Pháp luật về môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài - Pdf 25


1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY
PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số : 60 38 60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ MÔI GIỚI KẾT HÔN CÓ YẾU
TỐ NƢỚC NGOÀI
6
1.1.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật về Môi giới kết hôn
có yếu tố nước ngoài
6

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI KẾT
HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM VÀ Ở
NƢỚC NGOÀI
32 5
2.1.
Các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến môi
giới kết hôn có yếu tố nước ngoài
32
2.1.1.
Quy định liên quan đến môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài
trong các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình
32
2.1.2.
Quy định liên quan đến môi giới kết hôn trong pháp luật chuyên
ngành khác
39
2.1.2.1.
Pháp luật kinh doanh
39
2.1.2.2.
Pháp luật hành chính
40
2.1.3.
Điều ước quốc tế
44
2.2.
Pháp luật của một số nước trên thế giới về môi giới kết hôn

64

Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI
KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
69
3.1.
Đánh giá thực trạng hoạt động môi giới kết hôn có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam
69
3.2.
Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam
liên quan đến môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài
81
3.2.1.
Phương hướng chung
81 6
3.2.2.
Các giải pháp cụ thể
84

KẾT LUẬN
93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
8

Danh môc c¸c biÓu ®å


hiÖu
biÓu
®å
Tªn biÓu ®å
Trang
3.1
Tỷ lệ kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài
đến năm 2010 theo quốc gia và vùng lãnh thổ
69
3.2
Số liệu về phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan
70
3.3
Số liệu về phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc
71
10
vụ hữu ích như: giúp những người có nhu cầu kết hôn có cơ hội gặp gỡ, tiếp
xúc, tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; hỗ trợ làm các thủ tục pháp lý liên quan
đến kết hôn có yếu tố nước ngoài,… nhưng con số này rất hiếm. Đã có không
ít những tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa MGKH để hoạt động mua bán
phụ nữ hoặc tổ chức, môi giới mại dâm.
Do pháp luật Việt Nam chưa thừa nhận hoạt động MGKH có yếu tố
nước ngoài là hoạt động hợp pháp nên mặc dù các hoạt động này trong những
năm gần đây phát triển rất mạnh nhưng hoàn toàn tự phát và có nhiều tiêu
cực. Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận lại vấn đề này: Thừa nhận hay không
thừa nhận hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài là hợp pháp? Xác định rõ
quan điểm về vấn đề này mới có thể xây dựng khung pháp lý phù hợp, kiểm
soát chặt chẽ hoạt động MGKH bằng công cụ pháp luật.
Từ cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, việc lựa chọn và nghiên cứu
đề tài "Pháp luật về môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài" tác giả mong
muốn góp phần phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện về thực trạng các quy
định của pháp luật Việt Nam về MGKH có yếu tố nước ngoài; phân tích kinh
nghiệm về quản lý MGKH quốc tế của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra
giải pháp cho vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu của Đề tài
Ở Việt Nam và trên thế giới vấn đề hôn nhân và gia đình (HN&GĐ)
có yếu tố nước ngoài được nhiều nhà luật gia quan tâm nghiên cứu dưới các
góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các công trình
này chỉ tập trung nghiên cứu về: quan hệ kết hôn, quan hệ ly hôn, quan hệ gia
đình, vấn đề nuôi con nuôi, có yếu tố nước ngoài như: Nguyễn Hồng Bắc
(2003), Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, Luận án tiến sỹ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội; Nông Quốc Bình (2003), Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn

có yếu tố nước ngoài. 12
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về MGKH có yếu
tố nước ngoài.
- Phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quản lý môi
giới hôn nhân quốc tế.
- Đánh giá một cách toàn diện về thực trạng hoạt động MGKH có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật
Việt Nam về quản lý hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: pháp luật về MGKH có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam và của một số nước trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về
MGKH có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế
giới về quản lý môi giới hôn nhân quốc tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử của triết học Mác- Lê Nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cũng như quan điểm đường lối
của Đảng và Nhà nước về chính sách pháp luật trong lĩnh vực HN&GĐ có
yếu tố nước ngoài.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể
như: thống kê, phân tích, tổng hợp, luật học so sánh,


1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI KẾT
HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI.
1.1.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh quan hệ Môi giới kết hôn có
yếu tố nƣớc ngoài
Kết hôn là quyền cơ bản của con người, pháp luật các quốc gia đều ghi
nhận: mỗi người đều có quyền lựa chọn, quyết định hạnh phúc và người bạn
đời riêng cho mình. Quyền tự kết hôn thể hiện ở chỗ con người có quyền tự
do kết hôn với người cùng dân tộc hoặc với người không cùng dân tộc; với
người cùng tôn giáo hoặc không cùng tôn giáo; với người cùng quốc tịch hoặc
không cùng quốc tịch. Pháp luật các nước đều tôn trọng và bảo vệ quyền tự
do kết hôn của con người.
Để hỗ trợ, tạo cầu nối cho con người thực hiện quyền kết hôn một cách
trọn vẹn, đầy đủ hơn; giúp những người có nhu cầu kết hôn có nhiều sự lựa
chọn cũng như có đầy đủ thông tin trước khi quyết định lựa chọn đối tượng để
kết hôn cho mình thì không thể thiếu vai trò của MGKH.
Vậy, thế nào là MGKH? Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết chúng ta
cùng tìm hiểu nghĩa của 02 từ: "mai mối" và "môi giới". Theo Từ điển tiếng
Việt, "mai mối" và "môi giới" đều có nghĩa là Người trung gian [36]. Tuy
nhiên, mai mối là hoạt động trung gian cho hai bên trai gái gặp gỡ với mục
đích tiến tới hôn nhân. Cũng diễn tả về hành vi này còn có từ "làm mai" và
"làm mối". Làm mai là "đứng trung gian trong việc hôn phối". Còn làm mối là
"đứng giữa làm môi giới cho hai bên trai gái" [36]. Ngoài ra, còn có diễn giải
khác đó là: Làm mối hay còn gọi là làm mai là việc đóng vai trò trung gian để
thu xếp nhằm tiến tới một cuộc hôn nhân. Người làm mối gọi là ông mối, bà 15
mối hay từ cổ là băng nhân. Làm mối là khâu quan trọng trong quá trình kết
hôn theo phong tục Việt Nam thời phong kiến và có nguồn gốc từ văn hóa

để thành công với mục đích kiếm được tiền, bất kể cả việc cung cấp thông tin
sai, lừa dối đôi bên dẫn đến hậu quả khôn lường, làm nhiều gia đình tan vỡ,
trong đó chịu thiệt thòi hơn cả là người phụ nữ. Nhiều vấn đề thuộc hành vi,
văn hóa, lối sống không được cung cấp đầy đủ và trung thực. Mặt khác,
chuyện "kết tóc xe duyên" của đôi bên trong trường hợp này cần có cơ quan tư
vấn chuyên nghiệp và cần tính đến những rủi ro trước khi đi đến quyết định.
Chính vì vậy, cần có các tổ chức MGKH hợp pháp, đáng tin cậy và
nguyên tắc đầu tiên phải là cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để khách hàng
có cơ sở tin cậy cùng với gia đình đưa ra quyết định đúng đắn cho cuộc hôn
nhân của mình.
Vậy, thế nào là một dịch vụ MGKH có yếu tố nước ngoài đáng tin cậy?
Không có câu trả lời chính xác tuyệt đối cho vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn có
những đặc điểm chung nhất để nhận biết một dịch vụ MGKH có yếu tố nước
ngoài đáng tin cậy, đó là: Dịch vụ này phải được cung cấp bởi một công ty, tổ
chức có đăng ký hợp pháp theo quy định của nước sở tại nơi công ty, tổ chức
đó có trụ sở; cam kết chịu trách nhiệm về tính trung thực, đầy đủ, toàn vẹn
của thông tin cung cấp; tuyệt đối giữ bí mật thông tin của khách hàng…
Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật chính là công cụ hữu hiệu nhất
để quản lý, định hướng xã hội. Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề
MGKH có yếu tố nước ngoài, tóm lược lại có hai luồng quan điểm chính: Một
là, tuyệt đối cấm hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài dưới mọi hình thức.
Hai là, thừa nhận hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài là hoạt động hợp
pháp và có cơ chế phù hợp để quản lý chặt chẽ hoạt động này. Hiện quan
điểm thứ hai đang được đại đa số các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý ủng hộ,
tác giả cũng nhất trí với quan điểm đó.
Theo quy định tại Điều 758, Bộ luật Dân sự năm 2005, quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài là: (i) Ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ
chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (ii) giữa các 18
chung, khoảng cách địa lý bị thu hẹp lại nhưng mặt trái của tiến bộ khoa học,
công nghệ lại chính là biến con người ngày càng lệ thuộc nhiều vào máy móc,
tất cả mọi hoạt động của con người gần như là một chu trình khép kín.
MGKH góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như: giải quyết sự mất cân
bằng về giới, tạo điều kiện thuận lợi cho những cuộc di dân từ nơi có điều
kiện kinh tế- xã hội chưa phát triển đến những vùng kinh tế - xã hội phát triển
hơn; thúc đẩy giao lưu giữa các nền văn hóa; tăng cường hội nhập kinh tế
quốc tế.
Từ những cơ sở lý luận về MGKH có yếu tố nước ngoài, thiết nghĩ, đã
đến lúc các nhà lập pháp Việt Nam cần xem xét lại việc nên hay không nên
thừa nhận hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài là hoạt động hợp pháp để
từ đó ban hành quy định pháp lý phù hợp để điều chỉnh hoạt động này.
1.1.2. Vai trò của Môi giới kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài trong xã
hội hiện đại
Hôn nhân là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm từ khi hình thành xã
hội loài người. Không có tộc người nào trên thế giới lại không coi trọng vấn
đề HN&GĐ. Hôn nhân không chỉ thuần túy là sự kết hợp giới tính mà còn
qua hôn nhân thể hiện những sắc thái văn hóa của một tộc người. Hôn nhân
có vai trò quan trọng tái sản xuất dân cư và góp phần cải thiện chất lượng
cuộc sống.
Hôn nhân xuyên quốc gia hay hôn nhân có yếu tố nước ngoài xét trên
bình diện thế giới và ngay cả ở Việt Nam không phải là một hiện tượng mới.
Hiện tượng này xuất hiện rất sớm, có lẽ cùng với quá trình di dân làm cho
tình trạng sống xen kẽ giữa các thành viên của các tộc người tăng dẫn đến sự
giao lưu văn hóa tộc người và dẫn đến "hôn nhân ngoại tộc" mà quá trình di
dân lại xảy ra rất sớm cách ngày nay hàng chục ngàn năm. Trong lịch sử Việt
Nam cũng đã từng xuất hiện những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài như

"hậu kết hôn". Ngoài ra, còn có trường hợp lợi dụng hình thức MGKH trá
hình để mua bán phụ nữ; tổ chức, môi giới mại dâm gây hậu quả nghiêm trọng.
Để hiểu sâu hơn về vai trò của MGKH có yếu tố nước ngoài, chúng ta
cùng tìm hiểu về lịch sử phát triển của nghề mai mối ở Việt Nam và một số
nước trên thế giới.

Trích đoạn Mụi giới kết hụ nở Trung Quốc Hoạt động mụi giới kết hụ nở Việt Nam KẾT LUẬN CHƢƠNG Quy định liờn quan đến mụi giới kết hụn cú yếu tố nƣớc ngoài trong cỏc quy định của phỏp luật về hụn nhõn và gia đỡnh Phỏp luật kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status