BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VÕ THỊ NGỌC DUNG
THỦ TỤC SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hồng Bắc
HÀ NỘI - 2011
LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới sự hướng dẫn tận tình và chu đáo của cô
Nguyến Hồng Bắc, các thầy cô giáo khoa Luật Quốc tế, khoa Sau đại học Trường Đại
học Luật Hà Nội.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Do những hạn chế về kiến thức, thời gian và kinh nghiệm nên luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý,
chỉ bảo của các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn trong quá
trình nghiên cứu và công tác sau này.
1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về thủ
22
tục sơ thẩm vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục
28
sơ thẩm vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
2.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án
28
2.2. Chuẩn bị xét xử
32
2.3. Phiên tòa sơ thẩm
40
2.4. Thủ tục sơ thẩm vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật một số
49
nước trên thế giới
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ
54
Luật Hôn nhân và gia đình
4. TTSTGQVALHCYTNN
Thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án ly hôn có
yếu tố nước ngoài
5.TAND
Tòa án nhân dân
6.TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
7. HĐXX
Hội đồng xét xử
8. VKS
Viện kiểm sát
9. LTTTP
Luật tương trợ tư pháp
10. HĐTTTP
Hiệp định tương trợ tư pháp
nhà nghiên cứu pháp luật. Trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, có thể thấy có một số
bài báo, công trình nghiên cứu giải quyết cơ sở lý luận và thực tiễn cho từng vấn đề liên
quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: Luận án Tiến sĩ luật học của Nông Quốc
2
Bình với đề tài “Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam” (năm 2003) ; Luận án Tiến sĩ luật học của Nguyễn Hồng Bắc với đề tài: “Pháp luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài”(năm 2003); sách tham khảo
của Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc (năm 2006): “Quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”; hoặc Luận án Tiến sĩ
luật học của Thái Công Khanh (2006) với đề tài: “Pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài”. Các luận án đã đề cập đến pháp luật điều chỉnh về mặt nội dung các
quan hệ có yếu tố nước ngoài. Về pháp luật tố tụng cũng có một số tác giả phân tích và đề
cập đến một số khía cạnh về thẩm quyền, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
như: Ly hôn có yếu tố nước ngoài và vấn đề thẩm quyền của Tòa án Việt Nam của Tiến sĩ
Đỗ Văn Đại, đăng trên tạp chí TAND, số 9/2009; Vài ý kiến về thẩm quyền giải quyết của
Tòa án Việt Nam đối với các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài của Th.S Nguyễn Hồng
Nam, đăng trên tạp chí TAND, số 10/2009; hay Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn
Thị Thuý với đề tài: “Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn có một bên đương sự ở
nước ngoài theo Luật tố tụng dân sự Việt Nam (2004). Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình nghiên cứu khoa học pháp lý độc lập và hệ thống về thủ tục sơ thẩm giải quyết
vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam.
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên có tính hệ thống và toàn
diện về thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
(TTSTGQVALHCYTNN) theo quy định của BLTTDS và các văn bản pháp luật liên
quan.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích
về
3
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ giải quyết những
vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về TTSTGQVALHCYTNN;
- Nghiên cứu khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về
TTSTGQVALHCYTNN;
- Phân tích pháp luật Việt Nam hiện hành về TTSTGQVALHCYTNN, các khó khăn
gặp phải trong thực tiễn áp dụng các quy định đó; nêu ra một số quy định pháp luật tố
tụng về TTSTGQVALHCYTNN của một số nước trên thế giới để làm cơ sở tham khảo
khi tác giả trình bày phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về các quy định tương ứng.
- Đưa ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TTSTGQVALHCYTNN
và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và tháo gỡ những khó khăn vướng mắc
trong thực tiễn xét xử của Tòa án.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
TTSTGQVALHCYTNN vừa tuân theo quy định của BLTTDS, vừa tuân theo các
quy định của Luật HN&GĐ và còn tuân theo các quy định đặc thù về yếu tố nước ngoài.
Trong phạm vi luận văn Thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn
đề: khái niệm, đặc điểm của TTSTGQVALHCYTNN, một số quy định đặc thù của
TTSTGQVALHCYTNN, thẩm quyền của Tòa án Việt Nam về giải quyết vụ án ly hôn có
yếu tố nước ngoài trong các trường hợp cụ thể; những qy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về TTSTGQVALHCYTNN từ giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án cho đến khi xét
xử tại phiên tòa sơ thẩm và các quy định sau phiên tòa; thực trạng giải quyết và tình hình
thụ lý và giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án một số tỉnh Trung
trung bộ: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Từ đó, luận văn chỉ ra các giải pháp hoàn
thiện và thực hiện pháp luật Việt Nam về TTSTGQVALHCYTNN.
quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn thực chất mối quan hệ vợ chồng đã
hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý nghĩa. Trong quan hệ tự do
hôn nhân, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì cũng
không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa.
Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ hiện tại,
giúp vợ chồng thoát khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải quyết được. V.I.
Lê-nin đã khẳng định: “Ly hôn không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia
đình, mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ
sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”[18, tr335].
Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau
là không giống nhau. Đối với những nước theo đạo giáo, cấm ly hôn vì họ cho rằng hôn
nhân do chúa hoặc do thánh tạo dựng, nên vợ chồng đã lấy nhau thì phải sống với nhau
suốt đời. Một số nước thì hạn chế quyền ly hôn, cho phép vợ chồng ly hôn nhưng đặt ra
những điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Cấm ly hôn hay hạn chế ly hôn đều là trái với
quyền tự do dân chủ. Khi bàn vấn đề này Lê-nin đã khẳng định: “Nếu ngay từ bây giờ,
không đòi hỏi quyền hoàn toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn
đối với giới bị áp bức, đối với phụ nữ”[18, tr163].
6
Thủ tục ly hôn thường là do một hoặc do cả hai bên yêu cầu Toà án có thẩm quyền
giải quyết, cũng có một số nước quy định chỉ cần đăng ký tại cơ quan hộ tịch khi vợ
chồng thuận tình ly hôn (ví dụ: Đài Loan, Nhật Bản). Ở nước ta, thẩm quyền giải quyết ly
hôn chỉ giao cho Toà án.
Xét về mặt pháp lý, thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các nghĩa vụ và
quyền giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật. Chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ
chồng (trong trường hợp giải quyết việc hôn nhân) mới có quyền yêu cầu Toà án giải
quyết việc ly hôn (Điều 85 Luật HN&GĐ năm 2000). Mặc dù, họ có quyền tự do trong
việc ly hôn nhưng quyền tự do ấy không nằm ngoài quy định của pháp luật. Bởi vì, khi vợ
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. b) Giữa người nước ngoài với nhau thường
trú tại Việt Nam . c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 100 thì: “ Các quy định của chương này cũng
được áp dụng đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà
một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”
Như vậy, theo các quy định trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài được hiểu trong các quan hệ hôn nhân sau đây:
- Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc quan hệ hôn nhân giữa các
công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Vấn đề đặt ra
là: người nước ngoài là người nào? Thế nào là công dân Việt Nam ? Như thế nào là định
cư ở nước ngoài? Người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi mà họ
đang cư trú. Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Điều 9 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP
ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định việc thi hành một số điểu của Luật HN&GĐ năm
2000 có yếu tố nước ngoài giải thích: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch
Việt Nam bao gồm: công dân nước ngoài và người không quốc tịch”.
Theo Luật Quốc tịch năm 2008, tại Điều 5 quy định: Công dân Việt Nam là người
có quốc tịch Việt Nam ; tại khoản 3 Điều 3 thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là
công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ
đó theo pháp luật nước ngoài. Theo quy định này có thể hiểu rằng, trong một số trường
hợp nhất định, pháp luật Việt Nam thừa nhận việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan
8
hệ hôn nhân và gia đình giữa các công dân Việt Nam với nhau theo pháp luật nước ngoài
trong một chừng mực nhất định.
Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [7]. Cũng
như số đông các nước trên thế giới hiện nay, Toà án Việt Nam thực hiện nguyên tắc hai
cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm.
“Sơ thẩm”, theo Đại từ điển tiếng Việt là “xét xử lần đầu một vụ việc ở Toà án cấp
thấp”[19]. Sơ thẩm dân sự là việc Toà án xét xử lần đầu một vụ việc dân sự. Tuy nhiên,
dưới góc độ pháp lý, để giải quyết một vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm không phải mọi
trường hợp Toà án đều phải thực hiện việc xét xử. Việc giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ
thẩm có thể trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau.
Vậy, vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài là một trong những loại việc thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Thủ tục này có những đặc điểm
chung của thủ tục giải quyết vụ án dân sự, đồng thời có những thủ tục riêng biệt xuất phát
từ tính chất đặc thù của loại việc hôn nhân gia đình nói chung và quy định đối với yếu tố
nước ngoài nói riêng.
Cơ sở của thủ tục sơ thẩm vụ án ly hôn nói chung là đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn
của vợ hoặc chồng được Toà án thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, quyền khởi kiện của các chủ
thể chỉ có thể làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Toà án khi việc khởi kiện phải
tuân thủ đúng và đủ các điều kiện kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện và tạm ứng án
phí. Kể từ thời điểm Toà án thụ lý vụ án sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể
tham gia vào quá trình giải quyết vụ án ly hôn và bắt đầu giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm.
Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án có căn cứ và chính xác thì yêu cầu của các
đương sự và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án phải được làm sáng
tỏ thông qua các chứng cứ, lý lẽ và căn cứ pháp lý. Do đó, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm,
các đương sự là người đưa ra yêu cầu và việc giải quyết vụ việc liên quan đến lợi ích của
chính họ nên đương sự là chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu của mình. Tuy nhiên, tuỳ theo pháp luật của mỗi nước về vai trò của Toà án
trong hoạt động tố tụng mà việc hỗ trợ của Toà án đối với việc thu thập chứng cứ của
đương sự được quy định ở mức độ khác nhau. Đối với những nước theo truyền thống tố
tụng tranh tụng (Anh, Hoa Kỳ) thì vai trò của các bên đương sự được đề cao còn Toà án
thực hiện với sự trợ giúp. Các nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi (Pháp), vai trò của
“yếu tố nước ngoài”. Do đó, ngoài việc phải tuân thủ đầy đủ các quy định vể thủ tục tố
tụng đối với việc giải quyết một vụ án ly hôn nói chung, thủ tục giải quyết sơ thẩm ly hôn
có yếu tố nước ngoài còn phải tuân thủ theo các quy định riêng biệt. Theo Luật HN&GĐ,
BLTTDS, các văn bản hướng dẫn về thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài và các Hiệp định
11
tương trợ tư pháp đã ký kết giữa Việt Nam với các nước ngoài, thủ tục giải quyết sơ thẩm
vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài có những đặc điểm sau:
- Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu vợ chồng
trong quan hệ hôn nhân đó đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
theo pháp luật Việt Nam, hoặc đã được hợp thức hóa lãnh sự và đã được ghi chú vào sổ
các thay đối về hộ tịch theo quy định tại Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của
Chính phủ (nay là Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ).
- Đơn ly hôn của đương sự ở nước ngoài phải được chứng thực hợp pháp. Nghĩa là
phải được hợp pháp hóa lãnh sự nếu đương sự là người nước ngoài hoặc phải được xác
nhận của cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước sở tại nếu đương sự là công dân
Việt Nam ở nước ngoài hoặc ít nhất phải được thân nhân của họ và đương sự trong nước
xác nhận.
- Việc tống đạt giấy tờ, tài liệu, quyết định, lấy lời khai, thu thập, cung cấp chứng
cứ đối với đương sự ở nước được yêu cầu và đối với nước được yêu cầu…phải được thực
hiện qua con đường uỷ thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu theo
quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước yêu cầu là thành viên hoặc thông
qua kênh ngoại giao.
- Vấn đề hoà giải trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài không được đặt ra, coi
như trường hợp không thể hoà giải. Do đó, Toà án không phải báo gọi đương sự nước
được yêu cầu về tham gia hoà giải.
- Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước được yêu cầu tham gia tố tụng tại
phiên toà mà chỉ thông báo cho họ biết việc Tòa án mở phiên toà.
Trong tư pháp quốc tế gọi là nguyên tắc “bảo lưu trật tự công cộng”.
- Ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Toà án Việt Nam khi giải quyết chỉ áp dụng luật
tố tụng dân sự Việt Nam [15,tr 307].
- Trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được thực
hiện theo quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVI của BLTTDS (quy định tại
khoản 1 Điều 405 BLTTDS). Trường hợp các chương này không quy định thì áp dụng
các quy định khác liên quan của BLTTDS như quy định về thủ tục khởi kiện và thụ lý, lập
hồ sơ, hoà giải, xét xử sơ thẩm, …của BLTTDS để giải quyết.
- Khi vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được tòa án Việt Nam thụ lý, giải quyết
theo đúng quy định về thẩm quyền thì thẩm quyền đó không thể bị thay đổi vì bất cứ lý do
gì kể cả khi đương sự thay đổi quốc tịch, thay đổi nơi cư trú hoặc có tình tiết mới làm cho
13
vụ án đó thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án khác của Việt Nam hoặc tòa án nước khác
(Điều 412 BLTTDS). Đây là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự quốc tế được
nhiều nước áp dụng để tránh tình trạng đương sự cố tình thay đổi quốc tịch, thay đổi nơi cư
trú hoặc tạo ra những tình tiết mới để lẩn tránh việc xét xử của tòa án.
1.2.2. Xác định năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng
dân sự của đương sự trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Theo các quy định BLTTDS và các văn bản pháp luật khác có liên quan quy định:
đương sự trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài phải có năng lực pháp luật tố tụng dân
sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự (Điểu 57 BLTTDS). Thông thường, cá nhân được
coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự khi đã từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng
lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của các Toà án và pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam cũng có quy định trường hợp ngoại lệ đối với người vợ từ đủ 17 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi trong việc ly hôn vẫn được coi có năng lực hành vi tố tụng dân sự về việc ly
hôn [36].
* Xác định năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự
Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
1.2.3. Vấn đề uỷ quyền
Tại mục IV, phần 15, công văn giải đáp của Toà án nhân dân tối cao số
16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 về một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động,
hành chính và tố tụng có ghi: “Theo quy định tại Điều 22 PLTTGQCVADS, thì chỉ trừ
việc ly hôn và huỷ kết hôn trái pháp luật, đương sự là công dân, người đại diện của đương
sự theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh này có thể làm giấy uỷ quyền cho luật sư hoặc
người khác thay mặt mình trong tố tụng”.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 73 BLTTDS: “…đối với việc ly hôn, đương sự
không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng” .
Như vậy, theo các quy định của pháp luật Việt Nam trước và sau khi có BLTTDS
thì đối với vụ việc ly hôn, các đương sự không được uỷ quyền cho người khác tham gia tố
tụng.
1.2.4. Vấn đề uỷ thác tư pháp
Theo thông lệ quốc tế và các hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt
Nam với các nước thì việc tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự giữa các quốc gia chủ
15
yếu được tiến hành qua việc uỷ thác tư pháp. Uỷ thác tư pháp được hiểu là việc tòa án của
một nước nhờ tòa án của nước ngoài thực hiện giúp những hành vi tố tụng riêng lẻ cần
thiết để bảo đảm giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài [GTTPQT,tr. 332].
Những hành vi tố tụng giữa các Tòa án gồm:
- Tống đạt cho bị đơn đang cư trú ở nước ngoài bản sao đơn kiện của nguyên đơn,
các giấy tờ, tài liệu do nguyên đơn cung cấp, giấy báo cho bị đơn biết ngày, giờ và nơi mở
phiên toà;
- Lấy lời khai của đương sự và người làm chứng liên quan đến vụ việc, mời người
làm chứng;
- Thu thập chứng cứ, tài liệu, xác minh những tình tiết của vụ việc;
pháp Việt Nam sẽ chuyển yêu cầu uỷ thác cho Bộ Tư pháp nước ngoài hữu quan để thực
hiện uỷ thác.
1.3. Thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài luôn là loại việc phức tạp, giải quyết khó khăn và nhiều
vướng mắc trong thực tiễn xét xử ở nước ta, đặc biệt là vấn đề thẩm quyền. Do đó, việc
nghiên cứu làm rõ: Khi nào Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài? Tòa án cấp nào có thẩm quyền xét xử? là những vấn đề rất cần thiết.
1.3.1. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
Theo Điều 42, BLDS năm 2005 về quyền ly hôn: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có
quyền yều cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”; Theo khoản 8, Điều 8 Luật HN&GĐ năm
2000: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo
yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Như vậy, theo các văn bản này,
Toà án có thẩm quyền giải quyết ly hôn. Việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án ly
hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc vừa phải căn cứ vào các điều ước quốc tế đã ký
kết hoặc gia nhập vừa phải căn cứ vào pháp luật trong nước. Đối với các nước có hiệp
định tương trợ tư pháp với Việt Nam thì việc xác định thẩm quyền của tòa án giải quyết
vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tuân theo các quy định trong các hiệp định tương trợ tư
pháp đó. Đối với các nước chưa có hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam thì phải căn
cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam quy định tại Chương III BLTTDS, Luật
HN&GĐ và các văn bản pháp luật khác liên quan để xác định thẩm quyền của tòa án
trong việc giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài. Căn cứ vào các quy định pháp
luật của Việt Nam có thể chia ra các trường hợp cụ thể như sau:
1.3.1.1. Ly hôn có một bên là công dân Việt Nam
17
Ly hôn có yếu tố nước ngoài khi có một bên là công dân Việt Nam có thể là một
trong ba trường hợp sau: cả hai bên đều sống ở Việt Nam ; cả hai bên đều sống ở nước
Như vậy, khi công dân Việt Nam cư trú ở Việt Nam thì Toà án Việt Nam có thẩm
quyền giải quyết ly hôn và ở đây người nước ngoài có thể là nguyên đơn hay bị đơn.
Từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực, Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải
quyết khi một bên là công dân Việt Nam và không cần phải xem xét là vợ hay chồng có
nơi cư trú ở Việt Nam hay không. Theo điểm g, khoản 2, Điều 410 BLTTDS, Tòa án Việt
Nam giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài khi: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị
đơn là công dân Việt Nam ”. Như vậy, theo Bộ luật tố tụng dân sự, chỉ cần một bên là
công dân Việt Nam thì Tòa án Việt Nam giải quyết ly hôn. Do đó, khi một bên sống ở
Việt Nam thì Tòa án Việt nam có thẩm quyền giải quyết. Nhưng không có thẩm quyền
riêng biệt như trường hợp hai bên sống ở Việt Nam .
- Cả hai sống ở nước ngoài
Theo BLTTDS, Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khi một bên là công
dân Việt Nam ngay cả khi hai vợ chồng không thường trú ở Việt Nam và không phân biệt
ai là bị đơn và ai là nguyên đơn: Theo điểm g, khoản 2, Điều 410, Tòa án Việt Nam quyết
ly hôn có yếu tố nước ngoài khi: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân
Việt Nam”. Như vậy theo BLTTDS, chỉ cần một bên là công dân Việt Nam thì Tòa án
Việt Nam giải quyết ly hôn. Tiêu chí để Tòa án Việt Nam có thẩm quyền là một bên trong
vụ ly hôn có quốc tịch Việt Nam bất kể nơi cư trú của họ là ở đâu.
Như vậy, khi ly hôn có ít nhất một bên là công dân Việt Nam , lúc đầu văn bản
pháp luật Việt Nam còn hạn chế thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nhưng xu hướng
chung ngày nay là Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết. Theo BLTTDS thì Toà án
Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khi một bên là người Việt Nam; người này có thể là
bị đơn hay nguyên đơn.
BLTTDS quy định là Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khi nguyên đơn
hay bị đơn là “công dân Việt Nam”. Mặc dù Bộ luật tố tụng dân sự không nêu rõ, thiết
nghĩ tư cách “công dân Việt Nam” cần phải xác định tại thời điểm thụ lý giải quyết. Nếu
trước đây họ không là công dân Việt Nam nhưng tại thời điểm thụ lý giải quyết họ là công
dân Việt nam thì điều kiện này được thoã mãn. Ngược lại, nếu trước đây họ là người Việt
Nam nhưng tại thời điểm thụ lý giải quyết họ không còn tư cách công dân Việt Nam nữa
nước ngoài; b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) Giữa công dân
Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
20
Như vậy, vấn đề ly hôn giữa hai người không phải là công dân Việt Nam nhưng
chỉ có một bên có nơi thường trú tại Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2000 không đề cập
tới. Trong trường hợp này Toà án Việt Nam có thẩm quyền tài phán hay không?
Theo điểm b, phần 2.3, Mục II Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp
dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình,
khi hai bên đều không phải là công dân Việt Nam và chỉ một bên thường trú ở Việt Nam, Tòa
án Việt Nam không có thẩm quyền tài phán.
Theo BLTTDS tại điểm b, khoản 2, Điều 410 quy định “Toà án Việt Nam giải
quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau đây: Bị đơn là
công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt
Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam”. Quy định này áp dụng cho mọi trường hợp
nên cũng được áp dụng cho trường hợp ly hôn. Vậy, khi hai bên đều là người nước ngoài,
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết ly hôn khi bị đơn cư trú, làm ăn, sinh sống ở
Việt Nam.
- Cả hai không còn sống ở Việt Nam
Đặt trường hợp Tòa án Việt Nam được yêu cầu giải quyết ly hôn khi hai người
không phải là công dân Việt Nam và không sống ở Việt Nam . Ví dụ: A và B là công dân
nước C sống một thời gian ở Việt Nam . A đã về nước và B ở lại Việt Nam . B xin ly hôn
trước Tòa án Việt Nam. Nhưng sau khi ly hôn ly hôn và trước khi ly hôn được giải quyết,
B về nước hay sang nước khác sống. Vậy, ly hôn ở đây có yếu tố nước ngoài nhưng vào
lúc Tòa án giải quyết thì không còn sống ở Việt Nam nữa. Hoặc có thể xảy ra, vào lúc xin
ly hôn cả hai đều không sống ở Việt Nam nhưng họ xin ly hôn ở Việt Nam vì họ có tài
sản ở Việt Nam . Trong hai trường hợp trên, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết
về Việt Nam xin ly hôn.
Khi Bộ luật tố tụng dân sự ra đời, theo điểm g, khoản 2, Điều 410 BLTTDS, chỉ
cần: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam ” là Tòa án Việt
Nam có thẩm quyền giải quyết.
1.3.2. Cấp Toà án có thẩm quyền xét xử
Trước khi BLTTDS có hiệu lực. Theo khỏan 2 Điều 11 PLTTGQTCCVADS, “Tòa
án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án khi có đương sự là người nước
ngoài hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài”. Điều này cũng được thể hiện trong Luật
HN&GĐ năm 2000, quy định tại đoạn 1, khoản 3, Điều 102. Như vậy, theo các văn bản
trên, Toà án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết thủ tục
sơ thẩm ly hôn có yếu tố nước ngoài.