TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
……
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2015)
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Nguyễn Thị Hồng Đang
Bộ môn Luật Thương mại
MSSV: 5115969
Lớp Luật Hành chính – K37
Cần Thơ, tháng 12 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 3
5. Bố cục của đề tài......................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN CÓ YÊU TỐ
NƯỚC NGOÀI ............................................................................................................... 4
1.1. Khái niệm về kết hôn, kết hôn có yếu tố nước ngoài ............................................. 4
1.1.1. Khái niệm về kết hôn ...................................................................................... 4
1.1.2. Khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài .................................................... 5
1.2. Lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam............................................................................................................ 7
1.2.1. Giai đoạn từ trước năm 1986 ......................................................................... 7
1.2.1.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 .............................. 7
1.2.1.2. Giai đoạn năm 1946 đến năm 1959 .................................................... 8
1.2.1.3. Giai đoạn năm 1959 đến năm 1986 .................................................... 9
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay ................................................................... 11
1.2.2.1. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000 .............................................. 11
1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay ........................................................ 12
1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài......................... 13
1.3.1. Phương pháp xung đột ................................................................................. 14
1.3.2. Phương pháp thực chất ................................................................................ 15
1.4. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài............................. 16
1.4.1. Pháp luật quốc gia ....................................................................................... 16
1.4.2. Điều ước quốc tế .......................................................................................... 18
1.5. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài .. 18
1.5.1. Yếu tố chủ thể .............................................................................................. 19
1.5.2. Yếu tố khách thể của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ......................... 21
ngoài.............................................................................................................................. 44
2.4. Thẩm quyền đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài ............................................. 48
2.4.1. Thẩm quyền đăng kí kết hôn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ......................................................... 48
2.4.2. Thẩm quyền đăng kí kết hôn của cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài ..................................................................................................................... 49
2.4.3. Thẩm quyền đăng kí kết hôn của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở
nước ngoài ..................................................................................................................... 50
2.5. Giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài ......................................... 51
2.5.1. Hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài ................................................. 51
2.5.2. Thời hạn giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài..................... 53
2.6. Trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài. .......................... 54
2.6.1. Trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam ........................................................................................................................ 54
2.6.1.1. Nộp, tiếp nhận hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam............................................................................................................................54
2.6.1.2. Giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ... 55
2.6.1.3. Lễ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ...................... 57
2.6.2. Trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan đại
diện của Việt Nam ở nước ngoài .................................................................................... 58
2.6.2.1. Nộp, tiếp nhận hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan
đại diện của Việt Nam ở nước ngoài .............................................................................. 58
2.6.2.2. Xem xét, giải quyết hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ
quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài ..................................................................... 59
2.6.2.3. Tổ chức lễ đăng kí kết hôn ................................................................ 60
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ VẤN ĐỀ KẾT
HÔN CÓ YẾU TỔ NƯỚC NGOÀI ............................................................................ 62
3.1. Thực trạng về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài .......................................... 62
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình – là hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người,
là môi trường quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách, góp phần tích cực và
quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự tác động qua lại và chi phối lẫn
nhau giữa gia đình và xã hội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân. Trong thời đại ngày
nay, xu thế hội nhập – quốc tế hóa là xu hướng khách quan của các nước đang mở rộng
thì hòa vào sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng được hình thành dưới
nhiều góc độ khác nhau của xã hội dựa trên những nguyên tắc, cơ sở nhất định. Hôn nhân
giữa công dân Việt Nam với nhau, giữa người Việt Nam với người nước ngoài được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và
vợ chồng bình đẳng. Quan hệ hôn nhân của người Việt Nam với người nước ngoài ngày
càng phổ biến và tăng nhanh về số lượng.
Do tính chất phức tạp của quan hệ này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận và bảo vệ
bằng cách thông qua hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh và bổ
sung sửa đổi để hoàn thiện nội dung của chế định này trên thực tế. Có những văn bản ra
đời trước như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ Hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và hiện nay là Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, sắp tới là Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2015, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28
tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn
nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Thông tư
22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số
24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố
bảo quan hệ đối ngoại với các quốc gia trên thế giới không bị ảnh hưởng xấu, đồng thời
đảm bảo trật tự xã hội trong nước, hạn chế và ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong
kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Vì những lý do trên nên Người viết chọn đề tài “Vấn đề kết hôn có yếu tố nước
ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Đề tài này đề cập đến những quy định của pháp luật và tình trạng kết hôn có yếu tố nước
ngoài ở nước ta hiện nay. Cùng với thực trạng nghiên cứu được, đề tài này sẽ đưa ra một
số giải pháp nhằm đóng góp ý kiến cho các quy định hiện hành. Thông qua đề tài này
người đọc sẽ nhìn nhận vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài một cách bao quát và bên
cạnh đó sẽ hiểu rõ hơn về vấn đề đáng quan tâm hiện nay ở một số vùng nông thôn còn
thiếu thốn ở nước ta.
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn, Người viết nghiên cứu những lý luận chung về quan hệ
kết hôn có yếu tố nước ngoài: các khái niệm cơ bản, lịch sử phát triển, phương pháp điều
chỉnh, nguồn luật điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, các nguyên tắc chung và các nguyên
tắc đặc thù điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Người viết tìm hiểu những
quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: điều kiện kết
hôn, các trường hợp cấm kết hôn, tổ chức và hoạt động của Trung tâm tư vấn hỗ trợ kết
hôn có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền đăng kí kết hôn, hồ sơ, thời hạn giải quyết, trình tự
thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài. Từ những lý luận chung và những
quy định của pháp luật, Người viết tìm hiểu thực trạng cũng như giải pháp hoàn thiện về
vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên Người viết chỉ tìm hiểu thực trạng kết hôn
giữa nữ công dân Việt Nam với nam công dân nước ngoài.
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 2
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
+ Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề kết hôn có yếu
tố nước ngoài.
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 3
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Trước thời kỳ đổi mới, ở Việt Nam hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là
loại quan hệ ít phổ biến. Tuy nhiên trong quá trình hội nhập quốc tế, khi mà Việt Nam
tham gia ngày càng sâu, rộng vào các quan hệ quốc tế, quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm gặp trong đời sống xã hội nữa mà ngày
càng phát triển một cách đa dạng và phức tạp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc điều
chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trở thành một yêu cầu cấp
bách và quan trọng, đó không chỉ góp phần ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế
mà còn là nhu cầu thiết yếu của xã hội, hướng đến bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.1. Khái niệm về kết hôn, kết hôn có yếu tố nước ngoài
Ngày nay xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, sự hợp tác của các quốc gia ngày
càng trở nên phổ biến, do đó sự hình thành quan hệ hôn nhân cũng được hiểu theo nhiều
cách khác nhau, tuy nhiên đó chỉ là những quan điểm được truyền lại từ xa xưa. Từ
những quan điểm đó Luật của nước ta đã có định nghĩa rõ ràng về hôn nhân và cả hôn
nhân có yếu tố nước ngoài để hạn chế việc hiểu sai nghĩa và áp dụng không đúng.
1.1.1. Khái niệm về kết hôn
cho đời sống vợ chồng, cho quá trình làm việc, sản xuất của gia đình và con người.
Theo quan điểm truyền thống thì kết hôn là việc nam và nữ được gia đình hai bên tổ
chức lễ cưới và họ hàng thừa nhận. Khi đó, hai bên nam nữ bắt đầu cuộc sống vợ chồng,
cùng nhau sản xuất, tạo dựng một gia đình không hề có sự điều chỉnh của pháp luật mà
chỉ được xác lập theo phong tục, tập quán. Nhưng từ khi có pháp luật điều chỉnh thì quan
hệ kết hôn phải tuân theo những quy định, qua nhiều góc độ khác nhau thì kết hôn được
hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Theo góc độ Luật học thì “kết hôn là sự liên kết giữa một người đàn ông và một
người đàn bà thành vợ chồng được pháp luật công nhận”3. Việc kết hôn là sự kết hợp
giữa một người đàn ông và một người đàn bà cùng mục đích xác lập quan hệ vợ chồng.
Kết hôn là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình và sau đó là được sự bảo vệ và điều
chỉnh của pháp luật.
Quy định tại điều 8 khoản 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung
năm 2010 “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp
luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 là đạo
luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta không có định nghĩa về kết hôn, nhà nước
ta nắm bắt tình hình thực tế đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, lần đầu
tiên đã ghi nhận định nghĩa về kết hôn. Và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi
bổ sung năm 2010 lần thứ hai ghi nhận định nghĩa kết hôn để khi áp dụng pháp luật và
thực hiện pháp luật trở nên dễ dàng. Việc xác lập quan hệ kết hôn tuân theo những quy
định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn. Kết hôn là sự thừa nhận của
Cơ quan có thẩm quyền về việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa những người khác giới,
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau.
1.1.2. Khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Hiện nay do sự giao lưu của nước ta và các nước trên thế giới là do kết quả của quá
trình thực hiện “nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp
tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập,
hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên
hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là
tố nước ngoài và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010. Theo
khoản 2 điều 8 thì: “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định
của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”, và tại khoản 14 điều 8 “quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
a)
b)
c)
quan hệ
Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài.”
Bên cạnh đó tại khoản 4 điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ
sung năm 2010 quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ
giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
Từ những quy định trên, kết hôn có yếu tố nước ngoài được xác định với các chủ
thể: Công dân Việt Nam với người nước ngoài; người nước ngoài với nhau nhưng thường
trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập theo pháp luật
nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước
ngoài.
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chịu sự tác động qua lại của pháp luật quốc
gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết hoặc đã là thành viên nhằm đảm
bảo cho quan hệ này phù hợp với ý chí và quyền lợi của mình, đời sống và xã hội.
4
Hiến pháp năm 2013, điều 12.
nhất từ Đàng Trong đến Đàng Ngoài. Tuy nhiên ngay từ khi ban hành Bộ luật này có
nhiều quy định lạc hậu hơn so với Bộ luật Hồng Đức.
Dưới thời Pháp thuộc đất nước bị chia cắt làm ba kì: Nam kì, Trung Kì, Bắc Kì. Ở
Nam Kì, thực dân Pháp ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam Kì. Ở Bắc Kì, Bộ dân luật
Bắc Kì năm 1931 được thay thế cho Bộ luật Gia Long theo Nghị định của Thống sứ Bắc
Kì. Ở Trung Kì, thực dân Pháp ban hành Hoàng Việt Trung Kì hộ luật năm 1939. Tuy
nhiên pháp luật dân sự trong thời kì này có những mặt hạn chế nhất định: hạn chế về hôn
nhân và gia đình, kết hôn, ly hôn… mang nặng tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo,
trọng nam khinh nữ.
Trong thời kì này tuy có ba bộ luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhưng không hề
có quy định cụ thể nào về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhưng việc kết hôn giữa
công dân An Nam và người Pháp vẫn diễn ra thường xuyên.
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 7
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Như vậy, có thể thấy:
Thứ nhất, trong thời kì phong kiến, nước ta thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”
nên các bộ luật trong thời kì này không thực sự có quy định về quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài.
Thứ hai, trong thời kì Pháp thuộc, nước ta có mối quan hệ với các nước như Trung
Quốc, các nước Đông Nam Á, các nước Phương Tây, tuy nhiên các mối quan hệ này còn
rất hạn chế. Pháp luật thời kì này bắt đầu có một số quy định về quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài nhưng chủ yếu là điều chỉnh các quan hệ về quốc tịch.
Trang 8
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
tuân theo sắc lệnh này nhưng trong văn bản lại không có quy định nào quy định về kết
hôn có yếu tố nước ngoài.
Tuy chưa có văn bản cụ thể nào điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
nhưng trong một số văn bản điều chỉnh các quan hệ pháp luật khác đã có đề cập tới vấn
đề này. Điều 5 và điều 6 sắc lệnh 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 về Quốc tịch Việt
Nam công nhận thực tế là có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nhưng sau đó sắc
lệnh 051/SL ngày 14 tháng 12 năm 1959 đã bãi bỏ điều 5 và điều 6 sắc lệnh 53/SL. Hiến
pháp năm 1959 ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân nói
chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng trong giai đoạn này. Tuy có quy
định nhưng để tìm một quy định cụ thể và trực tiếp về kết hôn có yếu tố nước ngoài thì
chưa có.
Nhìn chung, pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế, chưa
tập hợp thành một hệ thống, chưa có văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh mà chỉ ghi
nhận trong Hiến pháp năm 1946. Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng chế độ hôn
nhân mới, tiến bộ ở nước ta. Ngoài ra quan hệ hôn nhân còn được điều chỉnh theo một số
sắc lệnh, bãi bỏ những quy định lạc hậu, góp phần giải phóng phụ nữ, thúc đẩy xã hội
phát triển. Bên cạnh đó, quan hệ của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu
hình thành và dần được củng cố, ở thời kì này phát triển con người là rất quan trọng, các
nước tiếp nhận công dân nước ta với nhiều ngành nghề khác nhau, Việt Nam bắt đầu gửi
công dân của nước mình qua các nước để học tập, nghiên cứu, đồng thời Việt Nam tiếp
nhận nhiều chuyên gia, cán bộ các nước đến cộng tác, giúp đỡ và huấn luyện cho cán bộ
Việt Nam. Trong bối cảnh như thế, các quan hệ nước ngoài bắt đầu phát sinh, do đó đòi
hỏi phải có pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài vẫn
gia đình năm 1959 lại không có quy định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật trong nước đã điều chỉnh một số vấn đề liên quan tới quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài:
Ở miền Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04 ngày 16 tháng 01 năm 1961
kèm theo điều lệ về đăng kí hộ tịch, trong đó quy định về vấn đề sinh, tử, kết hôn. Tiếp
đến Bộ Nội vụ ban hành thông tư 05 ngày 21 tháng 6 năm 1961 hướng dẫn thi hành Điều
lệ trên. Trong văn bản này chưa quy định cụ thể về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài
nhưng nó là tiền đề cơ bản để giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Ở miền Nam, dưới sự cai trị của Ngụy quyền miền Nam, các hôn nhân trong thời kì
này vẫn chịu sự điều chỉnh của Pháp qui giản yếu năm 1883 cho đến năm 1959. Vì lý do
đó nên ngày 02 tháng 01 năm 1959, luật Gia đình của chính quyền họ Ngô được ban
hành. Về mặt pháp lý, Luật Gia đình này chấm dứt sự điều chỉnh của Pháp qui giản yếu
năm 1883 đối với các quan hệ hôn nhân trong khu vực tạm thời nằm trong sự cai trị của
ngụy quyền miền Nam. Chính quyền họ Ngô bị lật đổ vào tháng 11 năm 1963, chính
quyền bù nhìn mới lên thay đã ban hành Sắc luật 15/64 thay cho Luật Gia đình năm
1959. Ngày 20 tháng 12 năm 1972, Bộ dân luật được ban hành. Bộ luật này ra đời đã
thay thế Sắc luật 15/64 cùng với những văn bản bổ sung, sửa đổi sắc luật này trước đó.
Về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định như sau: “Trong trường
hợp hôn thú lập ở ngoại quốc, trong vòng ba tháng sau khi trở về lãnh thổ Việt Nam,
người có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một bản sao chứng thư hôn thú cũ nhất là ba
tháng gửi cho biện lý tòa án nơi trú ngụ. Biện lý sẽ ra lệnh đăng ký vào sổ giá thú đương
niên và ghi chú vào lề chứng thư khai sinh của đương sự, ở sổ chánh cũng như ở sổ
kép”5.
Nhìn chung các văn bản pháp luật dưới chế độ ngụy quân, ngụy quyền miền Nam là
các văn bản có nội dung đi ngược với lợi ích quốc gia và dân tộc. Mặc dù đã xóa bỏ chế
độ đa thê nhưng vẫn còn thể hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, cấm ly hôn
giữa vợ và chồng.
5
Bộ dân luật, chương III, điều 125.
trưởng quy định.”6. Ngoài ra ở giai đoạn này “trong trường hợp đã có hiệp định tương
trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân
theo những quy định của hiệp định đó”7. Dành riêng một chương để điều chỉnh quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thấy được sự quan tâm đối với nhân dân và
tầm nhìn xa trông rộng của Nhà nước ta trong xu thế lúc bấy giờ, cùng với sự phát triển
dần của hệ thống pháp luật và công cuộc lập pháp ở nước ta.
Năm 1993, pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 02 năm 1993 và có hiệu
lực ngày 01 tháng 03 năm 1994. Đây là văn bản chuyên biệt đầu tiên điều chỉnh một phần
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó lần đầu tiên quy định áp
dụng tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài “ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của Hiến
pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt
6
7
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, chương IX, điều 52.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, chương IX, điều 54.
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 11
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Nam, cũng như các quy định về hôn nhân và gia đình trong các điều ước quốc tế mà
tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài được thông qua bao gồm 84 điều. Ngày 16 tháng 12
8
Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, chương 1, điều 1, khoản
1.
9
Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, chương 1, điều 1, khoản
2.
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 12
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
năm 2002, Bộ Tư pháp ra Thông tư 07/2002/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của
Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Thời gian sau, ngày 21 tháng 7 năm 2006 Nghị định
69/2006/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐCP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Các
văn bản pháp lý này ra đời đã tạo tiền đề cho việc áp dụng dể dàng và một cách thống
nhất của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ
sung năm 2010 không có thay đổi mà do sự hợp nhất của Luật Nuôi con nuôi và Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Ngày 28 tháng 03 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP
Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
1.3.1. Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột không trực tiếp giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài, mà chỉ có nhiệm vụ dẫn chiếu tới luật thực chất của quốc gia mà ở đó có các quy
định phân định quyền và nghĩa vụ của các bên, nó được xây dựng trên cơ sở hệ thống các
quy phạm xung đột của quốc gia, kể cả các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc
tế mà quốc gia đó là thành viên. Tính gián tiếp của phương pháp xung đột thể hiện ở việc
dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật áp dụng, còn việc áp dụng phụ thuộc vào pháp luật của
nước mà được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến.
Khoản 1 điều 103 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm
2010 quy định: “trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi
bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được
tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn
phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.”. Ví dụ trên không quy
định quyền và nghĩa vụ các bên tham gia vào quan hệ này mà chỉ quy định chọn pháp
luật áp dụng. Theo quy định, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
phải tuân theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch về điều kiện kết hôn, ngoài ra
nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước
ngoài còn phải tuân theo các quy định của Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Thông thường các quy phạm pháp luật cấu thành từ ba bộ phận: giả định, quy định
và chế tài. Tuy nhiên quy phạm xung đột cấu thành từ 2 bộ phận: phần phạm vi (trường
hợp đặt ra) và phần hệ thuộc (hệ thống lựa chọn) và không thể thiếu đi phần nào. Trong
đó, phần phạm vi chỉ ra những mối quan hệ sẽ được giải quyết ở phần hệ thuộc, phần hệ
thuộc thường không trực tiếp xác định hình thức thưởng phạt mà chỉ nêu lên các văn bản
quy phạm hoặc hệ thống pháp luật được áp dụng trong phần phạm vi.
Hiện nay có các quy phạm xung đột: quy phạm xung đột một bên là quy phạm áp
dụng pháp luật của chính quốc gia ban hành ra nó; quy phạm xung đột nhiều bên là loại
quy phạm quy định có thể áp dụng pháp luật nước này, có thể áp dụng pháp luật nước kia
tùy vào từng trường hợp cụ thể. Quy phạm xung đột được ghi nhận trong các văn bản
được áp dụng cho người nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ hai, trường hợp có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến, khi phát sinh quan hệ kết
hôn có yếu tố nước ngoài, vấn đề chọn luật điều chỉnh được đặt ra. Nếu quy phạm xung
đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước nào thì pháp luật của nước đó được áp dụng.
Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010: “trong
trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác cảu Việt Nam có quy định hoặc điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia viện dẫn thì
pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc
quy định trong Luật này; trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp
luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.” Việc dẫn chiếu
các quy phạm xung đột để chọn luật áp dụng bao gồm dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến
pháp luật của nước thứ ba: Trường hợp dẫn chiếu ngược là pháp luật của nước thứ nhất
có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ hai, pháp luật của nước thứ
hai lại có quy phạm xung đột dẫn chiếu ngược lại pháp luật của nước thứ nhất, khi đó
pháp luật của nước thứ nhất được áp dụng. Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước
thứ ba là pháp luật của thứ nhất có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước
thứ hai, pháp luật của nước thứ hai lại có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của
nước thứ ba thì pháp luật của nước thứ ba được áp dụng. Trong trường hợp dẫn chiếu
ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba, các quy phạm pháp luật quy định
trong pháp luật được các quy phạm xung đột dẫn chiếu đến để điều chỉnh quan hệ kết hôn
có yếu tố nước ngoài là quy phạm thực chất.
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 15
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Pháp luật quốc gia là hệ thống các quy phạm pháp lý, thành văn hoặc không thành
văn do nhà nước đặt ra hoặc công nhận nhằm điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa các chủ thể
của pháp luật.
Pháp luật quốc gia là loại nguồn khá phổ biến so với các loại nguồn khác, pháp luật
quốc gia với tư cách là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật trong nước nhằm
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 16
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
điều chỉnh quan hệ này. Hình thức được coi là nguồn của pháp luật phụ thuộc vào từng
hệ thống pháp luật của từng quốc gia quy định.
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài quy định trong các văn bản:
Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đây là văn bản có vị trí
đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước ta, ban hành bởi cơ quan quyền lực
cao nhất - Quốc hội. Trong mọi trường hợp các quy định tại các văn bản khác không
được trái với quy định của Hiến pháp. Quyền kết hôn được xem là quyền cơ bản của
công dân, pháp luật thừa nhận và bảo vệ được ghi nhận trong các Hiến pháp của nước ta,
theo điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn
nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau; nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ
và trẻ em”.
Bộ luật Dân sự năm 2005: quan hệ dân sự nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Ngày 31 tháng 12 năm 2013 Bộ Tư
pháp ban hành Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài.
1.4.2. Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trong quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước trong khu vực Đông
Nam Á, điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đóng vai trò
quan trọng. Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế do các quốc gia cùng nhau thỏa
thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ
với nhau thông qua các quy phạm được gọi là quy phạm điều ước.
Khoản 1 điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm
2010: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt
Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia”.
Pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế được Việt Nam công nhận và tôn trọng, khi tham
gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, công dân Việt Nam phải tuân theo quy
định của pháp luật quốc gia và không trái với các quy định của điều ước quốc tế mà Việt
Nam kí kết hoặc tham gia.
Để đảm bảo sự công bằng và bảo vệ cho công dân của các nước khi ở trên nước sở
tại, Việt Nam đã kí kết với nhiều nước điều chỉnh các mối quan hệ đa dạng của nước ta
với nước ngoài. Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Việt Nam đã kí kết với
nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự
có hiệu lực năm 2000, Việt Nam kí kết với Mông Cổ hiệp định số 39/LPQT ngày 17
tháng 4 năm 2000 về tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự có hiệu
lực từ ngày 13 tháng 6 năm 2002, Việt Nam kí kết với nước Cộng hòa Belarus hiệp định
tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự có hiệu
lực năm 2001. Các hiệp định này công nhận và bảo đảm việc thực hiện tôn trọng các
quyền nhân thân và tài sản của công dân các quốc gia kí kết này trên lãnh thổ quốc gia
nước kí kết kia trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Trường hợp thứ nhất, chủ thể là công dân Việt Nam
Khoản 1 điều 17 Hiến pháp năm 2013 thì: “công dân nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Cơ sở pháp lý quan trọng để xác định
tư cách chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đó là quốc tịch của các bên.
Quốc tịch là trạng thái pháp lý ràng buộc xác định mối quan hệ giữa nhà nước với cá
nhân có quốc tịch. Ở Việt Nam quốc tịch được quy định trong Luật quốc tịch năm 2008,
theo quy định của Luật này người mang quốc tịch Việt Nam là người: được sinh ra trong
hay ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha và mẹ đều là công dân Việt Nam (điều 15); được
sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn
người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam mà cha không ghi
rõ là ai (khoản 1 điều 16); được sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người
kia là công dân nước ngoài, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm
đăng kí khai sinh cho con, trường hợp được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ
không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con (khoản 2 điều 16); được sinh ra
trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có
nơi thường trú tại Việt Nam (khoản 1 điều 17); được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có
mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, con cha không rõ là
ai (khoản 2 điều 17). Ngoài ra, theo quy định của Luật quốc tịch năm 2008 xác định quốc
tịch Việt Nam còn được nhập, trở lại quốc tịch…
GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 19
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang