....23
2.2.1.Nền pháp quyền Việt Nam…………………………………………………...……23
GVHD :Thạch Huôn
-2-
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
2.2.2Ảnh hưởng của bản Hiến Chương đến nền pháp quyền Việt Nam……...……24
CHƯƠNG 2.TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NHỬNG TÁC ĐỘNG
ẢNH HỬƠNG VỚI NỀN PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
…………………………………… …27
1.Những nội dung cơ bản của Hiến Chương ASEAN và quá trình Việt Nam tham
gia
xây dựng Hiến Chương…………………………………………………………………..27
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
với nền pháp quyền Việt Nam…………………………………………………………..42
CHƯƠNG3.THỰC TRẠNG VỀ TIẾN TRÌNH ÁP DỤNG HIẾN CHƯƠNG
ASEAN VÀ VÀO CUỘC SỐNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHẬN THỨC
CHUNG VỀ HIẾN CHƯƠNG ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT VIỆT
NAM………………………………….………………………………………….…….……47
1.Nhửng yêu cầu cấp thiết hiện nay trong tiến trình phát triển cùng
hiến chương ASEAN………………………………………………………………..…….47
1.1.Công tác triển khai hiến chương ASEAN vào cuộc sống chung của khu vự… 47
1.1.1.Hoạt động chung của ASEAN triển khai đưa Hiến chương vào cuộc sống.47
1.1.1.1. Về tổ chức bộ máy………...……………………………………….……………47
1.1.1.2.Vềkhíacạnhpháp lý…………………………………………………………….47
1.1.1.3 Về điều chỉnh hoạt động của ASEAN…………...……………………………47
1.2.Tiến trình tham gia ASEA của Việt Nam đến nay………………….…………48
1.3.Vai trò của Việt Nam đối với tổ chức ASEANhiện nay…………………,.….52
1.4. Công tác triển khai Hiến chương của Việt Nam……………………………..…..53
2.Một số kiến nghị nhằm tăng cường khả năng đưa Hiến Chương ASEAN
vào cuộc sống trên cơ sở nhận thức về tác động của Hiến Chương và
phương hướng hoàn thiện pháp luật quốc gia……………………………….….....55
2.1.Biện pháp tăng cường khả năng nhận thức về Hiến Chương ASEAN…………55
2.1.1.Về đối nội…………………………………………..………………………………..55
2.1.2.Về đối ngoại………………………………………………………………………....56
2.2.Phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia nhằm phù hợp với Hiến
Chương……………………………………………………………………………………..58
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
GVHD :Thạch Huôn
-5-
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
GVHD :Thạch Huôn
-6-
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
Nhận Xét Của Giáo Viên Phản Biện.
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
của mình ở ĐNÁ,ASEAN được thiết lập vào năm 1967 tại BăngCốc Thái
Lan,nhằm mục tiêu gắn kết các quốc gia trong khu vực ĐNÁ lại với nhau nhằm
xây dựng một khu vực hòa bình ở ĐNÁ,ngay từ buồi đầu gắn kết với nhau các
nứơc khu vực đã nói tới mục tiêu “tăng cường nền tảng cho một cộng đồng các
Quốc gia ĐNÁ hòa bình và thịnh vượng”trong Tuyên bố Bangkok1 .Xu thế này
xuất phát từ tình hình chung của cả khu vực và thế giới lúc này thường biến động
dẫn đến nhiều khó khăn cho các nước trong tiến trình phát triển đất nước,để thực
hiện mục tiêu này các nước ASEAN đã gấp rút xây dựng ý tưởng “cộng
đồng”nhằm tạo điều kiện để các Quốc gia ASEAN sống chung hòa bình thịnh
vượng và đùm bọc chia sẽ lẫn nhau ,cùng nhau phát triển đất nước .Ý tửơng cộng
đồng này luôn là mục tiêu chung của các nước ASEAN và theo tiến trình phát
triển của Hiệp hội đã được chính thức hóa tại Hội Nghị Cấp Cao ASEAN lần thứ 9
1
Xem trang tin điện tử của Bộ Ngoại Giao Việt Nam :Tuyên Bố Bangkok 8 tháng 8 năm 1967
, />ns090811160801#nTq016m2aETA ,[Truy cập 13:30 ngày 29/2/2011]
GVHD :Thạch Huôn
-9-
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
tháng 10/2003 ,khi các lãnh đạo Hiệp hội ký Tuỵên Bố hòa hợp ASEAN II (Tuyên
bố Bali II ),khẳng định cộng đồng ASEAN được xây dựng trên ba trụ cột là hợp
tác chính trị ,hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa-xã hội .Hình ảnh của một Cộng
GVHD :Thạch Huôn
- 10 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
tắc pháp lý và cơ cấu tổ chức bộ máy chặt chẽ; mặt khác là cơ sở đóng góp hữu
hiệu vào quá trình xây dựng Cộng đồng của ASEAN, tăng cường đoàn kết, thúc
đẩy hợp tác giữa các nước trong khu vực.Để giải quyết các vấn đề trên và tạo dựng
những vị trí tốt hơn để có thể thoả thuận, thương thuyết với những cường quốc là
phải hình thành một thực thể pháp lý chung đối với ASEAN, giải pháp không gì
khác hơn là là phải tăng cường sức mạnh nội khối, rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa các nước thành viên, xử lý tốt các vấn đề thuộc ASEAN trong tiến trình toàn
cầu hoá, do đó ngày 15/12/2008 Hiến Chương ASEAN đã ra đời ,đây là bước tiến
lớn tiến tới việc thể chế hoá cuộc Hội Nhập Sâu của khối, đặt nền móng pháp lý
cho sự vận hành của Hiêp hội ASEAN, ASEAN sẽ có tư cách pháp nhân trong
quan hệ với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế, qua đó gia tăng vị thế quốc
tế của Hiệp hội với các đối tác bên ngoài, có đủ tư cách pháp lý ký các công ước
quốc tế, cho phép nâng cao vai trò của khối.Từ khi Hiến Chương ra đời ASEAN
đã được nâng lên một tầm cao mới ,đó chính là bước chuyển mình quan trong để
ASEAN tiến tới thực hiện cộng đồng ASEAN .Tất cả các Quốc gia ASEAN đều
vui ,mừng đón chào sự kiện lịch sử này,và bắt tay vào tiến trình đưa Hiến Chương
ASEAN vào cuộc sống một cách nhanh chóng.Tuy nhiên vì là một khu vực có
nhiều bản sắc dân tộc khác nhau ,nền chính trị khác nhau và trình độ phát triển
kinh tế có sự chênh lệch nhau ,nên công tác này còn gặp nhiều khó khăn vướng
mắc và Việt Nam dưới tác động của bản Hiến Chương một mặt cũng nhận được
như các tác động của Hiến Chương với pháp luật Việt Nam khi đi vào cuộc sống.
2.Phương pháp nghiên cứu.
Khi nghiên cứu đề tài ,người viết đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp ,chủ
nghĩa duy vật biện chứng được sử dụng với vai trò dùng làm cơ sở và là phương
pháp luận để xem xét toàn bộ vấn đề của đề tài,bên cạnh đó phương pháp sưu tầm
,trích dẫn tài liệu và tổng hợp từ những bài phân tích ,những ý kiến của các chuyên
gia ,những người đứng đầu Nhà nước ,được sử dụng để viết thành một bài nghiên
cứu hoàn chỉnh.
3.Phạm vi nghiên cứu.
Do khả năng và kiến thức bản thân còn hạn chế nên người viết chỉ tập trung vào
nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN và quá trình phát triển
cùng ASEAN của Việt Nam ,để từ đó thấy được những tác động ảnh hưởng khi
mà Hiến Chương ASEAN ra đời “một bước ngoặc lịch sử”của tổ chức ASEAN
.Khi đó Việt Nam là một thành viên có vai trò tích cực và quan trọng trong
ASEAN sẽ có những phương hướng như thế nào để tiếp nhận và đưa Hiến
Chương vào cuộc sống một cách tốt nhất và hiệu quả nhất,đặc biệt là nền pháp luật
Việt Nam sẽ gặp tác động về thuận lợi và khó khăn thế nào.
4.Mục tiêu nghiên cứu.
Mặc dù đến nay Hiến Chương ASEAN đã và đang đi vào thực thi ,song dường
như ở Việt Nam ,một Quốc gia có vai trò tích cực và năng động trong ASEAN thì
bản Hiến Chương chưa thực sự được phổ biến rộng rãi lắm ,những hiểu biết về
nền pháp quyền Việt Nam và Hiến Chương ASEAN chưa thật sự được rõ nét và
đại đa số lắm.Thông qua đề tài nghiên cứu “Tìm Hiểu Về Hiến Chương ASEAN Và
Nền Pháp Quyền Việt Nam” người viết muốn góp phần làm rõ hơn về ASEAN và
GVHD :Thạch Huôn
- 12 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
1.Qúa trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN.
1.1.Hoàn cảnh ra đời.
Nửa sau thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình Đông Nam Á và thế giới có
nhiều biến chuyển tác động mạnh mẽ tới các nước trong khu vực. Sau hơn 20
năm đấu tranh và bảo về độc lập cũng như xây dựng kinh tế, nhiều nước trong
khu vực bước vào thời kì ổn định, dốc sức phát triển kinh tế. Vì vậy: Các nước
trong khu vực thấy cần có sự hỗ trợ để xây dựng đất nước, cùng hợp tác phát
triển kinh tế…,tạo ra sợi dây liên kết cho các quốc gia .Đồng thời, các nước
muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất
là khi thấy cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương vấp phải những
khó khăn và sự thất bại là khó tránh khỏi.Xu thế xuất hiện các tổ chức khu vực
trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là thành tựu của Khối thị trường
chung Châu Âu (Âu (EEC- 1957, nay là Liên minh châu Âu- EU), Tổ chức thống
nhất châu Phi (OAU- 1963, nay là Liên minh châu Phi - AU).đã cổ vũ rất lớn đối
với các nước Đông Nam Á trên cơ sở đó:
Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các nước ĐNÁ (tiếng Anh: Association of Southeast
Asian Nations, viết tắt là ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với
sự tham gia của 5 nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và
Phi-líp-pin. để tỏ rõ tình đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau,
đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên.
1.2.Mục tiêu hoạt động.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều chuyển biến tích cực ,các
quốc gia chuyển từ chính sách đối đầu sang đối thoại với mong muốn xóa bõ thù
địch,không để xảy ra chiến tranh ,cùng nhau hợp tác phát triển kinh tế ,ổn định đất
nước .Vì thế các nhà lãnh đạo ASEAN đã vạch ra vạch ra những mục tiêu cơ bản
cho tổ chức ASEAN nhằm phù hợp với những yêu cầu chung của từng quốc gia
thành viên trong khu vực và thế giới ,chính từ lẽ đó trong Tuyên bố ngày 8/8/1967
đã nêu lên hai mục tiêu :
-. Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong
khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm
quốc gia nhỏ nhất về dân số, hai quốc gia này cũng là nước có thu nhập đầu người
cao nhất khu vực. Các quốc gia gia nhập sau như Việt Nam, Lào,Cămphuchia có
mức thu nhập thấp nhất. Với những khác biệt như vậy, các nguyên tắc trong quan
hệ lẫn nhau và điều phối hoạt động tổ chức là yếu tố quan trọng làm nên hình ảnh
năng động và hiệu quả của Hiêp hội. Nhận thấy được tầm quan trọng đó các thành
viên ASEAN đã cùng nhau thảo luận nhất trí và đưa ra những nguyên tắc chung
nhất,sâu sắc nhất trên cơ sở tầm nhìn bao quát cho sự phát triển chung của các
nước trong khu vực,với mong muốn từng bước thắt chặt tình đoàn kết ,quan hệ
thân thiết của các nước thành viên với nhau và mở rộng quan hệ hợp tác song
2
Viện Nghiên Cứu Phát Triển Thánh Phố Hồ Chí Minh:ASEAN và khu vực mậu dịch tự do AFTA,
.[truy cập 8:20 AM
,ngày 22/2/2011.]
GVHD :Thạch Huôn
- 15 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
phương ,đa phương trong nội bộ các quốc gia thành viên nói riêng và với các quốc
gia ,tổ chức trên thế giới nói chung .Từ đó ASEAN đả đưa ra cho mình một bảng
nguyên tắc chung làm làm cở cho quá trình hoạt động của Hiệp hội,bao gồm các
nguyên tắc:
1.3.1. Nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
nghĩa vụ đóng góp cũng như chia xẻ quyền lợi. Thứ hai, hoạt động của tổ chức
ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các chức chủ toạ các cuộc
họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũng như địa điểm cho các
cuộc họp đó được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo
vần A,B,C của tiếng Anh.Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp
tác kinh tế ASEAN , trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký
tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xin-ga-po tháng 2/1992, các nước
ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6-X, theo đó hai hay một số nước thành viên
ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nưóc còn lại
chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện.
1.3.3.Các nguyên tắc khác:
Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các
nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và
tôn trọng áp dụng như: nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện,
không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ
bản sắc chung của Hiệp hội.
Tuy các nguyên tắc này chỉ đựơc hình thành trong quá trình hoạt động của tổ
chức song lại là yêu cầu tất yếu cho các quan hệ phát sinh của các thành viên
nhằm phù hợp với hoàn cảnh của khu vực cũng như các nguyên tắc trong các
điều ứơc quốc tế chung,nó sẽ giử được sự ổn định và làm tốt vấn đề ngoại giao
cho mỗi nứơc.Đưa ASEAN ngày một hoàn thiện và từ đó sẽ nhận được sự quan
tâm và cái nhìn thiện cảm với bên ngoài,từ đó mà các mối quan hệ của nội tại
các quốc gia khu vực và các tổ chức khác trên thế giới dù song phương hay đa
quan hệ quốc tế hết sức chằng chéo, mỗi quốc gia thành viên lại có quan hệ thân
sơ với từng đối tác cụ thể của riêng mình. Do vậy, ASEAN phải giải bài toán trước
hết từ bên trong, tôn trọng mối quan hệ sẵn có của từng quốc gia và sử dụng quan
hệ của mỗi quốc gia với các đối tác, đối thoại trong tư cách là người đại diện cho
Hiệp hội. Đồng thời, ASEAN chú trọng phát huy ảnh hưởng trong vai trò người
chủ thể các diễn đàn do mình đề xướng:Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF),Diễn đàn
hợp tác Á-ÂU(ASEM).Cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC)…
Các diễn đàn này đều là sáng kiến của ASEAN, có sự tham gia của nhiều nước
ngoài Đông Nam Á và tùy từng phạm vi, có mặt hầu hết các nước lớn. Trong
khuôn khổ các diễn đàn, ASEAN là nơi tiến hành các cuộc gặp gỡ cấp cao, khởi
xướng các đề án và dàn xếp các khúc mắc để các quan điểm tiếp cận thuận lợi
hơn. Qua đó, “ASEAN phát huy vai trò của mình trong việc duy trì hòa bình và an
ninh khu vực, tìm giải pháp cho các vấn đề đụng chạm về lợi ích, phối hợp trong
cuộc đấu tranh chống khủng bố và chống tội phạm, thúc đẩy sự hợp tác kinh tế
một cách sống động và hiệu quả hơn”3
. Những thành quả đó đã nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế và
ngược lại, vị thế được thừa nhận của ASEAN lại chính là điều bảo đảm chủ quyền
quốc gia và ổn định khu vực.
1.4.1.Những cột mốc phát triển quan trọng
*Tuyên bố ASEAN:
3
Trần Oanh Vũ:Tìm Hiễu Về Hiến Chưong ASEAN ., cập 10:20 AM ngày 25/2/2011].
GVHD :Thạch Huôn
- 18 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
và Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan đã ra Tuyên bố ASEAN.
Đây là Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á với mục tiêu
đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa; tăng cường
hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau cũng như thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực.
*Tuyên bố về khu vực hòa bình,tự do và trung lập:
4
Nguyễn Quốc Hùng,Trừong Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn,ĐHQG-HN:Từ Tuyên Bố Bangkok
đến Hiến Chưong ASEAN,một chặng đừong lịch sử 40 năm,
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 – 2007 Trang 26-27.
GVHD :Thạch Huôn
- 19 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
Ngày 27/11/1971, tại Kuala Lumpur, Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao
Indonesia, Malaysia, Philippines, Xingapo và Đặc phái viên của Hội đồng Hành
pháp Quốc gia Thái Lan đã ký và công bố “Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự
do và trung lập ở ĐNÁ”-Tuyên bố ZOPFAN.5
Tuyên bố quan trọng này đã định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dài của ASEAN
là xây dựng ĐNÁ thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự
can thiệp dưới bất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài. cho thấy
mối quan tâm hàng đầu của 5 nước sáng lập ASEAN khi đó là xây dựng ĐNÁ
thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập. Nó giải tỏa những bất đồng đã xảy
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
của một ĐNÁ hòa bình, cả hai phía đều tính đến việc điều chỉnh chính sách khu
vực. Tháng 2-1976 các nguyên thủ ASEAN ký bản "Hiệp ước Thân hữu và Hợp
tác"(thường gọi là Hiệp ước Ba-li)6. Tháng 7 cùng năm, chính phủ Việt Nam ra
bản "Tuyên bố về Chính sách bốn điểm đối với ĐNÁ".Nội dung cơ bản của hai
văn kiện đó có nhiều điểm giống nhau:Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng vũ lực
hoặc đe dọa vũ lực đối với nhau,giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp thương
lượng hòa bình, xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác. Điều đó cho thấy cả hai
bên đều hướng tới một ĐNÁ hòa bình, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng phát
triển. Đây chính là mẫu số chung phản ánh nguyện vọng chính đáng và lợi ích
thiết thực của các nước ĐNÁ mặc dù có sự khác biệt về chế độ chính trị và xã hội.
Tiếp sau đó, trong những năm 1976 - 1978, quan hệ Việt Nam - ASEAN được cải
thiện đáng kể, hé mở những khả năng đầy triển vọng. Nhưng từ cuối năm 1978, do
tác động từ các nước lớn bên ngoài, ĐNÁ mất đi không khí hòa bình vừa mới xuất
hiện, rơi vào tình trạng mất ổn định, có lúc đứng bên bờ của nguy cơ chiến tranh
mới. Rõ ràng tâm lý lo ngại, thiếu tin cậy vốn đã ăn sâu trong thời "chiến tranh
lạnh" nay lại được khơi dậy, bị lợi dụng và hai khối nước ĐNÁ lại rơi vào thế đối
đầu.
Ngày 24/2/1976, tại Bali, Indonesia, nguyên thủ quốc gia các nước ASEAN ký
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở ĐNÁ (Hiệp ước Bali).Hiệp ước nhằm thúc
đẩy hòa bình vĩnh viễn, tình hữu nghị và hợp tác lâu bền giữa nhân dân các bên
tham gia Hiệp ước, góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và quan hệ
chặt chẽ hơn giữa các nước ĐNÁ.
*ASEAN mở rộng cả 10 nước.
Từ năm 1989 đến năm 1991 chiến tranh lạnh chấm dứt. Nước Đức thống nhất.
ngoài,cũng như giữa các nước ASEAN với nhau về hợp tác an ninh, để tăng cường
an ninh khu vực. Các cuộc đối thoại này dự định tiến hành trên cơ sở các diễn đàn
ASEAN đã có, đặc biệt là cơ chế hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng ASEAN
(AMM –PMC). Tháng 7/1992 Việt Nam, Lào đã ký Hiệp ước Bali, trở thành quan
sát viên của ASEAN.Trên cơ sở quyết định đó, tháng 7/1993, tại Hội nghị ngoại
trưởng ASEAN lần thứ 26 tại Singapore, các nước ASEAN đã chính thức tuyên bố
sẽ thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF) để bàn về hợp tác chính trị và an ninh
ở khu vực châu Á –Thái Bình Dương. Diễn đàn này bao gồm 18 nước thành viên
là 6 nước ASEAN,7 bên đối thoại (Mỹ, Nhật, Canada, Liên minh châu Âu,
Australia, New Zealand,Hàn Quốc), 3 nước quan sát viên (Việt Nam, Lào, Papua
New Guinea), và 2 nước hiệp thương (Nga và Trung Quốc). Ngày 27/7/1994, cuộc
họp đầu tiên của ARF cấp bộ trưởng ngoại giao đã diễn ra tại Bangkok, chính thức
mở đầu cho một hướng mới trong diễn đàn ASEAN: đối thoại để tăng cường an
ninh khu vực. Hội nghị đã thỏa thuận sẽ tiến hành họp ARF cấp bộ trưởng hàng
năm về nội dung có thể bàn những vấn đề như: xây dựng lòng tin,ngoại giao
phòng ngừa và không phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng
loạt…Diễn đàn này chưa được thể chế hóa như kiểu Hội nghị an ninh hợp tác châu
Âu (CSCE), mà chỉ mới mang tính chất tư vấn.Hội nghị AMM 28 họp ngày
28/7/1995 ở Brunei Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, trở thành thành viên
chính thức thứ bảy của tổ chức này. Đó là một bước ngoặt quan trọng của
ASEAN, mở ra khả năng hiện thực tiến đến ASEAN 10.Từ các kết qủa đó “Tháng
12/1995 Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN V họp tại Bangkok (Thailand).Lần đầu
GVHD :Thạch Huôn
- 22 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
Dương trong thế kỷ XXI theo phong cách riêng của mình, xây dựng ĐNÁ phát
triển thịnh vượng,đùm bọc lẫn nhau.Trong những ngày kỷ niệm 40 năm thành lập
7
Nguyễn Quốc Hùng,Trừong Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn,ĐHQG-HN:Từ Tuyên Bố Bangkok
đến Hiến Chưong ASEAN,một chặng đừong lịch sử 40 năm,
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 – 2007 Trang 30-31.
GVHD :Thạch Huôn
- 23 -
SVTH :Lê Hoàng Bảo
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
ASEAN, Hội nghị AMM 40 họp tại Manila (Philippines) từ 29/7 đến 2/8/2007 đã
bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng như thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác,
hội nhập khu vực, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN vào năm
2015, các vấn đề chính trị và an ninh trong Diễn đàn Khu vực ASEAN(ARF)14.
Đặc biệt Hội nghị này đã hoàn tất,thông qua dự thảo Hiến chương ASEAN để
trình Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN XIII ở Singapore vào tháng 11-2007.Hiến
chương ASEAN là một văn kiện lịch sử đánh dấu sự trưởng thành của Hiệp hội
vào tuổi 40.“Từ đây với sự nỗ lực và thiện chí của các nước thành viên, Hiến
chương ASEAN sẽ được thông qua và được phê chuẩn cuối năm 2008, sẽ có hiệu
lực pháp lý từ 2009.Một tương lai tươi sáng đang mở ra cho mọi người dân các
nước ASEAN.”8
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 (năm 2007), lãnh đạo các nước
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NỀN
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM.
định đưa ra chưa có sự ràng buộc về mặt pháp lý, cơ cấu tổ chức chưa xác định rõ
ràng, việc thi hành các quyết định còn nhiều hạn chế. Bộ máy, cơ chế hợp tác
trong ASEAN chưa được thể chế hóa,còn mang tính tương đối.Sự mở rộng liên
kết cũng như quá trình phát triền của ASEAN cho tới nay đã bộc lộ những tồn tại,
đặt ra nhiều thách thức.Ngay từ tên gọi,ASEAN là một “Hiệp hội”,nên tính chất và
cơ cấu của nó khá lỏng lẻo chỉ là một liên kết hợp tác.Việc thực hiện các cam kết
do các nhà nước thành viên quyết định, tự chịu trách nhiệm và lại được"bảo vệ"
bằng nguyên tắc"không can thiệp".Hơn thế,ASEAN không có ý định trở thành một
liên minh của những đồng minh chiến lược. Vì vậy, sự gắn bó giữa các nước thành
viên chỉ ở trong một chừng mực nhất định ASEAN từ năm nước mở rộng thành
mười nước với các chế độ chính trị- xã hội khác nhau đã gặp khó khăn trong quá
trình thực thi nguyên tắc đồng thuận- nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Về kinh tế,
việc hình thành khu vực thị trường tự do ASEAN- Trung Quốc mở ra những cơ
hội mới,đồng thời cũng gặp phải những thách thức không kém phần gay gắt.Tiếp
theo sẽ là những hiệp ước tương tự giữa ASEAN với Nhật Bản,Hàn Quốc,Ấn Độ
và nhiều nước khác.Khoảng cách về trình độ giữa hai nhóm nước ASEAN vẫn là
một trở ngại lớn trong quan hệ thương mại và đầu tư nội khối,làm chậm tiến trình
thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA)và gặp nhiều khó khăn trong
việc thực hiện các cam kết Hiệp định khu vực thương mại tự do( FTA) với bên
ngoài.Sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia và lợi ích chung của toàn Hiệp hội
cũng là một tồn tại không nhỏ.Các nước thành viên thường quan tâm trước hết và
chủ yếu là lợi ích quốc gia. Đã xảy ra những hiện tượng "xé rào", khi buôn bán
trong nội bộ ASEAN tiến triển chậm chạp, một số nước thành viên đã ký kết với
các đối tác bên ngoài, lập nên khối thương mại song phương, ảnh hưởng đến nền
kinh tế chung nội khối.
*Yêu cầu chủ quan .