TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----o0o----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2015)
Đề tài:
VẤN ĐỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hải Đông
Bộ Môn: Luật Thương Mại
MSSV: 5115705
Lớp: Luật Tư pháp 1 – K37
Cần Thơ, 11/ 2014
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................ 1
1.4.4 Nguyên tắc điều chỉnh ........................................................................... 16
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.4.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (Lex patriace) ................... 16
1.4.4.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự ( Lex domicile) ................ 17
1.4.4.3 Nguyên tắc luật Tòa án (Lexfori)..................................................... 17
1.5 Lược sử hình thành và phát triển chế định pháp luật về nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt nam................................................... 18
1.5.1 Trước năm 1945..................................................................................... 18
1.5.2 Từ năm 1945 đến 1959 .......................................................................... 19
1.5.3 Từ năm 1959 đến 1986 .......................................................................... 19
1.5.4 Từ năm 1986-2000................................................................................. 20
1.5.5 Từ năm 2000 đến nay. ............................................................................ 22
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ĐIỀU
CHỈNH VỀ QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI.....................................................................................................................24
2.1 Điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài .............................................. 24
2.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi .......................................... 24
2.1.1.1 Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam........... 24
2.1.1.2 Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài ......... 26
2.1.2 Điều kiện đối với người được nhận nuôi ................................................ 27
2.1.2.1 Điều kiện đối với trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi nước
ngoài……… ................................................................................................ 27
2.1.2.2 Điều kiện đối với trẻ em nước ngoài được nhận làm con
nuôi…………………………………………………………………………………..28
2.5.2 Hệ quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi...................... 44
2.6 Hoạt động của tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài ........................................ 45
2.6.1 Điều kiện thành lập ............................................................................... 45
2.6.2 Hồ sơ xin đăng xin cấp phép hoạt động tại Việt Nam ............................. 46
2.6.3 Trình tự, thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho tổ chức nuôi con nuôi nước
ngoài tại Việt Nam .......................................................................................... 46
2.6.4 Sửa đổi nội dung giấy phép, gia hạn giấy phép và thu hồi giấy của tổ
chức nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam .................................................. 47
2.6.5 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài hoạt động tại
Việt Nam.............. ........................................................................................... 50
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ VẤN ĐỀ
NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM .................. 52
3.1 Thực trạng về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài....................................... 52
3.1.1 Thành tựu về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ....................... 52
3.1.1.1 Tạo ra cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế minh bạch hơn so
với thời kỳ trước đây ................................................................................... 52
3.1.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước
ngoài…………………………………………………………………………………54
3.1.1.3 Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi ngày được
mở rộng……………………………………………………………………………...55
3.1.1.4 Tìm được mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em ................................ 55
3.1.1.5 Về công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài................. ................................................................................. 56
3.1.2 Những tồn tại, bất cập trong việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài..................................................................................................................56
3.1.2.1 Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi còn bất cập .............. 56
3.1.2.2 Về việc quản lý thông tin của trẻ khi đã được giao làm con nuôi nước
ngoài…………………………………………………………………………………57
3.1.2.3 Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi ................................ 57
3.1.2.4 Sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến việc giải
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia
đình trước đây. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, quyền được nuôi con nuôi và
quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ;
việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của
pháp luật. Việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi đã góp phần giúp cho nhiều trẻ
em có được mái ấm gia đình thay thế trong và ngoài nước, giúp cho nhiều đứa trẻ
có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt trở thành những
người có ích cho xã hội. Đồng thời, thông qua việc giải quyết nuôi con nuôi cũng
góp phần quan trọng bảo đảm cho những người đơn thân hoặc cặp vợ chồng hiếm
con được thực hiện quyền làm cha mẹ.
Hiện nay, do nhu cầu hội nhập, với chính sách khuyến khích, mở rộng quan
hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
ngày càng gia tăng, song hiện tượng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có những
diễn biến đa dạng và phúc tạp. Ngoài bản chất và mục đích cao đẹp của việc nuôi
con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con
giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho đứa trẻ có
cuộc sống tốt hơn, cũng còn xuất hiện những việc làm phi đạo đức, lợi dụng danh
nghĩa cho trẻ làm con nuôi để thu gom, môi giới, dẫn dắt mua bán trẻ em. Do vấn đề
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong những vấn đề dân sự có yếu tố
nước ngoài được điều chỉnh bởi ngành luật tư pháp quốc tế nên những quan hệ phát
sinh trong quan hệ này chịu sự điều chỉnh đặc biệt.
Như chúng ta đã biết, bất kỳ một lĩnh vực nào trong đời sống cũng cần có sự
điều chỉnh của pháp luật, nó cần phải có nguyên tắc, các quy định cụ thể để hoạt
động trong khuôn khổ pháp luật, nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật thì các
cuộc sống.
Từ những lý do khách quan về lý luận và thực tiễn nêu trên, người viết đã
suy nghĩ và lựa chọn đề tài “Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp
luật Việt Nam” để làm đề tài tốt nghiệp khóa học của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt
Nam”, người viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận chung về nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài như khái niệm, bản chất, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài…Đồng thời, người viết tiến hành phân tích những quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như về
nguyên tắc giải quyết, điều kiện nuôi con nuôi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải
quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và
cha mẹ đẻ, trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài. Dựa trên cơ sở lý luận cũng như cơ sở pháp lý, người viết đưa ra thực trạng
và giải pháp hoàn thiện về vấn nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Nuôi con nuôi là hoạt động nhân đạo làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con
mang tính chất lâu dài giữa một bên là người nhận nuôi và trẻ em được nhận nuôi
bảo đảm cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường gia đình. Hiện nay Việt Nam là
một trong những quốc gia có một số lượng lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, trẻ em cơ nhỡ, trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc hóa học
từ chiến tranh…chưa được quan tâm từ cộng đồng xã hội. Hơn ai hết những đứa trẻ
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
2
SVTH: Nguyễn Hải Đông
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
3
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Chương này người viết tập chung nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung
về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như khái niệm, bản chất , đặc trưng
cơ bản về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, lịch sử hình thành và phát
triển của pháp luật điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…Từ
tiền đề lý luận chung sẽ tạo cơ sở cho hoạt động nghiên cứu về quy định pháp luật
hiện hành về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi
Con nuôi là việc một người được người khác nhận làm con nhưng không trực
tiếp sinh ra, người nhận con nuôi gọi là cha nuôi, mẹ nuôi. Quan hệ pháp luật giữa
cha mẹ nuôi và con nuôi giống như quan hệ pháp luật giữa cha mẹ đẻ và con đẻ.
Việc nhận con nuôi phải tuân theo những quy định của pháp luật1.
Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ
lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ
con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi...; dựa trên ý
chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi2.
Theo Điều 3 Luật nuôi con nuôi giải thích:“Nuôi con nuôi là việc xác lập
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay là vấn đề hiện được nhiều nước
trên thế giới quan tâm. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay, nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài thực sự đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu
và đã được thể chế hoá trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Ở nước ta trong những năm gần đây nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
được Nhà nước đặc biệt quan tâm bằng việc ban hành nhiều chính sách, văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm
xử lý những sai phạm, làm cho việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thực
sự mang tính nhân đạo, tìm mái ấm gia đình và hạnh phúc cho trẻ em.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì: “Nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam giữa công dân Việt
Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài”. Như vậy các quan hệ của các chủ
thể hình thành quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm:
- Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với trẻ em Việt Nam cư trú
trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cư trú ở nước ngoài.
- Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với trẻ em nước ngoài ở
Việt Nam hoặc ở nước ngoài.
- Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả
hai bên định cư ở nước ngoài.
- Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau phát sinh tại Việt
Nam.
Theo các trường nêu hợp trên, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
đã được mở rộng không chỉ là quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam
3 Ts Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1 – Gia đình, trang
197.
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
yếu tố nước ngoài thể hiện ý chí của tất cả các quốc gia trong việc định hướng phát
triển toàn diện của trẻ em sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế. Sự quan tâm này
xuất phát từ mục đích cao cả của cộng đồng và xã hội đối với việc bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp cho trẻ em.
1.2.1.2 Bản chất pháp lý
Cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi ý chí
của các bên đương sự thể hiện một cách rõ ràng đồng thời các bên đương sự phải
đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật. Bản chất pháp
lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là sự ghi nhận về mặt pháp lý của
các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài.
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
6
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Bản chất pháp lý của vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước tiên là
sự thể hiện ý chí của các bên đương sự trong việc xác lập quan hệ cha me nuôi - con
nuôi. Đây là sự thể hiện ý chí của người nhận con nuôi, sự thể hiện ý chí của cha mẹ
đẻ hoặc là của người giám hộ của người được cho làm con nuôi. Trên cơ sở ý chí
của các bên đương sự được một cách rõ ràng thì quan hệ pháp lý được xác lập và
được pháp luật thừa nhận. Sự công nhận quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi theo pháp
luật quốc gia có ý nghĩa quyết định trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi trên cơ
sở xem xét về ý chí của các bên và những điều kiện cần thiết cho việc xác lập đúng
theo quy định của nhà nước trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến
hành việc đăng ký và ra quyết định công nhận quan hệ giữa cha mẹ nuôi- con nuôi.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ dân sự có
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo Điều 2 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy đinh “Việc nuôi con nuôi
nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của
người được nhận làm con nuôi, bảm đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trong môi trường gia đình”.
Việc nuôi con nuôi con nuôi là nhằm tạo ra một môi trường sống tốt đẹp cho
trẻ em gặp hoàn cảnh khó khăn có được một cuộc sống tốt đẹp, tạo ra môi trường
sống lành mạnh có điều kiện phát triển toàn diện về mọi mặt nhằm bảo vệ lợi ích
chính đáng của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên toàn thế giới.
Hiện nay, vấn nạn về buôn bán, lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em
diễn biến ngày càng phúc tạp với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi đặc biệt là ở các
quốc gia kém phát triển và lang rộng ra toàn thế giới. Trong đó, nước ta là một
trong những quốc gia đang có số lượng lớn trẻ em làm nuôi ở nước ngoài, vì vậy
công tác phòng chống tội phạm liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi ngày càng gay
gắt. Trước tình hình thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đang ban hành những chính
sách pháp luật để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ pháp luật này.
Cùng với các văn bản pháp luật trong nước Nhà nước ta ngày càng tăng cường hợp
tác với các quốc gia khác bằng việc ký kết các hiệp định, các điều ước quốc tế, các
hiệp định tương trợ về vấn đề quyền lợi của trẻ em và nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài.
Hiện nay, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được thể hiện vì lợi ích,
mục đích của các quốc gia trong việc hướng đến sự phát triển của trẻ em sao cho
phù hợp với luật pháp quốc tế. Sự quan tâm này đòi hỏi xuất phát từ ý chí chung
mang tính nhân đạo của cộng đồng xã hội đi đến việc xóa bỏ ý niệm nuôi con nuôi
vì vụ lợi đi ngược lại với đạo đức xã hội vì quyền lợi của trẻ em.
1.3.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng thể
tạp bởi yếu tố nước ngoài: Yếu tố nước ngoài khác nhau tùy thuộc vào từng trường
hợp khác nhau, có thể là chủ thể, pháp luật áp dụng, sự kiện pháp lý…
Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài rất quan trọng, nhằm xác định thẩm
quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, giải quyết tranh chấp phát sinh, xác định pháp
luật cần áp dụng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì: “Nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam giữa công dân Việt
Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.”
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc lĩnh vực điều chỉnh của ngành
luật tư pháp quốc tế. Việc xác định có yếu tố nước ngoài hay không có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc đưa ra phương hướng giải quyết vấn đề xác định pháp luật áp
dụng một cách chính xác. Đồng thời, việc xác định yếu tố nước ngoài còn là căn cứ
quan trong trong việc xác định thẩm quyền giải quyết giữa các quốc gia về lĩnh vực
phát sinh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài thuộc quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài vì vậy đối tượng
điều chỉnh trong quan hệ nuôi con nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chính là
những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong vấn đề nuôi con nuôi.
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
9
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.4.1.1 Yếu tố chủ thể
Khi đề cập đến yếu tố chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, có hai dạng chủ thể cơ bản:
luật dân sự 2005 thì “Tài sản bao gồm động sản và bất động sản”. Tuy nhiên, trên
4
Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 138/2006NĐ-CP.
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
10
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
thực tế vấn đề quy định về tài sản ở các quốc gia có những điểm khác nhau có quốc
gia xem loại đó là tài sản, nhưng cũng cùng loại đó ở quốc gia khác thì không được
xem là tài sản, có quốc gia xem đó là động sản, những cũng có quốc gia xem đó là
bất động sản. Đây là hiện tượng thường gặp trong các quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài, đặc biệt liên quan đến vấn đề thừa kế trong quan nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản…Khi đó, việc lựa chọn luật áp
dụng để giải quyết xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền xét xử và các vấn đề
liên quan thuộc chuyên ngành tư pháp quốc tế được đề cập đến. Về mặt nguyên tắc,
luật áp dụng sẽ là luật của nước có tài sản đối với loại tài sản được xem là động sản
và luật nước mà đương sự có quốc tịch nếu loại tài sản đó được xem là bất động
sản.
- Về quyền nhân thân: Trong pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước trên
thế giới, quyền nhân thân phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài được giải quyết dựa trên nguyên tắc luật nhân thân. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam thì tùy vào từng quan hệ cụ thể mà cho phép áp dụng hệ thuộc luật
quốc tịch hay hệ thuộc luật cư trú của chủ thể để giải quyết. Vấn đề lựa chọn áp
dụng luật áp dụng để điều chỉnh xung đột về quyền nhân thân giữa các thành viên
Sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài. Về việc nhận nuôi con
nuôi ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam thường sử dụng quy tắc luật nơi thực hiện
hành vi để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong quan hệ này. Trong trường
hợp Việt Nam và nước hữu quan ký kết điều ước quốc tế thì xung đột pháp luật
trong vấn đề này được điều chỉnh theo các quy phạm pháp luật ghi nhận trong các
điều ước đó.
Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lý làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật phát sinh giữa các bên, từ đó áp dụng luật chính xác trong việc giải quyết
tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài.
1.4.1.4 Yếu tố nơi cư trú
Theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “Nơi cư trú của cá
nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống”. Việc xác định nơi cư trú của các
bên đương sự có vai trò rất quan trọng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
nhằm mục đích giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ như việc lựa chọn áp
dụng pháp luật các quy định liên quan đến nơi cư trú của các bên đương sự.
Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì yếu tố cư trú được
pháp luật quy định: Quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; Quan
hệ giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; Quan hệ giữa công dân
Việt Nam với nhau mà các căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo
pháp luật nước ngoài5. Từ quy định trên ta có thể rút ra yếu tố nơi cư trú trong quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam bao gồm:
- Người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm: Giữa người
nước ngoài với nhau thường trú trên lãnh thổ Việt Nam; Giữa người nước ngoài với
người Việt Nam định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là chủ thể phát sinh ngày
càng tăng theo chiều hướng hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế của đất nước ta
trong, vấn đề hôn nhân và gia đình ngày một gia tăng đặc biệt là vấn đề nuôi con
các quy phạm luật thực chất, cách thức giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài trong pháp luật của từng nước, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể trong quan hệ này dưới dạng định ra các quy phạm thực chất thống nhất.
Quy phạm thực chất là loại quy phạm trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ
cụ thể giữa các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Quy phạm thực
chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế (gọi là các quy phạm thực
chất thống nhất). Việc xây dựng các quy phạm thực chất trong các điều ước quốc tế
điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như trong
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết. Nó làm hài hoà sự
khác biệt trong pháp luật của các quốc gia và có tính chất đơn giản hoá trong việc
điều chỉnh các quan hệ này. Khi các quốc gia kí kết với nhau điều ước quốc tế trong
đó có quy phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ dựa vào
đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay quy phạm
đó.Việc áp dụng các quy phạm thực chất sẽ loại trừ vấn đề phải chọn luật và cả vấn
đề áp dụng luật nước ngoài.
Quy phạm thực chất còn được xây dựng trong pháp luật quốc gia. Loại quy
phạm này gọi là quy phạm thực chất thông thường. Tuy nhiên, về vấn đề này trong
khoa học pháp lý các nước chưa có quan điểm thống nhất. Song, cùng với các quy
phạm xung đột và quy phạm thực chất thống nhất, các quy phạm thực chất thông
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
13
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
thường là quy phạm được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Các
quy phạm thực chất này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật Việt Nam ban
Ví dụ, Khoản 1 Điều 29 Luật nuôi con nuôi 2010 ghi nhận “Người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
14
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi
người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này”.
Như vậy, phương pháp xung đột áp dụng điều chỉnh về quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam là từ các nguồn pháp luật quốc gia và các
điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập với các quốc gia trên
thế giới.
1.4.3 Nguồn luật điều chỉnh
1.4.3.1 Điều ước quốc tế
Hiện nay trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới nhất là
các nước trong khu vực Đông Nam Á thì Điều ước quốc tế với tư cách là nguồn luật
điều chỉnh quan trọng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt là quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng.
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý thể hiện sự thỏa thuận giữa các chủ thể
pháp luật quốc tế giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên ký kết trong quan hệ quốc tế sao
cho phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia và luật pháp quốc
tế6.
Trong vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài điều ước quốc tế là nguồn
luật quan trọng trong quá trình giải quyết các quan hệ phát sinh trong vấn đề này về
pháp, Luật và các văn bản dưới luật.
Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ nằm trong
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Hiện nay pháp luật Việt Nam điều chỉnh về
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như: Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000; Luật nuôi con nuôi năm 2010; Nghị định
19/2011/NĐ/CP, đây là những cơ sở quan trọng trong vấn đề điều chỉnh phù hợp
đối với các vấn đề phát sinh liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài.
1.4.4 Nguyên tắc điều chỉnh
1.4.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (Lex patriace)
Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự là nguyên tắc được áp dụng phổ biến
trong quan hệ dân sự quốc tế, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài. Đây là nguyên tắc thường được áp dụng để giải quyết các vấn đề liên
quan đến các chủ thể tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài7.Theo đó, nguyên tắc luật quốc tịch quy định pháp luật của nước mà các bên
mang quốc tịch sẽ được áp dụng nhằm giải quyết vấn đề trong quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Ngoài các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì nguyên tắc luật quốc tịch
còn được ghi nhận trong hầu hết các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập
với các quốc gia trên thế giới như: Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt với
Pháp, Đan Mạch, Ai len,…
Trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng thì khi xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật thì
Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết. Tuy nhiên, việc xác
định quốc tịch của một chủ thể là công dân của quốc gia nào là một vấn đề hết sức
quan trọng, vì nguyên tắc luật quốc tịch chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế,
pháp luật nước ngoài và cả pháp luật của quốc gia sở tại. Vì vậy, khi quan hệ nuôi
con nuôi phát sinh giữa công dân nước nào thì sẽ áp dụng pháp luật của nước đó để
điều chỉnh.
Tóm lại, việc xác định quốc tịch của các bên đương sự tham gia trong quan
như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở
nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo quy định
của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật
này8”. Đây được xem là nguyên tắc cơ bản được áp dụng phổ biến không chỉ ở Việt
Nam mà còn ở các quốc gia khác.Việc áp dụng nguyên tắc này đã góp phần đơn
giản hóa quá trình dẫn chiếu các quy phạm xung đột, góp phần tích cực trong việc
điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam.
1.4.4.3 Nguyên tắc luật Tòa án (Lexfori)
Nguyên tắc luật của nước nơi có tòa án có thẩm quyền được áp dụng trong
nhiều lĩnh vực như: Tố tụng dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, cụ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trong quan hệ này nguyên tắc luật của nước nơi Tòa án có thẩm quyền sẽ được áp
dụng để xác định pháp luật áp dụng để giải quyết các vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài. Khi đó, để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài thì do Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương) hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu ở khu vực biên giới) hoặc Cơ quan đại
8
Khoản 1 Điều 29 Luật nuôi con nuôi năm 2010.
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
17
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Nghị Định của Thống sứ Bắc kì để thi hành trên toàn Bắc kì từ ngày 01/07/1931
thay cho Bộ luật Gia Long. Hoàng Việt Trung kì bộ luật được ban hành năm 1939
thi hành trên toàn Trung kì. Về quan hệ gia đình, các bộ luật này đã quy định về vấn
đề nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con theo mô hình phương Tây.
Song pháp luật dân sự thời kì này có những mặt hạn chế nhất định đó là gia đình
GVHD: Ths.Bùi Thị Mỹ Hương
18
SVTH: Nguyễn Hải Đông
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ, nhiều quy định về nghĩa
vụ của con còn rất khắc khe.
1.5.2 Từ năm 1945 đến 1959
Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm và coi
trọng việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của cách
mạng. Tuy chưa có văn bản riêng điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài nhưng vấn đề này được quy định trong một số văn bản pháp luật khác,
như trong Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 về quốc tịch Việt Nam. Hiến pháp
năm 1959 là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ gia đình trong thời kì
này, tuy nhiên vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh trực tiếp quan hệ gia đình có
yếu tố nước ngoài.
Pháp luật trong nước về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài còn hết sức
đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống. Nhà nước ta chủ trương chưa ban hành văn
bản pháp luật riêng để điều chỉnh trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài
mà chỉ điều chỉnh quan hệ gia đình trong nước theo Hiến pháp 1946.
Quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với các nước chủ
Ở miền Nam, cũng trong giai đoạn này, chính quyền Nguỵ Sài Gòn đã ban
hành Bộ dân luật ngày 20/12/1972.Trong Bộ dân luật này đã quy định về quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài nói riêng. Điều 248 Bộ dân luật Sài Gòn có quy định về vấn đề
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, theo quy định này thì “Người Việt Nam có thể
lập người ngoại quốc làm con nuôi hay làm con nuôi của người ngoại quốc”.
Sau khi đất nước thống nhất, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước
ngày càng được mở rộng, do đó đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ gia
đình có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh ngay. Để xử lý
tình hình này, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các hiệp định tương trợ tư
pháp với Cộng hoà dân chủ Đức (1980) , Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba
(1984)…Các hiệp định này đã tạo lập một khung pháp lí khá hoàn chỉnh điều chỉnh
quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài như quan hệ pháp lí giữa vợ chồng, giữa cha
mẹ và con; vấn đề nuôi con nuôi; vấn đề xung đột pháp luật và xung đột thẩm
quyền được giải quyết khá cụ thể.
1.5.4 Từ năm 1986-2000
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta
bước sang một thời kỳ mới, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.Trước những thay đổi mới to lớn của đất nước, Nhà nước ta đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật kịp thời điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh. Luật
hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời, trong thời kỳ đổi mới đất nước, kế thừa
những nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của chế độ hôn nhân gia đình mới được thể
chế hoá trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Đã góp phần vào việc xây dựng
và củng cố chế độ gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục
tập quán, truyền thống tốt đẹp về hôn nhân và gia đình, từng bước nâng cao nhận
thức và ý thức của nhân dân trong việc thi hành các quy định của Luật hôn nhân và
gia đình. Về cơ bản, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 kế thừa và tiếp tục phát
huy những thành tựu lập pháp của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đồng thời
bổ sung những chế định quan trọng phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Lần đầu
tiên trong lịch sử pháp luật hôn nhân và gia đình, Nhà nước ta đã dành một chương