LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại LY hôn có yếu tố nước NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH - THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2007- 2011

LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Diệp Ngọc Dũng

Sinh viên thực hiện:
Đoàn Thị Trung Thu
MSSV: 5075303
Lớp: Luật Tư Pháp 3-K33

Cần Thơ, tháng
05/2011
n thơ, 11 /2010
1


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................

1.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
6
1.2.1. Sự phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
qua các giai đoạn ở Việt Nam
6
1.2.1.1. Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
6
1.2.1.2. Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
11
1.2.2. Các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài
14
1.3. Đặc trưng của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
15
1.3.1. Đối tượng điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
15
1.3.1.1. Yếu tố chủ thể
16
1.3.1.2. Khách thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
18
1.3.1.3. Yếu tố cư trú của các bên đương sự
19
1.3.2. Phương pháp điều chỉnh
19
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
22
2.1. Các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài
22

thế giới. Theo số liệu thống kê của Sở Tư pháp Thành phố Cần Thơ sáu tháng đầu năm
2010 (từ 01/01/2010 đến 01/06/2010) thì đã có 193 trường hợp đăng ký kết hôn có yếu
tố nước ngoài trong đó kết hôn với Đài Loan là 106 trường hợp, Mỹ 50 trường hợp, Úc
08 trường hợp.
Số lượt kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, song thực tiễn cho thấy
không phải cuộc hôn nhân nào cũng mang đến hạnh phúc. Rất nhiều trường hợp các cô
gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc bị đánh đập, ngược đãi họ tìm cách bỏ
trốn về nước nhưng lại không tiến hành thủ tục ly hôn. Bên cạnh đó, có trường hợp
công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, sau khi người nước ngoài trở về
nước thì mất liên lạc, công dân Việt Nam muốn ly hôn để xây dựng cuộc sống mới,
nhưng không thể tiến hành ly hôn được do không đáp ứng được về mặt thủ tục. Ngoài
ra, hiện nay quy phạm điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài còn ít, chung
chung, hiệu quả mang lại không cao. Dẫn đến tình trạng hôn nhân hình thức tồn tại rất
nhiều, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân chưa được đảm bảo. Vấn đề đặt ra là:
Đối với những trường hợp đương sự muốn ly hôn nhưng không đáp ứng được về mặt
thủ tục sẽ giải quyết như thế nào? Làm thế nào để hoàn thiện hệ thống quy phạm điều
chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, nâng tính khả thi khi ứng dụng vào thực tế?
Chính từ những lý do trên, đã thôi thúc người viết chọn đề tài cho luận văn tốt
nghiệp là: “LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM” nhằm tìm hiểu, nghiên cứu một cách sâu sắc hơn những quy định của pháp luật,
thực trạng về vấn đề này và hướng giải quyết của Nhà nước ta. Và qua đó, người viết
cũng đưa ra những kiến nghị của bản thân về vấn đề này, nhằm góp phần vào việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài.
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này, trong quá trình thực hiện người viết đã
tham khảo một số tài liệu nghiên cứu của các luật gia, các nhà khoa học đã nghiên cứu
vấn đề này, các lĩnh vực liên quan và thu thập thông tin trên Internet. Trên cơ sở đó,
người viết đã sử dụng một số phương pháp khoa học như: phương pháp duy vật biện
chứng, phân tích luật viết, so sánh, đối chiếu, liệt kê…nhằm bảo đảm cho việc nghiên
cứu được chính xác và hiệu quả hơn.

hoàn thành luận văn này. Bên cạnh đó, cũng xin cảm ơn đến lãnh đạo, cán bộ Tòa án
nhân dân Thành phố Cần Thơ đã cung cấp số liệu thực tế, cũng như giúp đỡ người viết
trong thời gian thực tập tại Tòa.

5


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài:
1.1.1 Ly hôn:
“Ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định
theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”1.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn
nhân, nó là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu được của quan
hệ hôn nhân và gia đình. Thực hiện quyền tự do hôn nhân của cá nhân bao gồm quyền
tự do kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn nhằm chấm dứt
quan hệ vợ chồng trước pháp luật, khi đời sống tình cảm, yêu thương giữa vợ chồng đã
hết, mâu thuẫn gia đình sâu sắc, mục đích của hôn nhân nhằm tạo lập cho xã hội những
gia đình - tế bào xã hội tốt đẹp đã không thể đạt được 2. Ly hôn nhằm giải phóng cho
vợ, chồng, các con và thành viên khác trong gia đình khỏi những xung đột, mâu thuẫn,
bế tắc trong đời sống gia đình bởi vì: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm
“tan rã” những mối hôn hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối hôn hệ đó
trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã
hội văn minh”3
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, do vậy, ngoài vợ chồng thì không ai
khác có quyền yêu cầu ly hôn. Nếu như kết hôn là cơ sở để hình thành một quan hệ vợ
chồng dựa trên sự tự nguyện của các bên chủ thể, thì ly hôn là sự tự nguyện của ít nhất
một bên chủ thể làm cơ sở để chấm dứt quan hệ vợ chồng. Sự tự nguyện yêu cầu chấm
dứt hôn nhân của một bên hoặc cả hai bên sẽ làm cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm

Cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ vợ chồng bằng việc ly hôn thông thường
là một bản án do Tòa án có thẩm quyền tuyên (Trong một số trường hợp ly hôn có thể
thực hiện bằng một thủ tục hành chính do cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Ví dụ, ở
một số nước như Đài Loan, Nhật Bản, trong trường hợp nếu vợ chồng thuận tình ly hôn
thì có thể đến cơ quan công chứng, hộ tịch để làm thủ tục công nhận sự thuận tình ly
hôn của họ). Có thể nói, nếu đăng ký kết hôn là cơ sở pháp lý xác định quan hệ vợ
chồng thì bản án ly hôn của Tòa án được coi là cơ sở pháp lý phổ biến chấm dứt quan
hệ hôn nhân. Việc Nhà nước can thiệp vào việc ly hôn không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích
cụ thể của các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân mà còn nhằm bảo vệ nhà nước và xã
hội. Như vậy có thể nói rằng mặc dù ly hôn là quyền tự do của các bên nhưng quyền tự
do ấy không nằm ngoài các quy định của pháp luật. Việc ly hôn chỉ có thể được tiến
hành khi nó hội đủ các căn cứ đã được quy định trong pháp luật5.
1.1.2. Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ngày nay do sự phát triển của các mối giao lưu dân sự quốc tế, việc kết hôn không
chỉ bó hẹp giữa những người có cùng quốc tịch và cùng cư trú trên lãnh thổ một nước
mà còn được mở rộng hơn rất nhiều, có thể là sự kết hôn giữa những người khác quốc
tịch hay khác về nơi cư trú. Chính điều này là tiền đề cho sự đa dạng của pháp luật ly
hôn.
Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có một định nghĩa cụ thể như thế nào là quan
hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nhưng vì ly hôn là một phần trong quan hệ hôn nhân
nên ta có thể dựa vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Khoản 14
Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải thích quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài như sau:
Theo Khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài.
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam.
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài”.

nước khác. Ví dụ: Hai công dân Việt Nam xin ly hôn với nhau, trong thời kỳ hôn nhân
họ có mua được ngôi nhà tại Mỹ, đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân, về nguyên tắc sau khi ly hôn tài sản này phải được phân chia cho hai vợ chồng.
Vì tài sản liên quan đến quan hệ đang tồn tại ở nước ngoài, do đó nó có yếu tố nước
ngoài.

Tóm lại, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ có ít nhất một bên đương
sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc là công dân Việt
Nam với nhau mà căn cứ xác lâp, chấm dứt theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên
quan đến quan hệ ly hôn đang ở nước ngoài.
1.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.1. Sự phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài qua các giai đoạn ở Việt Nam
Mỗi sự vật, hiện tượng trong cuộc sống này đều trải qua một quá trình vận động
và phát triển, từ đơn giản đến phức tạp, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật điều
chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật
đó. Ở mỗi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn với chính sách khác nhau thì pháp luật điều chỉnh
cùng một quan hệ cũng không giống nhau. Chính vì thế, để thấy được những ưu và
8


nhược điểm cũng như sự kế thừa của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài qua các giai đoạn, ta sẽ lần lượt tìm hiểu những quy định
điều chỉnh quan hệ này qua các thời kỳ.
Ly hôn là một phần của quan hệ hôn nhân và gia đình nên khi xem xét đến sự phát
triển của ly hôn có yếu tố nước ngoài ta cần xem xét đến quá trình hoàn thiện của Luật
hôn nhân và gia đình, lấy đó làm cơ sở để phân kỳ lịch sử phát triển của pháp luật điều
chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó ta
có thể chia thành hai giai đoạn lớn: Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế
quốc tế, giai đoạn từ thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đến nay.

Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, Sài Gòn 1962, tr. 559 và 560.
Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam- Tập 1, Khoa Luật-Đại học Cần Thơ
2005, tr.68.
Nông Quốc Bình, Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong
thời kì hội nhập quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.140.

9


chồng (Dân Luật giản yếu thiên thứ VI, Bộ luật dân sự Bắc kỳ Điều 116 đến 150; Bộ
luật dân sự Trung kỳ Điều 115 đến 147). Ly hôn sẽ được giải quyết theo những trường
hợp mà luật dự kiến. Tuy nhiên, dù chịu ảnh hưởng của luật Pháp cùng thời kỳ nhưng
luật Việt Nam lại thừa nhận khả năng ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng, điều mà
pháp luật của Pháp cùng thời kỳ không thừa nhận. Ngoài ra, Dân luật giản yếu còn ghi
nhận quyền xin ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng mất tích, như trong Bộ luật Gia
Long. Bên cạnh đó, quyền xin ly hôn được thừa nhận cho cả vợ và chồng; nhưng người
vợ không có quyền xin ly hôn vì lý do người chồng ngoại tình, trong khi người chồng
lại có quyền xin ly hôn với lý do người vợ ngoại tình9.
Trong thời kỳ này đã có những quy định điều chỉnh quan hệ ly hôn nhưng đối với
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì chưa được đề cập một cách cụ thể, dù trong
thời gian này không ít quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được xác lập, đặc biệt là
giữa người Việt Nam với người Pháp.
Tóm lại, dựa vào những phân tích trên về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
trong cổ luật Việt Nam trước 1945, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, trong thời kỳ phong kiến xuất phát từ chính sách đối ngoại phong kiến
lúc bấy giờ và với chính sách kinh tế lạc hậu “ức thương”, “bế quan tỏa cảng” nên các
bộ luật này không điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Ở Việt Nam, nếu
nhìn rộng ra sẽ thấy trong thời kỳ này các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài không được luật quy định10 hoặc có quy định thì đó là các quy định cấm đoán
hoặc phải chịu hình phạt nếu có quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài11.

thời kì hội nhập quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội- 2006, tr.142 và 143.

10


 Giai đoạn từ 1945-1959
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, chính thức khai sinh nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa. Là một nước dân chủ non trẻ vừa lột xác từ một xã hội
thuộc địa nửa phong kiến, phải đối mặt với nạn thù trong giặc ngoài, do đó Nhà nước ta
ít ban hành văn bản pháp luật riêng lẻ để điều chỉnh quan hệ dân sự, trong đó có quan
hệ hôn nhân gia đình.
Cho đến tháng 5 năm 1950, các vấn đề liên quan tới dân sự trong đó có quan hệ
hôn nhân và gia đình đều chịu sự điều chỉnh của các quy định được ghi nhận trong ba
Bộ luật dân sự: Dân pháp điển Bắc kỳ (1931), Dân pháp điển Trung kỳ (1936) và Pháp
quy giản yếu (1883). Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các bộ luật này là Sắc lệnh ngày
10 tháng 10 năm 1945. Sắc lệnh này quy định tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam
để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam, trừ những
quy định đi ngược lại độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân.
Trong giai đoạn này, có một văn bản pháp luật có giá trị cao nhất đầu tiên đề cập
gián tiếp đến quan hệ hôn nhân, đó là Hiến Pháp 1946. Bản Hiến pháp này được Quốc
hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 09/11/1946. Tại Điều 9 Hiến
pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Đây là một
quy định rất tiến bộ thể hiện bản chất tốt đẹp của một xã hội văn minh.
Văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên đề cập đến lĩnh vực hôn nhân là Sắc lệnh 159SL được ban hành ngày 17/11/1950, quy định về vấn đề ly hôn. Trong Sắc lệnh này các
duyên cớ ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu luật của việc ly hôn được quy định tuy không
nhiều nhưng tương đối cụ thể. Trong giai đoạn này các vấn đề liên quan đến kết hôn sẽ
tuân theo quy định của Sắc lệnh 97-SL ngày 22/05/1950, các vấn đề ly hôn sẽ tuân theo
quy định của Sắc lệnh 159-SL ngày 17/11/1950. Sắc lệnh 159-SL chủ yếu điều chỉnh
các quan hệ ly hôn trong nước, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài chưa được pháp

công bố ngày 13/01/1960 về quan hệ hôn nhân và gia đình, Luật đã điều chỉnh quyền
và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con. Đối với quan hệ ly hôn Luật hôn
nhân và gia đình 1959 đã dành một chương (Chương V, từ Điều 25 đến Điều 33) để
quy định về điều kiện ly hôn, thủ tục ly hôn, cấp dưỡng và quyền trực tiếp nuôi con sau
ly hôn. Tuy nhiên, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài vẫn chưa được điều chỉnh.
Thời gian này, đất nước bị chia làm hai miền nên quan hệ ly hôn chịu sự điều
chỉnh của hai văn bản khác nhau. Ở miền Bắc, quan hệ ly hôn chịu sự điều chỉnh của
Luật hôn nhân và gia đình 1959 và ly hôn được xem là một quyền tự do của công dân.
Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành Luật gia đình ngày 02/01/1959,
luật này cấm đoán việc ly hôn.
Tóm lại, trong thời kỳ này pháp luật về ly hôn đã có những bước tiến quan trọng.
Trước tiên, quan hệ ly hôn đã được quy định trong một văn bản có giá trị pháp lý tương
đối cao - Luật hôn nhân gia đình 1959. Thứ hai, những quy định điều chỉnh quan hệ ly
hôn chi tiết hơn so với giai đoạn trước, bên cạnh đề cập đến các điều kiện ly hôn, thủ
tục ly hôn thì có thêm quy định về hạn chế ly hôn, căn cứ chia tài sản sau khi ly hôn,
quyền trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng. Tuy nhiên, do tình hình đất nước, các quy phạm
điều chỉnh quan hệ ly hôn chưa được đầy đủ, vẫn chưa có quy phạm điều chỉnh quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài dù trên thực tế vẫn có phát sinh quan hệ này. Khi quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài nẩy sinh, nếu trường hợp nước ta đã ký kết Hiệp định
tương trợ tư pháp với quốc gia đó thì tuân theo Hiệp định, ngược lại thì sẽ theo sự
hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

12


1.2.1.2 Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp
luật Việt Nam trong giai đoạn này có thể thấy sự phát triển của nó qua các giai đoạn
sau:
 Giai đoạn từ 1986- 2000

13


- Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 1998 của Chính Phủ về
đăng ký hộ tịch.
Tóm lại, qua nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài theo pháp luật Việt Nam trong giai đoạn từ 1986-2000, ta có thể rút ra một số
nhận xét sau:
Các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được ban
hành ngày càng nhiều, đồng thời các quy phạm được quy định trong những văn bản
pháp lý có giá trị tương đối cao như Luật hôn nhân và gia đình 1986, Pháp lệnh 1993.
Thêm vào đó, việc dành một chương riêng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một bước phát
triển mới, một tiến bộ mới trong công tác lập pháp của nước ta về lĩnh vực này. Nó
không những thể hiện sự quan tâm của Nhà Nước đến vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài, mà còn phản ánh xu thế của thời đại là các quy định của pháp luật Việt Nam đã
bước đầu có những nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và tập
quán quốc tế trong quan hệ hôn nhân.
Tuy các văn bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều
nhưng các quy định này vẫn còn rất chung chung, chỉ điều chỉnh một trong ba quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài (quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài) còn hai quan hệ khác (quan hệ ly hôn của công dân Việt Nam với nhau diễn ra ở
nước ngoài và quan hệ ly hôn của công dân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam) thì
chưa được điều chỉnh. Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng đã tiến hành ký kết nhiều Hiệp
định tương trợ tư pháp với nhiều nước như Ba Lan, Lào, Nga, Mông Cổ, Belarut góp
phần giải quyết quan hệ được hiệu quả hơn.
 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Trước thực tế khách quan của các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày càng đa dạng và phức tạp, Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 đã được ban hành để điều chỉnh kịp thời các quan hệ đó.

nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài.
Ngoài ra, với sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật liên quan đã góp phần giải
quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được hiệu quả hơn như:
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005.
- Luật tương trợ tư pháp năm 2007.
- Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Nhìn chung, so với các giai đoạn trước đây thì văn bản điều chỉnh quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này không ngừng tăng về số lượng lẫn chất lượng,
phạm vi điều chỉnh rộng hơn. Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp luật có liên quan được
ban hành đã góp phần hỗ trợ tích cực cho việc giải quyết quan hệ được chính xác và
hiệu quả hơn.
Tóm lại, pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được hình
thành và không ngừng phát triển qua các giai đoạn lịch sử. Sự phát triển của pháp luật
điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã phản ánh xu thế khách quan trong
quan hệ đối ngoại của Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Các quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài được điều chỉnh bằng những văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, đó là
Luật hôn nhân và gia đình 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Ngoài ra,
quan hệ này còn được điều chỉnh theo các Hiệp định song phương mà Nhà nước ta ký
kết với các nước. Các Hiệp định này đã đánh dấu những bước phát triển mới trong quan
hệ quốc tế giữa nước ta và các nước liên quan trong nhiều lĩnh vực góp phần mở rộng
quan hệ pháp lý quốc tế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của công dân, tạo môi trường
15


pháp lý thuận lợi trong việc hợp tác giải quyết nhiều vấn đề pháp lý phức tạp và đa
dạng, trong đó có quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài
Pháp luật điều chỉnh việc ly hôn đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng
và phát triển xã hội. Ly hôn cũng có những điểm tích cực trong việc thúc đẩy sự phát

15

Điều 64 Hiến pháp 1992.

16


Bên cạnh đó, Nhà nước ta đã ban hành những Nghị định để hướng dẫn việc thi
hành như: Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ về quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, cụ thể
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Khoản 2 Điều 20 của Nghị định.
Ngoài ra, Nhà nước ta đã ký kết nhiều Điều ước quốc tế song phương trong đó ghi
nhận các nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài. Năm 2007, Luật tương trợ tư pháp ban hành với những hướng dẫn về ủy
thác tư pháp đã góp phần bổ sung vào hệ thống văn bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng hơn.
Nhìn chung, trong những năm qua văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng, từ những
quy định chỉ mang tính định hướng (trong Hiến pháp, Bộ luật dân sự 2005) phát triển
thành những quy định cụ thể, điều chỉnh trực tiếp quan hệ (Luật hôn nhân và gia đình
2000) cho thấy kĩ thuật lập pháp đã được nâng cao, việc áp dụng quy phạm điều chỉnh
quan hệ khả thi hơn, góp phần vào việc giải quyết quan hệ được nhanh và hiệu quả hơn.
Qua đó, nhận thấy rằng quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài chiếm một vị trí khá quan
trọng và Nhà nước ta cũng đã có sự quan tâm đối với quan hệ này.
1.3. Đặc trưng của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài
1.3.1. Đối tượng điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Cũng như các quan hệ khác mà ngành luật Tư pháp quốc tế điều chỉnh, thì đối
tượng điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là những quan hệ phát sinh
trong quá trình ly hôn, có yếu tố nước ngoài.

Nhìn chung, những quy định về năng lực của chủ thể đối với công dân Việt Nam khi
tham gia quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài tương tự như đối với quan hệ ly hôn
trong nước.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng là chủ thể của quan hệ ly hôn có yếu
tố nước ngoài.
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt
Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”17
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch
Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống
và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”18
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm là công dân Việt Nam và người
có gốc Việt Nam nên việc xác định năng lực của chủ thể có điểm khác biệt so với chủ
thể là công dân Việt Nam. Trường hợp là công dân Việt Nam thì năng lực chủ thể sẽ
chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam; còn đối với trường hợp là người có gốc
Việt Nam thì năng lực chủ thể trước tiên là phải tuân theo pháp luật mà người đó mang
quốc tịch19, một số trường hợp thì năng lực chủ thể còn được xác định theo pháp luật
Việt Nam. Như vậy, đối với người có gốc Việt Nam khi tham gia quan hệ ly hôn có yếu
tố nước ngoài, họ có thể chịu sự điều chỉnh song song của pháp luật của nước mà mình
có quốc tịch và pháp luật Việt Nam về năng lực chủ thể khi tham gia quan hệ.
Chủ thể cuối cùng tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là người
nước ngoài.
16
17
18
19

Điều 14 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Khoản 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Khoản 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Khoản 1 Điều 762 Bộ luật dân sự 2005.

việc xác định năng lực của chủ thể khi tham gia vào quan hệ phức tạp hơn so với quan
hệ ly hôn trong nước. Cùng nằm trong một loại chủ thể (người Việt Nam định cư ở
nước ngoài; người nước ngoài) nhưng năng lực của chủ thể lại chịu sự điều chỉnh của
nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, chính điều này đã tạo nên nét riêng của chủ thể
trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài mà quan hệ ly hôn trong nước không có
được.
1.3.1.2. Khách thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

20
21
22
23

24

Khoản 1 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Khoản 5 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Khoản 1 Điều 6 Nghị định 68 năm 2002.
Khoản 2 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt
Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.
Khoản 1 Điều 760 Bộ luật dân sự 2005.

19


Cũng như quan hệ ly hôn trong nước khách thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài cũng bao gồm quyền nhân thân và tài sản.
Khách thể là quyền nhân thân là sự mong muốn của các bên về việc chấm dứt
quan hệ hôn nhân đang tồn tại, trả hai người về tình trạng độc thân. Điều này tương tự
như quan hệ ly hôn trong nước, nhưng thay vì đối với quan hệ hôn nhân trong nước

chỉnh quan hệ ly hôn lúc này là luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng.

20


Nói tóm lại, khi có thêm yếu tố nước ngoài quan hệ ly hôn trở nên đa dạng và
phức tạp hơn so với quan hệ ly hôn trong nước. Với sự tham gia của nhiều dạng chủ thể
kéo theo sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khi một quan hệ ly hôn phát sinh
đã tạo nên những đặc trưng cho quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
1.3.2. Phương pháp điều chỉnh
Trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì phương pháp điều chỉnh là phương
pháp xung đột và phương pháp thực chất. Hai phương pháp này được kết hợp hài hòa
và tác động tương hỗ với nhau trong điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
nhằm đảm bảo một trật tự pháp lý dân sự quốc tế ổn định trong điều kiện hội nhập hiện
nay.
 Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là
phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc được ấn định để áp dụng pháp luật của
một nước được chỉ định nhằm giải quyết các quan hệ phát sinh thông qua các quy phạm
xung đột pháp luật.
Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống các
quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các Điều ước quốc tế
mà quốc gia đó là thành viên. Quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật ấn định pháp
luật của nước nào cần phải được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ trong một tình
huống thực tế25.
Như vậy, quy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ
của các bên trong một quan hệ pháp luật nào đó mà nó chỉ xác định rằng cần phải áp
dụng pháp luật của nước nào (trong số những nước có liên quan) để điều chỉnh quan hệ
đó.
Quy phạm xung đột là một loại quy phạm pháp luật đặc biệt có cơ cấu khác với cơ

tài cần hoặc có thể được áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luật xảy ra.
Quy phạm thực chất bao gồm: Quy phạm thực chất do từng quốc gia xây dựng,
quy phạm thực chất thống nhất.
Quy phạm thực chất do từng quốc gia xây dựng: là việc mỗi quốc gia tự mình xây
dựng các quy phạm ấn định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham
gia vào tư pháp quốc tế nào đó.
Quy phạm thực chất thống nhất: là quy phạm thực chất được hình thành do sự
thỏa thuận thống nhất xây dựng nên bởi hai hay nhiều quốc gia.
Nói tóm lại, phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đa dạng
và phức tạp hơn rất nhiều so với quan hệ ly hôn trong nước. Nếu như quan hệ ly hôn
trong nước chỉ sử dụng quy phạm do chính quốc gia ban hành, thì quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài có thể được điều chỉnh bởi quy phạm xung đột hoặc quy phạm thực
chất. Với đặc thù của quy phạm xung đột là không quy định quyền và nghĩa vụ trực
tiếp của các bên khi tham gia vào quan hệ mà chỉ quy định là luật nước nào được áp
dụng để giải quyết quan hệ, chính điều này có thể sẽ dẫn đến việc pháp luật của nhiều
quốc gia sẽ được dẫn chiếu đến khi giải quyết quan hệ đó. Điều này đã tạo nên đặc
trưng của phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.

26

Trường Đại học luật Hà Nôị, (2006), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.34.

22


CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
2.1. Các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài


Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 vấn đề ly hôn được quy định tại
Chương X với 15 điều (từ Điều 85 đến Điều 99). Trong Chương này, các vấn đề pháp
lý cơ bản về ly hôn đã được quy định tương đối chi tiết. Ví dụ, quyền của các bên đối
với việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, các căn cứ để Tòa án xem xét yêu cầu ly
hôn, quyền thăm nom con cái sau khi ly hôn, nguyên tắc chia tài sản sau khi ly hôn…
Và về nguyên tắc, các quy định về ly hôn được ghi nhận tại Chương X Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 cũng được áp dụng cho việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam.
2.1.1.1. Điều kiện ly hôn
 Hôn nhân có giá trị và chưa chấm dứt
Hôn nhân chấm dứt bằng con đường ly hôn phải là hôn nhân có giá trị, tức là được
xác lập phù hợp với quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn. Trừ một số
trường hợp ngoại lệ, những người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn, khi xin ly hôn chỉ nhận được quyết định của Tòa án tuyên bố không thừa
nhận quan hệ vợ chồng.
Nếu hôn nhân chấm dứt do một người chết thì việc xin ly hôn cũng không còn ý
nghĩa. Trong trường hợp vụ án ly hôn đang diễn tiến mà một trong hai bên chết, thì Tòa
án sẽ đình chỉ và người còn lại được trả về tình trạng độc thân với tư cách là vợ (chồng)
góa chứ không phải vợ (chồng) ly hôn. Nếu hôn nhân bị hủy theo một bản án có hiệu
lực pháp luật thì việc ly hôn cũng không thể được xem xét, do đối tượng không còn.
 Năng lực hành vi của người xin ly hôn
Người yêu cầu Tòa án quyết định cho ly hôn phải có năng lực hành vi. Người mất
năng lực hành vi không thể nộp đơn xin ly hôn và cả người giám hộ của người mất
năng lực hành vi cũng không thể làm việc đó thay cho người mà mình giám hộ: ta nói
rằng người mất năng lực hành vi không có năng lực pháp luật ly hôn. Người không
nhận thức được hành vi của mình nhưng lại chưa bị tuyên bố mất năng lực hành vi
bằng một quyết định của Tòa án cũng không thể xin ly hôn hoặc chấp nhận đơn xin ly
hôn của vợ (chồng) mình trong lúc không nhận thức được hành vi của mình, bởi ý chí
bày tỏ khi đó không phải là ý chí thực.30

hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly
hôn”32.
Dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, quy định trên nhằm
hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng, với mục đích là bảo đảm cho sức khỏe của
người phụ nữ và sự phát triển của đứa bé sau này.
Luật chỉ đề cập đến trường hợp người vợ có thai hoặc nuôi con dưới mười hai
tháng tuổi. Do đó, khi người vợ mang thai dù là con trong hoặc ngoài giả thú thì người
chồng vẫn bị hạn chế quyền xin ly hôn. Tương tự, vì luật chỉ đề cập là “con dưới mười
hai tháng tuổi” nên dù đứa bé là con ruột hay con nuôi của hai vợ chồng miễn là dưới
mười hai tháng tuổi thì người chồng cũng sẽ bị hạn chế quyền xin ly hôn.
Như đã nói ở trên, dù là con nuôi hay con ruột miễn là dưới mười hai tháng tuổi
thì người chồng không có quyền xin ly hôn, nhưng trong trường hợp người chồng nhận
con nuôi dưới mười hai tháng tuổi thì người vợ vẫn được quyền nộp đơn mà không bị
bất kỳ hạn chế nào.
Đơn xin ly hôn sẽ được Tòa án thụ lý khi thỏa mãn các điều kiện về hôn nhân có
giá trị, năng lực hành vi của chủ thể, sự tự nguyện và còn phải không rơi vào trường
hợp hạn chế ly hôn. Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu thuộc một
trong các trường hợp nêu trên mà chồng có yêu cầu xin ly hôn thì giải quyết như sau:

31
32

Điều 23 Bộ luật dân sự 2005.
Khoản 2 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status