xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ việt nam hiện nay - môn xã hội học gia đình - Pdf 24

Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Mục lục
1. Tính bức xúc của vấn đề ……………………………………………….2
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ………………………………………………3
3. Các khái niệm ………………………………………………5
3.1. Hôn nhân ………………………………………………5
3.2. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài………………………………………………5
4. Lí thuyết áp dụng …………………………………………… 6
5. Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt nam……………… 11
5.1. Khái niệm xu hướng …………………………………………….11
5.2. Xu hướng kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người ngoại quốc…………… 11
5.2.1. Xu hướng kết hôn với người Đài Loan……………………………………12
5.2.2. Xu hướng kết hôn với người Hàn Quốc…………………………………….13
6. Kết luận ………………………………………15
Danh mục tài liệu tham khảo …………………………………………16
1. Tính bức xúc của đề tài
Hôn nhân là một thiết chế, vì vậy bất kỳ sự tồn tại nào của nó cũng có ảnh
hưởng mạnh mẽ tới sự ổn định của gia đình và toàn xã hội. Hôn nhân đối với người
Việt Nam từ xa xưa đến nay luôn là một vấn đề đại sự của cá nhân và gia đinh.
Chính vì thế, hôn nhân luôn được nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác
quan tâm.
1
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Một nhà Xã hội học dân số thuộc đại học Australia nhận xét “thiết chế hôn
nhân ở Việt Nam thu hút sự quan tâm đặc biệt từ hàng loạt các quan điểm khác
nhau”
Trong những năm gần đây, vấn đề hôn nhân của Việt Nam trở nên vô cùng
phức tạp và nhiễu loạn. Tình trạng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài là những
vấn đề đang gây bức xúc trong đời sống xã hội. Hàng chục ngàn phụ nữ
Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mỗi năm tạo nên “cơn sốt” lấy chồng
ngoại. Những tổ chức môi giới tại các nước trong khu vực, đặc biệt ở Hàn Quốc

Đài Loan chiếm tỷ lệ rất cao (chiếm 80,51%).
Kết hôn với người nước ngoài có rất nhiều lợi ích, tác động rất tích cực
đến sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, song cũng không thể phủ định những
tác động tiêu cực đến đời sống cũng như sự quản lí hôn nhân của nhà nước đối với
vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Theo đó, có rất nhiều hậu quả đáng đau lòng
về các cô dâu Việt nam lấy chồng ngoại quốc.
Tuy nhiên, hiện nay, xu hướng kết hôn của phụ nữ Việt Nam có yếu tố
nước ngoài đang được đánh giá phát triển khá mạnh, đặc biệt là hôn nhân của phụ
nữ Việt Nam với người Đài Loan. Đây là lí do để tác giả đề tài quan tâm tới vấn đề
này.
2. Tổng quan nghiên cứu
Hiện nay vấn đề hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam có yếu tố nước ngoài
được phát triển theo 2 con đường, hợp pháp và cả bất hợp pháp. Nhưng vẫn còn rất
ít những nghiên cứu hay những tài liệu về vấn đề này.
Trong giáo trình “Công pháp quốc tế”(NXB Công an nhân dân) có viết: “
cùng với sự tăng cường và mở rộng các quan hệ hợp tác giữa người Việt Nam với
người nước ngoài, số lượng các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài đang ngày
càng tăng lên một cách nhanh chóng và phức tạp”.
Tác giả Trần Thị Hồng với bài viết “ Kết hôn với người nước ngoài thông
qua môi giới hôn nhân ở Việt Nam hiện nay” đã chỉ ra rất rõ rằng “có rất nhiều khó
khăn trong việc môi giới kết hôn và hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam có yếu tố nước
ngoài cũng như hậu quả của cuộc hôn nhân này”. Tuy nhiên thì bài viết này cũng
chưa chỉ rõ được vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài sẽ phát triển theo xu hướng
như thế nào?
Với bài viết “Cộng đồng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long và hiện
tượng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan” của tác giả Nguyễn Thị Hồng đăng trên
3
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
tạp chí xã hội học số 2 năm 2007 cũng đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhân khiến các cô
gái đồng bằng sông Cửu Long quyết định kết hôn với người nước ngoài. Mặc dầu

Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
nước ngoài hoặc là đưa ra những giải pháp để giải quyết thực trạng trên mà chưa có
nghiên cứu nào nêu ra được xu hướng phát triển của vấn đề trên. Vì vậy, tác giả đề
tài chọn “ Xu hướng kết hôn của phụ nữ Việt Nam có yếu tố nước ngoài hiện nay”
làm đề tài nghiên cứu của mình. Hi vọng với hướng nghiên cứu mới này sẽ chỉ ra rõ
xu hướng phát triển của vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài thông qua thực trạng
vấn đề và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
3. Các khái niệm
3.1. Hôn nhân
Trong tập bài giảng Xã hội học gia đình của tác giả Lê Thái Thị Băng Tâm
có viết: “ Hôn nhân là một dạng liên kết khác giới thuộc loại đặc biệt được tập quán
và pháp luật công nhận có giá trị lâu dài. Khái niệm hôn nhân không thể được rút
gọn về một tiêu chuẩn riêng như tính hợp pháp hay khả năng sinh học và xã hội. Vì
tính chất thể loại đặc biệt của nó được lí giải bởi cấu trúc bên trong đặc biệt và bởi
xã hội đã giao phó cho nó những chức năng đa dạng nhất; nó cho thấy những biến
đổi đa dạng nhất trong xã hội loài người. Dù tất cả sự khác biệt về văn hóa, dù có sự
khác biệt về mức độ trách nhiệm thì hôn nhân bất cứ ở đâu cũng được coi là một thể
chế xã hội để đảm bảo tính hợp pháp thường được xã hội bảo vệ và mức độ nhiều
hay ít chịu sự điều tiết của xã hội lí giải sự tiếp tục thừa kế và đòi hỏi sự tương trợ
và hợp tác lẫn nhau của cả đôi bên”. (G. Endrweit và G.Trommsdoff2002:222).
3.2. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trong điều 8 (Giải thích từ ngữ) của Luật Hôn nhân và gia đình (năm
2000) có định nghĩa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, như sau:
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và
gia đình: a) giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) giữa người nước
ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) giữa công dân Việt Nam với nhau mà
căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc
tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
4. Lí thuyết áp dụng
Với đề tài này tác giả đề tài nghiên cứu sử dụng lí thuyết trao đổi xã hội.

Áp dụng vào đề tài: Hoàn cảnh gia đình khó khăn là một nhân tố thúc đẩy sự
lựa chọn của những người phụ nữ này. Họ đã tính toán những lợi ích từ việc kết hôn
6
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
với người nước ngoài chẳng hạn như khi kết hôn với người nước ngoài họ dễ dàng
được theo ra nước ngoài mà không cần những thủ tục rườm rà cũng như chi phí
giảm rất nhiều. Vì thế có một số gia đình đã đồng ý li hôn giả để cho vợ được kết
hôn với người nước ngoài.
Các bậc cha mẹ, các cô gái này coi việc đi lấy chồng nước ngoài cũng giống
như đi làm xa vậy, có cô nói lấy chồng nước ngoài nếu có điều kiện sẽ đi làm thêm,
nếu không thì cũng nhờ đồng lương cuả chồng, tiết kiệm để gửi tiền về. Vì vậy, các
cô muốn có chồng giàu để có điều kiện phụ giúp gia đình. Điều này cũng có thể coi
là nguyên nhân có tác động mạnh mẽ tới sự quyết định lựa chọn của các cô gái dù
không nhiều. Nó cũng được xem là phương cách xóa đói giảm nghèo ở địa phương.
Thứ hai, bản thân những chi phí, phần thưởng lợi ích đều mang giá trị. Con
người hành động là thực hiện trao đổi những giá trị vật chất cũng như các giá trị phi
vật chất.
Cũng có nhiều cô gái không thực sự muốn lấy chồng hay kết hôn với người
nước ngoài nhưng do vấn nạn buôn bán phụ nữ đang ngày càng gia tăng một cách
đáng kể. Tính chất thương mại trục lợi của hoạt động môi giới gia tăng. Trong hoạt
động kết hôn với người nước ngoài, dịch vụ môi giới hôn nhân được hưởng lợi
không nhỏ. Mỗi cuộc kết hôn, các chú rể Hàn Quốc “chi” từ 200 - 320 triệu đồng.
Số tiền này qua nhiều trung gian, nhiều chi phí và khi đến tay gia đình cô dâu chỉ
còn lại 3-4 triệu đồng. Nguồn thu đó trở thành động lực thúc đẩy hoạt động môi
giới diễn ra ngày càng tinh vi với các hình thức phong phú để thu hút các cô gái trẻ
và gia đình. Chính vì thế động lực thúc đẩy nhiều phụ nữ lấy chồng xứ người là do
sự bày vẽ của môi giới.
Thứ ba, hành động có xu hướng lặp lại nếu như nó đạt được một lợi ích nhất
định nào đó trong quá khứ.
Có nhiều phụ nữ thấy bạn bè mình lấy chồng người nước ngoài có một cuộc

Thứ năm, trong quá trình hành động con người phải bỏ ra một chi phí nhất định và
đổi lại là lợi ích anh ta nhận được sẽ tương ứng với cái mà anh ta đã bỏ ra.
8
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Trong trường hợp này chẳng hạn như việc lựa chọn đối tượng người nước
nào sẽ có lợi nhất cho mình trong việc làm thủ tục đăng kí kết hôn.Nếu lấy chồng
Đài Loan, hai bên trai gái buộc phải có mặt phỏng vấn tại Sở Tư pháp và danh sách
phải niêm yết ở nơi cư trú.
Tiêu chuẩn hôn nhân có yếu tố nước ngoài của Hàn Quốc dễ dàng rộng mở
hơn rất nhiều nước khác trên thế giới. Cụ thể là cơ quan giải quyết thủ tục kết hôn
của Hàn Quốc không đòi hỏi phụ nữ Việt Nam đạt tới trình độ và hiểu biết nhất
định nào đó về ngôn ngữ, văn hóa bản địa, thời gian tiến hành các thủ tục kết hôn
cũng chóng vánh, tương đối đơn giản. Mặt khác các yêu cầu về thủ tục cho phép
phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc do phía Việt Nam quy định cũng khá
đơn giản thong thoáng
Tại đây, các cô gái chỉ việc mang hồ sơ đến Sở tư pháp để viết “ghi chú hôn
nhân”. Nếu các cặp vợ chồng này làm đăng ký kết hôn tại Lãnh sự quán Hàn Quốc
tại Việt Nam thì mỗi cô dâu cũng chỉ cần điền các thông tin cá nhân vào một mẫu
giấy in sẵn y như… tuyển dụng lao động.
Nhờ sự “thông thoáng” này các cô gái trẻ rất nhanh chóng được cấp visa để
lên máy bay về nhà chồng. Và làn sóng lấy chồng Hàn Quốc vì thế lan nhanh qua
các vùng quê, và xu hướng lấy chồng Hàn Quốc đang ngày càng gia tăng.
( />Tho/70040069/157/).
Cuối cùng, con người sẽ chống đối hoặc không tán thành khi lợi ích đạt
được không như anh ta mong đợi.
Thời gian gần đây, tại một số nơi ở ĐBSCL, việc kết hôn với người Đài
Loan bị xem như một “nạn” và bị lên án nhiều. Bởi vậy, những người dẫn mối quay
sang thị trường Hàn Quốc còn đầy tiềm năng.
Do tỷ lệ nam giới ở Hàn quốc cao hơn phụ nữ, phụ nữ của Hàn Quốc kén
chọn họ chẳng thà độc thân còn hơn là kết hôn với những người hoặc thấp quá hoặc

Cùng với đó, việc xác định rõ xu hướng kết hôn của phụ nữ Việt Nam kết
hôn có yếu tố nước ngoài sẽ giúp các nhà chính sách đưa ra những quyết định để
làm giảm thiểu các hậu quả từ việc kết hôn này. Đồng thời, làm tăng tính tích cực từ
việc kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam ngày nay.
5.2. Xu hướng lấy chồng ngoại quốc của phụ nữ Việt Nam
Ở nước ta trong những năm gần đây hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày
càng gia tăng do tác động của quá trình hội nhập kinh tế của đất nước và nhất là kể
từ khi Nhà nước có chính sách mở cửa thì các quan hệ giao lưu dân sự, kinh tế ngày
càng nhiều.
Chỉ tính từ năm 1994, khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh Hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài và Nghị định số 184-CP ngày 30/11/1994 đến đầu năm
2001, đã có 66.141 trường hợp kết hôn với người nước ngoài, mà chủ yếu là phụ nữ
Việt Nam kết hôn với nam công dân thuộc 40 nước khác nhau trên thế giới.
Tình trạng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài là những vấn đề đang gây
bức xúc trong đời sống xã hội. Hàng chục ngàn phụ nữ Việt Nam kết hôn với người
nước ngoài mỗi năm tạo nên “cơn sốt” lấy chồng ngoại. Những tổ chức môi giới tại
các nước trong khu vực, đặc biệt ở Đài Loan, Hàn Quốc đang sử dụng nhiều hình
thức chào mời kết hôn, rao giá cho các cuộc kết hôn với phụ nữ Việt Nam, các loại
quảng cáo như thế được đăng tải một cách công khai trên báo chí hoặc nơi công
cộng đang gây ra sự bất bình trong dư luận công chúng.
Bảng: Số cô dâu Việt ở 1 số nước châu Á (2007)
11
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể khẳng định rằng tỉ lệ số cô dâu kết hôn với
người nước ngoài trong những năm qua là khá cao. Và cao nhất phải kể đến Đài
Loan với gần 11 nghìn người.
Sau đây là xu hướng kết hôn của phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc tại
một số nước tiêu biểu.
5.2.1. Tại Đài Loan
Đài Loan được coi là điểm nóng trong cơn sốt lấy chồng ngoại quốc của phụ nữ

ngày 2 đến ngày 5/10/2005).
Tại Cần Thơ, theo số liệu thống kê của Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ cho thấy
số vụ kết hôn của phụ nữ Cần Thơ với người nước ngoài ngày càng tăng. Từ 2000
đến 2003, trong khi số phụ nữ kết hôn với người có quốc tịch Mỹ, Canađa và
Ôxtrâylia có xu hướng giảm thì số kết hôn với người Đài Loan và Hàn Quốc lại
tăng lên rất nhanh (năm 2000 có 2.502 vụ, 2001 có 2.610 vụ, năm 2002 có 2.817,
năm 2003 có 3.165 vụ).
5.2.2. Kết hôn với nam giới Hàn Quốc
13
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Theo số liệu của Bộ Tư pháp, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và công
dân Hàn Quốc phát sinh kể từ khi hai nước tăng cường sự hợp tác trong lĩnh vực
xuất khẩu lao động. Thời điểm bùng phát số cặp vợ chồng Việt-Hàn bắt đầu từ
2004.
Bảng: số cuộc hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam và nam giới Hàn Quốc
Năm Số ca kết hôn
2000 95
2001 134
2002 476
2003 1403
2004 2462
2005 5822
2006 10131
Nguồn: Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP Hồ Chí Minh
Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy kết hôn của cô dâu Việt Nam với chú rể
người Hàn Quốc bắt đầu năm 2003 với 1403 trường hợp. Số phụ nữ Việt Nam lấy
chồng Hàn Quốc và di trú đến Hàn Quốc đang gia tăng nhanh chóng. Số trường hợp
đã tăng lên trên 10 nghìn trường hợp.
6. Kết luận
Theo những gì đã phân tích ở trên, ta có thể nhận định rằng xu hướng kết

nữ kết hôn với người Đài Loan. Tạp chí xã hội học số 2- 2007.
8. Trần Mạnh Cát và cộng sự. 2007. Hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam và người Đài Loan
trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới số 2-2007.
9. Trần Thị Hồng. Kết hôn với người nước ngoài thông qua môi giới hôn nhân ở Việt
Nam hiện nay.
10. Hội thảo di cư và hôn nhân ở Châu Á. Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới số 4-2007.
16
Xu hướng kết hôn có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam hiện nay
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status